MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC DÂN GIAN
VỚI VĂN HỌC VIẾT TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC
DÂN TỘC
Đây là một trong những vấn đề cơ bản của lịch sử văn học dân tộc mà khoa
nghiên cứu văn học có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ. Bởi lẽ lịch sử văn học dân
tộc bao gồm hai bộ phận chính dựa theo hai phương thức sáng tác khác nhau,
truyền miệng và thành văn, nhưng lại còn liên quan đến hai loại hình tác giả có
vị trí xã hội, hoàn cảnh sinh sống, quan niệm nhân sinh, tư tưởng, tình cảm, kể
cả hoàn cảnh sáng tác, tâm thế sáng tác, động cơ sáng tác có mặt khác nhau.
Hai bộ phận văn học đó có quan hệ với nhau. Nhưng việc nhận thức về mối
quan hệ này trong thực tiễn nghiên cứu lại có sự khác nhau và cũng có quá
trình vận động tiến lên. Phần viết sau đây là muốn đưa ra một cách nhận thức
tối ưu trên cơ sở quan sát, tổng kết, rút kinh nghiệm từ những gì đã có ở những
người đi trước.
♦ ♦ ♦
Đúng là chưa bao giờ văn học dân gian cổ truyền của dân tộc lại sống dậy huy
hoàng và được nhận thức sâu sắc về giá trị và vai trò của nó như trong thời đại
ngày nay.Trong những thành tựu hiện đại về việc nghiên cứu văn học dân gian
cổ truyền của dân tộc, có một luận điểm khoa học cực kỳ quan trọng được
nhiều người thừa nhận là: chính văn học dân gian là nền tảng của sự phát triển,
kết tinh của nền văn học dân tộc. Luận điểm này vừa là sự khẳng định vai trò
của văn học dân gian, vừa là điều cốt lọi nhất khi nói về mối quan hệ giữa văn
học dân gian và văn học viết,vừa là phương pháp luận đối với việc nghiên cứu
lịch sử văn học dân tộc nói chung. Luận điểm này xét đến cùng là dựa trên qui
luật cơ bản về vai trò của nhân dân Việt Nam trong lịch sử Việt Nam mà cũng
đến thời đại cách mạng đã thành công, quan điểm nhân dân làm chủ đất nước
đã trổi dậy với tính chất chính thống, đặc biệt là trong giai đoạn chống Mỹ cứu
nước vừa qua mới như được phát hiện lại, nhận thức lại một cách đầy đủ hơn.
Dĩ nhiên nó còn phải được tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn trong tương lai.
Trước thời đại cách mạng thành công, một số vị thức giả như Võ Liêm Sơn(1),
Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Trọng Thuật(2) đã nêu cao vai trò “tảng móng,
của lịch sử văn học dân tộc. Vấn đề tiếp theo ở đây là làm sao miêu tả, chứng
minh, khôi phục lại được dấu vết cụ thể của văn học dân gian nguyên thuỷ
từng tồn tại và chi phối, từng làm cơ sở kết tinh tư tưởng thẩm mỹ trong nền
văn học viết ra đời và phát triển về sau. Chắc chắn là có trạng thái đơn giản,
trực tiếp dễ thấy, có trạng thái tinh vi, phức tạp, gián tiếp khó thấy hơn nhưng
chưa hẳn đã kém quan trọng hơn. Thật ra ở đây cũng không thể hiểu vấn đề vai
trò của văn học dân gian nguyên thuỷ đối vơí nền văn học viết về sau một cách
hẹp hòi theo hướng hạn chế nội hàm của khái niệm văn học dân gian chỉ còn
lại là những văn bản được ghi chép lại như là cái bóng của một hình thức vốn
tồn tại như một cơ thể sống và có quan hệ chằng chịt,gắn bó với nhiều hình
thái của văn hoá sơ khai như trò chơi,lễ hội,kể cả phong tục.
