luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ĐẢNG LÃNH đạo GIẢI QUYẾT mối QUAN hệ GIỮA độc lập dân tộc và CHỦ NGHĨA xã hội GIAI đoạn 1986 2001 - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ĐLDT và CNXH là mục tiêu cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam, là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt trong đường lối của Đảng, là nguồn gốc, nguyên nhân đưa đến mọi thắng lợi
của cách mạng Việt Nam từ khi có sự lãnh đạo của Đảng.
Tổng kết quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm, Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nêu rõ: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân
tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo
đảm vững chắc cho độc lập dân tộc” [15, tr.4].
Công cuộc đổi mới đất nước kể từ (12/1986) đến nay diễn ra trong bối cảnh tình hình
thế giới và khu vực có nhiều biến đổi phức tạp. Hệ thống XHCN lâm vào khủng hoảng,
đặc biệt vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 các nước XHCN ở Liên Xô, Đông Âu
sụp đổ. Đảng ta trong đường lối, quan điểm cũng như trong hành động đã dứt khoát xác
định dù trong hoàn cảnh nào cũng phải tiến hành đổi mới vì ĐLDT gắn liền với CNXH.
Đó là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta, là quy luật phát triển của cách mạng
Việt Nam. Sự khẳng định đó đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng và
phẩm chất cao quý của nhân dân trước những thử thách lớn.
Thực hiện đường lối đổi mới vì ĐLDT và CNXH Đảng và nhân dân ta đã vượt qua
nhiều khó khăn thử thách, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết đúng đắn các
mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH và đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào việc


củng cố vững chắc nền ĐLDT, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH
của nước ta trong suốt quá trình đổi mới.
Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa
ĐLDT và CNXH còn nhiều vấn đề bất cập; sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành,
các địa phương trong giải quyết các mối quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
còn nhiều hạn chế. Trong nhận thức cũng như trong hành động của một bộ phận không ít
cán bộ, đảng viên và nhân dân còn có biểu hiện mơ hồ, lệch lạc về ĐLDT và CNXH về

Làm rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, tính độc lập sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo
giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH từ 1986 đến 2001. Từ đó chỉ ra những
thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm, góp phần vào việc vận
dụng giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong tình hình mới hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ yêu cầu khách quan và chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa
ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến 2001.
- Làm rõ quá trình nhận thức và chỉ đạo của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa
ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến 2001.


- Nêu lên những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm Đảng
lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong những năm đổi mới từ 1986
đến 2001.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết mối
quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi mới.
* Phạm vi: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong thời gian từ 1986 đến 2001, tuy nhiên
để đảm bảo tính kế thừa có hệ thống, luận văn có đề cập đến một số sự kiện liên quan
trước 1986.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về ĐLDT và CNXH.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, luận văn chủ yếu vận dụng
phương pháp chuyên ngành, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, đồng
thời sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, thống kê, so sánh, phân kỳ, lịch
đại, đồng đại.
6. Ý nghĩa của luận văn

tộc bao giờ cũng gắn với giai cấp, không thể tách dân tộc khỏi giai cấp, không bao giờ có
dân tộc chung chung. Mỗi giai cấp đều có quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và giải
quyết vấn đề dân tộc theo lập trường của giai cấp đó. Ở mỗi thời đại khác nhau bao giờ
cũng có một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm, giai cấp đó có khả năng đứng ra giải quyết
vấn đề dân tộc và giương cao ngọn cờ dân tộc theo quan điểm giai cấp mình để đưa dân
tộc tiến lên. Ở thế kỷ XVI - XVII khi giai cấp phong kiến lỗi thời lạc hậu thì vấn đề dân
tộc gắn với giai cấp tư sản, lúc này giai cấp tư sản đứng ở vị trí trung tâm, có khả năng
giải quyết vấn đề dân tộc theo xu hướng dân tộc tư sản và giai cấp tư sản là giai cấp có
khả năng giương cao ngọn cờ dân tộc, đưa dân tộc tiến lên.
Khi CNTB chuyển sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, giai cấp tư sản mất hết vai trò tích
cực, vai trò trung tâm của lịch sử, chúng tăng cường áp bức bóc lột, kìm hãm sự phát
triển của dân tộc, sẵn sàng hy sinh lợi ích dân tộc. Mặt khác chúng ra sức xâm lược, áp
bức các dân tộc khác, mở rộng thống trị ra ngoài biên giới quốc gia dân tộc, cấu kết với
các thế lực phản động để buộc các dân tộc khác phải sống trong chế độ lạc hậu, cực khổ
tối tăm. Quan điểm của Mác-Ăngghen lúc này chỉ rõ: “Hãy xoá bỏ nạn bóc lột người thì
nạn dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các
giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng
thời mất theo” [40, tr.565].
Khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, vấn đề dân tộc đã trở thành dân tộc thuộc
địa. CNĐQ lúc này vừa là kẻ thù của giai cấp vô sản vừa là kẻ thù của các dân tộc bị áp


