TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP
CHUYÊN ĐỀ
MÔN HỌC: CÂY HỒ TIÊU
Nội dung thực hiện:
“SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HỒ TIÊU”
Học viên
Chuyên ngành
Khoá học:
Đắk Lắk 2018
: Vũ Đình Cường
: Khoa học cây trồng
: 2017 - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP
MÔN HỌC: CÂY HỒ TIÊU
Nội dung thực hiện:
“SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN HỒ TIÊU”
3.1.2 Trên thế giới................................................................................................9
4. Những yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây tiêu.....................................11
4.1. Nhiệt độ........................................................................................................11
4.2. Ánh sáng......................................................................................................11
4.3. Lượng mưa và ẩm độ..................................................................................11
4.4. Gió................................................................................................................11
4.5.Đất đai và địa hình......................................................................................12
4.5.1 Đất đai........................................................................................................12
4.5.2 Địa hình.....................................................................................................12
4.6.2. Giai đoạn kinh doanh..............................................................................13
4.7 Đặc điểm hình thái:....................................................................................13
4.7.1 Rễ: có 3 loại..............................................................................................13
4.7.2 Thân:.........................................................................................................13
4.7.3 Cành:.........................................................................................................13
4.7.4 Hoa:............................................................................................................13
4.7.5 Trái:...........................................................................................................13
5. Giống – nhân giống:.....................................................................................14
5.1 Giống tiêu:....................................................................................................14
6. Phương thức nhân giống...............................................................................14
7. Loại trụ, khoảng cách và mật độ trồng.......................................................15
7.1 Trụ sống........................................................................................................15
7.2 Một số loại trụ sống được trồng làm trụ tiêu............................................16
7.4 Kỹ thuật trồng tiêu......................................................................................16
1
7.4.1 Thời vụ trồng tiêu.....................................................................................16
7.4.2 Chọn đất trồng tiêu, làm đất, đào hố và thiết kế lô trồng.....................16
7.4.3 Đặt hom, trồng dặm và buộc dây............................................................17
7.4.4 Đôn tiêu......................................................................................................17
tốt thông qua kỹ thật canh tác của chính mình.
Thực tế khi tham quan các vườn hồ tiêu chúng ta đều dễ dàng bắt gặp những
trường hợp như: chả thấy ngọn cỏ nào mọc ở lối đi mà đất chai cứng, rong rêu mọc
khắp nơi chỉ sau vài năm canh tác. Hoặc là thói quen bón quá nhiều phân bón, các bạn
bón để an tâm chứ không phải là cần thiết.
Vậy nên: “Bón phân theo nhu cầu của cá nhân bạn hay bón phân cho nhu cầu cái
cây!?” . Nếu năng suất trụ tiêu của bạn 5kg/năm mà bạn bón hơn 5 lạng lân thì bạn nên
xem lại (dám chắc hơn một nữa trong số chúng ta sai lầm ở công thức này).
Trở lại với chủ đề đất trồng. Có một điểm lưu ý quan trọng: lượng phân hóa học
chúng ta bổ sung hàng năm không đáng kể so với lượng phân từ trong đất tiết ra (trong
đất thường xuyên có sự chuyển hóa từ dinh dưỡng khó tiêu sang dể tiêu cho cây trồng
sử dụng).
Lượng phân từ trong đất tiết ra có thể thay đổi theo tùng năm và tùy loại đất, tùy
điều khiện ngoại cảnh. Tuy nhiên yếu tố quan trọng hơn cả là hoạt động của vi sinh
vật. Chúng là những người thợ mỏ khai thác tiềm năng trong đất đem ra cho cây trồng.
Thông thường cứ mỗi một thìa đất nhỏ có chứa hàng triệu vi sinh vật khác nhau:
nấm, vi khuẫn, vi rút, tuyến trùng,… Nhiều nông dân hiện nay sai lầm xem tất cả
chúng là dịch hại và tìm cách tiêu diệt chúng đi. Thật ra rất ít trong số chúng gây hại
cho cây trồng:
"Chỉ riêng ngành nấm có đến 100.000 nấm có ích, sống theo kiểu hoại sinh. Chỉ
có 8000 nấm có thể gây bệnh cho thực vật, và phần lớn cũng chỉ sinh sống theo kiểu
bán hoại sinh (facultative saprophytes). Có hơn 1600 vi khuẩn có ích, sống theo hoại
sinh, và chỉ có khoảng 80 vi khuẩn là có khả năng gây hại, sống theo kiểu bán hoại
sinh. Có đến hơn 2000 virus, trong đó chỉ có1/4 các loài virus là có khả năng gây bệnh.
Có hơn 2000 tuyến trùng, trong đó chỉ có khoảng 1/10 có khả năng kí sinh trên cây
trồng."
Việc tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật đất đồng nghĩa với đất chết. Và đau đầu là
con người không thể thay thế đất trồng để nuôi cây.