Sự xuất hiện của nền văn học dân gian trước khi có nền văn học viết và tính
chất ngọn nguồn, làm nền của nó đối với nền văn học viết ra đời sau nó, thật ra
là qui luật phổ biến trong lịch sử văn học của mọi nước trên thế giới.Lịch sử
văn học Việt Nam ở phương diện này không có gì là đặc thù. Nhưng lịch sử
văn học Việt Nam sẽ có qui luật đặc thù ở chỗ: sau khi có văn học viết rồi thì
văn học dân gian đã không teo đi, ngược lại vẫn tồn tại như một giòng riêng và
phát triển, do đó vẫn tiếp tục và tăng cường vai trò làm nền cho sự kết tinh của
văn học viết. Tại sao có hiện tuợng đó? Có lý do xã hội nhưng trực tiếp là
thuộc lý do văn tự. Nền văn học viết Việt Nam bắt đầu bằng văn học chữ
Hán(4). Chữ Hán vốn là chữ viết của Trung Hoa, được bọn xâm lược nhà Hán
du nhập vào nước ta từ đầu công nguyên nhằm làm công cụ văn hoá nô dịch.
Từ lâu chúng ta vẫn chưa biết gì đáng kể về tình hình người Việt Nam tiếp
nhận thứ chữ Hán đó trong suốt thời kỳ bị Bắc thuộc, ngoài một số sự kiện
từng được sử sách ghi chép gồm: việc một số quan lại Trung Hoa trên đất Việt
như Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, Tích Quang truyền bá Hán học,việc một số người
Việt sang học hành và làm quan ở Trung Hoa như Lý Tiến, Lý Cầm , việc
xuất hiện một số tác phẩm Phật giáo được viết bằng chữ Hán. Do đó, đến nay
khoa văn học sử vẫn đang tạm phải ghi nhận sự xuất hiện của nền văn học viết
bằng chữ Hán ở nước ta là từ thế kỷ 10(5). Nhưng ai là người Việt Nam có thể
loạt vấn đề sau đây:
1) Vấn đề định nghĩa về văn học dân gian.
Định nghĩa về văn học dân gian có lịch sử riêng của nó. Từ một cách gọi, một
cách duy danh nhưng chưa định nghĩa như Nguyễn Du là “thôn ca”, là “tang
ma ngữ” (thôn ca sơ học tang ma ngữ - Thanh minh ngẫu hứng) đến một
chương “Dẫn luận” gồm phần “Giới thuyết - Những đặc trưng của văn học dân
gian” trong giáo trình Văn học dân gian của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân
Diên thuộc tủ sách Đại học Tổng hợp Hà nội (nay là Đại học khoa học xã hội
và nhân văn, Đại học quốc gia Hà nội), xuất bản năm 1972, rõ ràng công việc
định nghĩa về văn học dân gian đã trải qua hai giai đoạn của nhận thức: cảm
tính và lý tính, phản ánh hai giai đoạn phát triển khoa học ở nước ta nói chung:
trực cảm hỗn hợp và duy lý phân tích. Riêng về giai đoạn nhận thức lý tính đối
với văn học dân gian, tự nó cũng có một quá trình từ đơn giản đến phong phú,
từ phiến diện đến hoàn chỉnh. Thông thường các định nghĩa được triển khai
trên hai bình diện chính: những thuộc tính nội tại (tính truyền miệng, tính tập
thể ) và những thuộc tính liên quan tới đời sống văn hoá xã hội đã góp phần
sản sinh ra văn học dân gian. Gần đây, khái niệm văn học dân gian đã được
giới thuyết với một nội hàm có tính tổng hợp,nguyên hợp. Văn học dân gian
không chỉ có phần lời mà còn có sự gắn bó giữa lời với nhạc và vũ, với văn
hoá dân gian nói chung. Do việc giới thuyết văn học dân gian với một nội hàm
được mở rộng và có tính tổng hợp, nguyên hợp như vậy mà dường như có sự
khập khiễng giữa thuật ngữ “văn học dân gian” với nội hàm mà nó phải chứa.
Phải chăng, để tránh sự khập khiễng đó mà nhiều người lại chuyển sang dùng
thuật ngữ “văn hoá dân gian”, “ phôncơlo”.