bức. Lênin nhắc lại khẩu hiệu: “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết
lại” [37, tr.97]. Đặc biệt sau cuộc cách mạng Tháng Mười năm 1917, giai cấp vô sản đã
thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình là lật đổ CNTB đưa dân tộc phát triển đi
lên CNXH. Vấn đề dân tộc lúc này được trao vào tay giai cấp công nhân, là giai cấp duy
nhất có khả năng giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, kết hợp lợi ích chân chính của giai
cấp mình với lợi ích chung của dân tộc. Đó là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đưa dân tộc
tiến lên CNXH và CNCS. Với xu hướng đó quan điểm của Stalin nêu rõ: các Đảng Cộng
sản và giai cấp công nhân hãy giương cao ngọn cờ dân tộc, dân chủ mà tiến lên. Quan

cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự
nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới” [43, tr.416].
Vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của
chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, Người đã từng khẳng định rằng, chỉ có
CNXH và CNCS mới có thể giải quyết triệt để vấn đề ĐLDT, mới có thể đem lại tự do và
hạnh phúc thực sự cho mọi người, cho tất cả các dân tộc và toàn thể loài người trên trái
đất; chỉ có CNXH và CNCS mới có thể xoá bỏ vĩnh viễn ách áp bức, bóc lột và thống trị
của CNTB, mới thực hiện được sự giải phóng hoàn toàn và triệt để đối với giai cấp công
nhân và nhân dân lao động của tất cả các dân tộc trên thế giới, tiến tới tự do, dân chủ,


công bằng và bình đẳng cho mọi người. Chính vì vậy, Người đã đưa ra kết luận quan
trọng:
Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của
cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát
triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi
của cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của các dân tộc gắn liền với sự ủng hộ và giúp đỡ
tích cực của phe xã hội chủ nghĩa và của phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ
nghĩa” [48, tr.304 - 305].
Đồng thời, Người khẳng định xu thế khách quan đi lên CNXH của các dân tộc “sớm
hay muộn, tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội” [46, tr.442].
Điểm khác biệt căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ĐLDT so với các quan
điểm của các sĩ phu yêu nước tiền bối là ở chỗ: Người đặt cách mạng giải phóng dân tộc
vào quỹ đạo của cách mạng vô sản do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, gắn mục
tiêu giải phóng dân tộc (giành độc lập) với các mục tiêu của giải phóng giai cấp (mục tiêu
của CNXH); đặt ĐLDT vận động và phát triển theo xu hướng đi tới CNXH; CNXH là
bước phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc. Khẳng định mối quan hệ gắn
bó giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng XHCN. Người viết:
Các dân tộc bị áp bức trên thế giới thấy rằng, chỉ có dựa vào phong trào cách mạng xã
hội chủ nghĩa, đi theo đường lối của giai cấp công nhân thì mới đánh đổ được bọn đế