Có rất nhiều sai lầm mà chũng ta vẫn thường mắc phải là cho đất ngày càng xấu
đi:
2.1 Khái niệm
* Sinh trưởng là qúa trình tăng không thuận nghịch về số lượng, kích thước, khối
lượng của tế bào, mô, cơ quan và cơ thể.
* Phát triển là quá trình biến đổi về chất lượng các cấu trúc và chức năng của cơ
quan, cơ thể làm cây ra hoa, kết quả, tạo hạt.
Tuy nhiên trong thực tế, quá trình sinh trưởng và phát triển rất khó phân biệt và
thường xen kẽ lẫn nhau, trong sinh trưởng có phát triển và ngược lại trong phát triển
có sinh trưởng. Vì vậy người ta thường phân biệt hai khái niệm kế tiếp nhau này bằng
sự ra hoa.
2.2. Sinh trưởng sơ cấp và sinh trưởng thứ cấp
* Sinh trưởng sơ cấp
Là hình thức sinh trưởng theo chiều cao làm cây cao lên, xảy ra ở mô phân sinh
ngọn
* Sinh trưởng thứ cấp
Là hình thức sinh trưởng theo chiều rộng làm cây to ra, xảy ra ở tầng phát sinh
mạch.
Sinh trưởng sơ cấp và sinh trưởng thứ cấp khác nhau nhiều ở các cây một lá mầm
và cây hai lá mầm
Sự sinh trưởng sơ cấp và thứ cấp khác nhau ở các cây một lá mầm và cây hai lá
mầm.
Bảng so sánh các nhóm mô phân sinh khác nhau.
Phân loại Có ở nhóm thực vật Vị trí phân bố
Chức năng
MPS đỉnh - 1 lá mầm
- Chồi đỉnh, nách - Giúp thân, rễ tăng chiều dài
- 2 lá mầm
- Đỉnh rễ
MPS bên - 2 lá mầm
* Nhóm chất kích thích sinh trưởng:
- auxin, giberelin có tác động đến sự kéo dài, lớn lên của tế bào
- xitôkinim: có vai trò trong phân chia tế bào
* Nhóm các chất kìm hãm sinh trưởng
- Axit absixic: tác động đến sự rụng lá
- Etylen tác động đến sự chín của quả
- Chất làm chậm sinh trưởng và chất diệt cỏ.
2.4.1. Nhóm chất kích thích sinh trưởng
a) Auxin
Có 3 dạng auxin chính:
auxin a: C18H32O5; auxin b: C18H30O4 và heterôauxin: C10H9O2N (AIA-axit
inđôlyl axêtic)
Auxin có ở mô phân sinh chồi, lá mầm và rễ. ở đỉnh chồi ngọn, auxin vận chuyển
xuống theo trọng lực tới cơ quan khác với tốc độ 5-15 mm/giờ .
Auxin có tác động kích thích nhiều hoạt động sinh trưởng, làm giãn tế bào, tác
động đến vận động theo ánh sáng và vận động theo trọng lực, làm cho chồi ngọn và rễ
chính sinh trưởng mạnh (ưu thế đỉnh hay ức chế chồi bên *), kích thích sự ra quả và
tạo quả không hạt, kìm hãm sự rụng (hoa, quả, lá), thúc đẩy sự chuyển động chất
nguyên sinh.
b) Giberelin
Giberelin là nhóm phytôhoocmôn phát hiện sau auxin. Khi nghiên cứu bệnh nấm
lúa von đã phân lập được axit giberelic (GA): C19H22O6 gọi là Giberelin A3.
Giberelin (GA có tác động về nhiều mặt: kích thích thân mọc cao, dài, các lóng
vươn dài ra, kích thích ra hoa, tạo quả sớm và quả không hạt, kích thích sự nảy mầm
của hạt, củ và thân ngầm, có tác động tới quá trình quang hợp, hô hấp, trao đổi nitơ,
axít nuclêic, hoạt tính enzin và thành phần hoá học trong cây.
c) Xitôkinin
Xitôkinin là dẫn xuất của ađênin ( C5H6N4 ) có tác động đến quá trình phân chia
tế bào, hình thành cơ quan mới, ngăn chặn sự hoá già (có liên quan tới sự ngăn chặn sự
2.4.4. Những nguyên tắc khi sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng trong
nông nghiệp:
- Nồng độ sử dụng phải thích hợp (từ vài ppm đến vài chụct, vài trăm ppm)
- Thoả mãn nhu cầu về nước và phân bón cùng với các điều kiện môi trường
thuận lợi
- Chú ý tính chất đối kháng, hỗ trợ giữa các phytohoocmôn. Đối với chất diệt cỏ
chú ý tính chọn lọc riêng biệt.