Luận điểm về vai trò làm nền của văn học dân gian đang cần làm sáng tỏ ở đây
quả là có liên quan mật thiết tới định nghĩa về văn học dân gian như trên. Nếu
định nghĩa văn học dân gian chỉ là một số thể tài quen thuộc và chỉ là ở lời mà
không thấy tính chất toàn diện, tính tổng hợp, nguyên hợp, trạng thái tồn tại
của nó như một cơ thể sống thì làm sao nhìn rõ được mối quan hệ giữa nó với
nền văn học viết để từ đó mà phát hiện tiếp về vai trò làm nền của nó. Ví như
tình trạng chỉ chú ý đến vai trò của tập thể trong sáng tác văn học dân gian theo
quan điểm trừu tượng phi giai cầp về con người.Có tình trạng xác định tác giả
theo quan điểm đẳng cấp,giai tầng mà ở đấy lại có sự tranh chấp trong nôị
dung kết luận cụ thể.Trước 1975,trong khi phần đông các nhà nghiên cứu theo
quan điểm mác-xit ở miền Bắc gần như đã thống nhất với nhau trong kết luận
tác giả văn học dân gian là nhân dân, là bình dân, là quần chung, là dân chúng
lao đông thì đó đây ở miền Nam lại có kết luận cho rằng tác giả văn học dân
gian chỉ là các nhà nho, các sĩ phu.Vậy bên nào đúng, bên nào sai? Hay bên
nào cũng vừa có cái đúng vừa có cái chưa đúng?
Ơ đây, quả lại có một số còn điều phải làm rõ thêm:
Nội hàm có tính lịch sử cụ thể của khái niệm bình dân(hoặc dân chúng,
hoặc quần chúng, hoặc nhân dân lao động) là gì?
Vai trò của trí thức bình dân có hay không trong việc sáng tác văn học
dân gian?Có ở mức độ nào trong tương quan với vai trò của quần chúng
lao động?
Những trí thức khác không thuộc trí thức bình dân liệu có vai trò gì trong
việc sáng tác văn học dân gian?
Chúng ta vẫn bắt gặp tình trạng nói tác giả văn học dân gian là bình dân, là
quần chúng lao đông nhưng bỏ không giới thuyết nội hàm khái niệm hoặc có
giới thuyết thì lại chưa chú ý đầy đủ đến tính lịch sử cụ thể của nội hàm khái
niệm .Trong bài “ Để có thể nắm bắt được thực chất của văn học dân gian”,tác
giả Đinh Gia Khánh đã cố gắng giới thuyết chu đáo và phù hợp với thực tiễn
sinh động hơn. Tuy vậy, sự chú ý của ông cũng đang tập trung ở phạm vi thời
đại phong kiến mà chưa chú ý đến những thời “tiền phong kiến”, “hậu phong
yếu lại muốn bộc lộ bản chất giai cấp của hai loại hình văn học đó. Loại thứ
nhất là của quần chúng bị áp bức. Loại thứ hai là của tầng lớp trên trong xã hội
xưa. Trong thực tế nghiên cứu văn học lâu nay, đó đây hình như có xu hướng
đối lập một cách cực đoan, giả tạo hai loại hình văn học này. Sự thật thì quan
hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là quan hệ hai mặt: vừa đối lập vừa
tương hỗ. Trong thực tiễn nghiên cứu, từng có khuynh hướng chú ý nhiều và
chú ý một cách máy móc tới mặt thứ nhất mà không thấy hoặc coi nhẹ mặt thứ
hai. Để thấy rõ mặt thứ hai, cần biết cùng với thuật ngữ phôncơlo (folklor) còn
có thuật ngữ phôncơlôric (folklorique: tính chất dân gian) để chỉ hiện tượng
những tác phẩm văn học viết (văn học bác học) có nội dung, có yếu tố văn học
dân gian, ghi chép nội dung văn học dân gian ví như Việt Điện u linh tập của
Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp Thuật ngữ
phôncơlôridê (folkloríser: dân gian hoá) để chỉ hiện tượng một tác phẩm văn
học viết hoặc một bộ phận của một tác phẩm văn học viết chuyển nhập vào kho
tàng văn học dân gian.Truyện Kiều của Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu cho
hiện tượng một tác phẩm văn học bác học đã được dân gian hoá một cách cao
độ hiếm có. Nó được dân gian hoá bằng nhiều phương diện, nhiều hình thức
biểu hiện trong đó chuyện bói Kiều là điều đáng nói nhất. Một số tác phẩm