nhận thức vận dụng, tiếp tục gương cao ngọn cờ ĐLDT và CNXH trong công cuộc đổi
mới.
1.1.2. Đặc điểm tình hình và chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới
* Đặc điểm tình hình.
Công cuộc đổi mới vì ĐLDT vì CNXH do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo diễn ra
trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp,
biến động lớn.
Trên thế giới, từ cuối những năm 70 đầu những năm 80 cuộc cách mạng khoa học
công nghệ không ngừng phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế,
xã hội toàn thế giới.
Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ một mặt nó tạo điều
kiện cho các dân tộc nâng cao trình độ mọi mặt, lôi cuốn tất cả các quốc gia dân tộc phát
triển hay chưa phát triển đều có khả năng tận dụng cơ hội này để ứng dụng những thành
tựu mới về khoa học vào các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học quân sự, đặc biệt là
những nước có nền công nghiệp phát triển.
Mặt khác, khoa học công nghệ càng phát triển cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn
có, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau đưa đến sự thoả hiệp giữa các nước lớn trong việc giải
quyết các vấn đề của thế giới. Thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất, quốc tế hoá nền
kinh tế thế giới, tạo ra quan hệ giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật, xu thế hoà bình hợp


tác trong khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển. Song xu thế đó cũng gây nên
những khó khăn mới trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh của đất nước, bảo vệ nền ĐLDT.
Yêu cầu khách quan đòi hỏi mỗi nước, mỗi quốc gia phải tự điều chỉnh chiến lược của
mình cho phù hợp với tình hình mới, để vừa hoà nhập vào trào lưu chung của thế giới
hiện đại, vừa giữ vững độc lập chủ quyền của đất nước và bản sắc dân tộc. Sức mạnh của
mỗi quốc gia, dân tộc là sức mạnh tự thân, sức mạnh nội sinh. Nhưng để tạo ra sức mạnh
của mình các nước phải dựa vào nhau (đặc biệt là các nước đang phát triển) và vận dụng
các quan hệ quốc tế để có vốn và công nghệ mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu để

là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng từ cuối những năm 70 và kéo dài trong nhiều năm sau
đó. Cuộc khủng hoảng đó đã gây tổn thất nặng nề, làm suy yếu, tan rã một bộ phận lớn
các nước XHCN và tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng thế giới. Nguyên nhân
chính là do lạc hậu nhận thức lý luận về CNXH, duy trì quá lâu cơ chế, mô hình cũ về
CNXH (mô hình của Liên Xô trước đây); không tận dụng được những thành quả của
cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, do đó đã làm cho tình hình kinh tế – xã hội ở các
nước XHCN ngày càng xấu đi. Tình hình trên đặt các nước XHCN trên thế giới đứng
trước sự lựa chọn mới: hoặc là vẫn tiếp tục con đường mòn như đã làm. Hoặc là tự phê


phán, tự nhận thức lại mình, tìm ra con đường mới có hiệu quả nhằm xây dựng và hoàn
thiện CNXH.
Từ thực tế đó đòi hỏi phải thay đổi cách nghĩ, cách làm và cải cách, cải tổ, đổi mới đã
trở thành trào lưu chung của các nước XHCN, bắt đầu từ những năm cuối 70, đầu những
năm 80 của thế kỷ trước. Quá trình này diễn ra ở các nước với những tên gọi khác nhau,
cải cách ở Trung Quốc (12/1978), cải tổ ở Liên Xô (4/1985), sau đó các nước XHCN ở
Đông Âu tiến hành cải tổ, Việt Nam tiến hành đổi mới (12/1986).
Cải cách, cải tổ, đổi mới là nhằm thoát khỏi trì trệ, là quá trình tự hoàn thiện để thể
hiện sức sống, tính ưu việt của CNXH. Quá trình đó đã đạt được nhiều thành tựu đáng
khích lệ ở một số nước, nhưng phần lớn các nước XHCN đã vấp phải nhiều khuyết điểm,
sai lầm nghiêm trọng về đường lối, quan điểm, hình thức, bước đi, đã làm cho cuộc
khủng hoảng ở các nước này ngày càng trầm trọng hơn. Đặc biệt cải tổ ở Liên Xô và các
nước XHCN Đông Âu ngày càng sa lầy, chệch khỏi quỹ đạo XHCN, dẫn tới tan rã sụp
đổ. Đây là bi kịch chưa từng có trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói
chung, của cộng đồng các nước XHCN nói riêng. Sự thất bại của cải tổ đã tác động tiêu
cực tới phong trào cách mạng thế giới, làm cho so sánh lực lượng trên thế giới về nhiều
mặt, trong đó có thế cân bằng chiến lược về quân sự bất lợi cho cách mạng.
Lối thoát duy nhất để ra khỏi sự khủng hoảng đó là cải cách, đổi mới hay cải tổ…
nhưng phải tuân thủ nguyên tắc của CNXH khoa học, nếu không rất dễ đi chệch hướng
và mắc sai lầm như ở Liên Xô, Đông Âu vừa qua. Một bài học cho tất cả các Đảng cầm