từng được coi là ca dao như bài Cảnh Tây Hồ (Gíó đưa cành trúc la đà/ Tiếng
chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương ) mà nay đã biết tác giả của nó là Dương
Khuê, bài “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương )
mà nay biết tác giả của nó là Trần Tuấn Khải chính là hiện tượng một tác
phẩm văn học viết đã được dân gian hoá. Sơ bộ có thể nói mối quan hệ tương
hỗ giữa văn học dân gian với nền văn học viết đã diễn ra theo qui luật này: lúc
nào sức sống của dân tộc, của nhân dân trổi dậy thì lúc đó văn học dân gian và
những bộ phận tiến bộ trong văn học viết xích gần lại với nhau.Hiện tượng
phôncơloric và phôncơloridê càng có điều kiện bộc lộ rõ rệt. Thực tiễn văn học
viết và văn học dân gian ở giai đoạn nửa sau thế kỷ 18, ở nửa sau thế kỷ 19
chứng minh cho điều chúng ta đang nói. Vấn đề là cần tổng kết một cách đầy
đủ các dạng phôncơloric và phôncơloridê trong lịch sử văn học dân tộc cụ thể
quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết sẽ cao hơn vì với văn tự chữ
quốc ngữ dù sao đối với quần chúng cũng dễ chiếm lĩnh hơn so với chữ Nôm
đặc biệt là so với chữ Hán. Mà về thực tế, sơ bộ cũng thấy như vậy qua mấy
hiện tượng tiêu biểu như sau:
- Dùng chữ quốc ngữ để sưu tầm ghi chép văn học dân gian. Công việc này bắt
đầu với Trương Vĩnh Ký từ nửa sau thế kỷ XIX bằng các tác phẩm như
Chuyện đời xưa, Chuyện khôi hài,được tiếp tục với một số người ở nửa đầu thế
kỷ XX như Nguyễn Văn Ngọc (ví dụ Truyện cổ nước Nam, Đông Tây ngụ
ngôn, Để mua vui). Đặc biệt từ sau 1954 thì công việc này đã đạt tới những
thành tựu bề thế chưa từng có. Trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ văn học
dân gian bao gồm văn học dân gian của người Kinh, đặc biệt là văn học dân
gian của các dân tộc ít người lại được sưu tầm,thành văn hoá như trong thời đại
ngày nay do có chữ quốc ngữ nhưng quan trọng hơn là do ý thức của con
người một khi đã tự giác sâu sắc về kho báu văn học dân gian.
- Khai thác kho tàng văn học dân gian trong khi sáng tác văn học hiện đại.
Điều này thể hiện rõ ở hai hình thức sau: a) Tìm nguồn cảm hứng cho thơ ca
bằng cách đưa thơ ca trở về tắm mát trong suối dân ca. Phong dao trong thơ ca
Tản Đà, Trần Tuấn Khải là tiêu biểu cho hai hiện tượng phôncơloric và
phôncơloridê trong mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian. b) Viết
tiểu thuyết huyền thoại và tiểu thuyết lịch sử bằng cách khai thác nguồn dạ sử
vốn là sản phẩm thuộc phạm trù văn học dân gian. Tiểu thuyết Qủa dưa đỏ của
Nguyễn Trọng Thuật, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử ở nửa đầu thế kỷ XX tiêu
biểu là của Nguyễn Tử Siêu, đã nói lên điều đó. Hiện tượng này sẽ được tiếp
tục trong tình hình văn học sau ngày cách mạng thành công.
♦
Những gì được trình bày trên đây thực tế chỉ mới là sự luận bàn trên cơ sở văn
học của dân tộc Kinh với tư cách là nền văn học chủ công của lịch sử văn học
dân tộc. Do đó một câu hỏi vẫn phải đặt ra là: với một số dân tộc ít người khác
đã có chữ viết riêng và ít nhiều có văn học viết riêng thì mối quan hệ giữa v ăn
học dân gian và văn học viết đó là thế nào? Thêm nữa giữa văn học dân gian
nghĩa là nhân dân chưa làm chủ được gì trong cuộc sống nói chung, trong văn
hoá,văn học nói riêng. Từ thực tế đó, sẽ có sự hoà quyện giữa văn học của mọi
tầng lớp nhân dân trong một đất nứơc.Và như thế thiết tưởng cũng khó nói đến
cái gọi là vai trò làm nền của văn học dân gian đối với nền văn học viết như ở
các thời đại trước.