đai, về biển, tài nguyên phong phú, có nền văn hoá từ lâu đời, là khu vực rộng gấp hai lần
Châu Âu và Hoa Kỳ. Chiếm 1/2 dân số thế giới, có thị trường rộng lớn, là khu vực năng
động phát triển kinh tế, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trên thế giới, hiện nay là
động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Là khu vực đa dạng về văn hoá, chủng tộc, sắc tộc,
tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ. Do đó các nước Châu Á - Thái Bình Dương duy trì hoà
bình và ổn định có lợi cho sự phát triển kinh tế. Tuy vậy vẫn tiềm ẩn những khả năng
biến động và xung đột, nguy cơ chiến tranh lãnh thổ và tài nguyên, chạy đua vũ trang ở
biển Đông vẫn xảy ra. Sự cạnh tranh gay gắt về mục tiêu kinh tế và tranh giành ảnh
hưởng chính trị ngày càng mạnh mẽ. Chính vì vậy trong công cuộc xây dựng CNXH
Đảng phải không ngừng củng cố và tăng cường quốc phòng bảo đảm an ninh quốc gia,
toàn vẹn lãnh thổ bảo vệ chế độ XHCN.
Tình hình trong nước
Thực trạng tình hình kinh tế – xã hội của đất nước sau 10 năm xây dựng CNXH (1976
– 1986), công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc đã đạt được những thành tựu và
những tiến bộ đáng kể trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội. Nhưng nhìn chung
nền kinh tế của đất nước vẫn là nền kinh tế sản xuất nhỏ, điểm xuất phát bước vào công
cuộc xây dựng CNXH thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đất nước lâm vào
tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, bắt đầu từ cuối những năm 70 và kéo dài trong
nhiều năm sau. Biểu hiện rõ nét nhất là sản xuất đình trệ, mất cân đối nghiêm trọng, năng
suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng giảm sút, sản xuất hàng hoá ngày càng nghèo nàn,


lưu thông ách tắc rối ren “sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 0,6%, nông
nghiệp tăng 1,9% thu nhập quốc dân tăng 0,4% trong khi đó dân số tăng 4,5 triệu người”
[74, tr.60]. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, tiêu cực xã hội có chiều hướng phát
triển, các giá trị truyền thống, tinh thần và đạo đức bị xói mòn, hoạt động kinh tế – xã hội
lâm vào tình thế rối ren kéo dài, gây nên tâm trạng hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng, vào CNXH, đồng thời những nhân tố gây mất ổn định về chính trị cũng
gia tăng.
Đánh giá thực trạng đó, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình bày

diễn ra gay gắt, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Dù sao kết quả của đổi mới từng
phần cũng đã cung cấp cho ta nhiều kinh nghiệm quý. Chính dựa trên tổng kết thực tiễn,
xem xét những kinh nghiệm ấy và nghiên cứu tham khảo những kinh nghiệm của các
nước trên thế giới mà Đại hội lần thứ VI (tháng 12/1986) của Đảng đã đề ra đường lối đổi
mới toàn diện, đưa đất nước tiến lên.
Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật,
đánh giá đúng sự thật. Đại hội đã nghiêm khắc kiểm điểm những khuyết điểm, sai lầm và
nguyên nhân. Ngoài những nguyên nhân khách quan. Đại hội chỉ rõ về chủ quan là do


khuyết điểm sai lầm trong lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trong việc đánh giá tình hình,
xác định mục tiêu, hình thức, bước đi, sai lầm trong tổ chức thực hiện.
“Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương,
chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” [12, tr.26].
Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt trong chính sách kinh
tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, khuynh
hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế – xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường
lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa “tả” khuynh vừa hữu
khuynh…
Những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế – xã hội bắt nguồn từ những
khuyết điểm trong công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đây
là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.
* Chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến 2001
Từ những đặc điểm tình hình trên, khi bước vào công cuộc đổi mới cũng như trong
suốt quá trình đổi mới vì ĐLDT gắn liền với CNXH Đảng luôn khẳng định:
Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần
và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích
cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân

với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế
của cả nước và trên từng địa phương; xây dựng, củng cố vững chắc các khu căn cứ hậu
phương chiến lược; chuẩn bị các phương án động viên khi cần thiết” [14, tr.85].
Về quan hệ đối ngoại, với tư cách là mũi nhọn tấn công để nhằm bảo vệ Tổ quốc từ
xa, tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc, Đảng chỉ rõ:
Trong những năm tới, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là
ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hoà
bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế
giới… tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội [12, tr.99].
Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đại hội VI về quan hệ đối ngoại, căn cứ vào tình
hình của thế giới và trong nước trong tình hình mới, Đại hội lần thứ VII của Đảng lại chỉ
rõ:
Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm trong thời gian tới là giữ vững hoà bình, mở rộng quan
hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của
nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [14, tr.88].


Những chủ trương và quan điểm trên của Đảng đã thể hiện rõ sự kết hợp gắn bó chặt
chẽ giữa ĐLDT và CNXH; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN,
đó còn là sự thể hiện sự nhanh nhạy về bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng trước tình
hình mới của thế giới và trong nước, đồng thời đó còn là cơ sở để Đảng nhận thức và chỉ
đạo thực hiện giải quyết mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong quá trình đổi mới.
1.2. Quá trình nhận thức và chỉ đạo của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến 2001
1.2.1. Quá trình nhận thức của Đảng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong
công cuộc đổi mới

giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.
ĐLDT yêu cầu sự trao đổi, hợp tác dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn
trọng chủ quyền các quốc gia, vì sự hữu nghị giữa các dân tộc và điều nổi bật lên là cuộc
đấu tranh vì độc lập tự do của mỗi dân tộc thống nhất hữu cơ với mục tiêu đấu tranh
chung của thời đại, của tất cả các dân tộc vì hoà bình, ĐLDT, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Trong công cuộc đổi mới, ĐLDT là tiền đề là điều kiện cơ bản để xây dựng đất nước.
Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới Đảng ta chỉ rõ: “Độc lập dân tộc là điều kiện tiên


quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho
độc lập dân tộc”. [15, tr.4], bởi ĐLDT có hai điều kiện quyết định đó là hoà bình và chủ
quyền để xây dựng đất nước. Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, trước
xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, với sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc
gia và các khu vực trên thế giới. Quan niệm về ĐLDT của Đảng ta cũng còn có nội dung
khác trước, đó là ĐLDT không phải đứng biệt lập hoàn toàn và khép kín mà phải tiến
hành mở cửa, mở rộng quan hệ hợp tác, tiếp thu thành tựu văn hoá của các dân tộc, tinh
hoa văn hoá nhân loại có chọn lọc, để vươn lên kịp trình độ tri thức thế giới, nhưng phải
có chính sách khôn khéo và chiến lược thông minh trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ,
với nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
ĐLDT trong thời đại mới phải gắn liền với giai cấp công nhân và chỉ có giai cấp công
nhân mới thực hiện được sự kết hợp lợi ích chân chính của giai cấp mình với lợi ích dân
tộc, lợi ích dân tộc này với lợi ích của dân tộc khác. Xoá bỏ triệt để tình trạng bóc lột và
áp bức giai cấp là điều kiện cơ bản nhất để xoá bỏ ách áp bức dân tộc, để thực sự có
ĐLDT, bảo vệ nền ĐLDT mình phải thống nhất với việc tôn trọng nền độc lập của dân
tộc khác.
Quan niệm của Đảng ta về CNXH. Trải qua hơn 20 năm xây dựng CNXH trên miền
Bắc (1954 – 1975) và hơn 20 năm xây dựng CNXH trên cả nước kể từ sau 1975. Quá
trình đó, Đảng ngày càng nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn về CNXH, về con đường đi
lên CNXH ở nước ta.
CNXH ở miền Bắc trước đây là mô hình CNXH thời chiến, chịu sự chi phối tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status