2.5. Phát triển ở thực vật có hoa
2.5.1. Các nhân tố chi phối sự ra hoa
a. Vai trò chất điều hoà sinh trưởng
Sự phân hoá giới tính của hoa liên quan với lượng hoocmôn. Cây non nhiều lá, ít
rễ, nhiều giberelin sẽ tạo nên 85 90% là cây đực. Ngược lại cây nhiều rễ phụ nhiều
xitôkinin thì đa phần là cây cái.
Cây vừa có nhiều rễ và lá tạo sự cân bằng hoocmôn, giới tính đực cái ở trạng thái
cân bằng, tỷ lệ hoa đực cái bằng nhau.
b. Vai trò ngoại cảnh
Ngày ngắn, ánh sáng xanh, nhiệt độ thấp, hàm lượng CO2 cao, độ ẩm cao, nhiều
nitơ tạo nhiều hoa cái.
Ngày dài, ánh sáng đỏ, nhiệt độ cao, hàm lượng CO2 thấp, nhiều kali tạo nhiều
hoa đực.
Một chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp, tỷ lệ C/N cân đối sẽ tạo cây khoẻ, thúc đẩy
sự ra hoa.
2.5.2. Hoocmôn ra hoa
Florigen
- Bản chất florigen
Theo học thuyết Trailakhian thì florigen là hoocmôn kích thích ra hoa.
Đó là một tập hợp của gibêrelin (kích thích sinh trưởng của đế hoa) và antêxin
(kích thích sự ra mầm hoa antexin là chất giả thiết)
3.1 Nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
3.1.1 Tại Việt Nam
Theo nghiên cứu của Viện Ea Kmat thì các tỉnh miền Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ thường ra hoa từ tháng 5- 6 và chín tập trung vào tháng 10, hạt sẽ hình thành phát
triển đến tháng 1 – 2 là có thể thu hoạch. Đối với những lứa hoa nở muộn thì thường
chín tập trung vào tháng 4 đến tháng 5.
Các tỉnh Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung thường ra hoa vào tháng 8- 9 và
chín tập trung vào tháng 4 đến tháng 6, bạn cần dựa vào thời điểm ra hoa và tạo hạt
của cây tiêu để bón phân và chăm sóc đúng thời điểm để giúp cây tăng trường và đạt
năng suất tối đa
3.1.2 Trên thế giới
Tại Ấn Độ, một chương trình nghiên cứu chọn giống tiêu đã được thực hiện từ
năm 1953 đến nay và đã phóng thích nhiều giống tiêu. Hiện nay có tới 75 giống tiêu
đang được trồng ở Ấn Độ, Karimunda là giống phổ biến nhất. Ngoài các giống chọn
lọc truyền thống thì một số giống cải tiến có năng suất cao từ các chương trình lai tạo
và chọn lọc giống cũng đang được trồng trong sản xuất. Trạm Nghiên cứu Hồ tiêu
Panniyur ở Kerala đã phóng thích ra giống tiêu lai Panniyur-1 nổi tiếng cách đây trên
ba thập niên. Pournami là một giống tuyển chọn chống chịu với tuyến trùng sưng
rễ Meloidogyne (Peper Production guide, 2005).
Ở Malaysia, các giống Kuching (Bangka), Aricottanadan, Kumbakhodi, và
Kutharavally A.R.S là những giống tốt đã được phóng thích ra sản xuất (De Ward,
1969). Giống Kuching được trồng phổ biến ở Sarawak và Johore, giống sinh trưởng
khỏe, có năng suất cao, tuy vậy giống này rất nhạy cảm với các bệnh chính, đặc biệt là
8
bệnh héo chết nhanh do Phytophthora. caspici, bệnh đen quả và bệnh xoăn lùn do
virus (Anandan, 2005). Năm 1988 và năm 1991, Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp
một phần sự bốc thoát hơi nước.
Các nghiên cứu về phân bón cho cây tiêu đều thống nhất cho rằng phân hữu cơ là
loại phân cơ bản không thể thiếu được trong nghề trồng tiêu. Theo Thomas Dierolf,
Thomas Fairhurst and Ernst Mutert (2001) lượng phân bón cân bằng cho 1 ha tiêu có
năng suất 3 tấn/ha là 400 N, 200 P2O5, 500 K2O và 10 tấn phân hữu cơ và một lượng
vôi nhất định. Zaubin và cộng sự với thí nghiệm trong chậu cho thấy một tỷ lệ thấp
N/K đã làm gia tăng sức chống chịu của giống Belangtung với bệnh hại rễ tiêu. Các
kết quả nghiên cứu gần đây của Robber Zaubin và Dyah Manohama ở Lampung
(2004) cũng cho thấy một tỷ lệ cao phân kali so với phân đạm có ưu thế hơn giúp cây
khỏe mạnh và chống chịu được bệnh tật, do vậy các tác giả này đã đề xuất bón 1600g
phân NPKMg hỗn hợp (12 – 12 – 24 – 2) cho 1 gốc tiêu /năm.
Nhiều quốc gia trên thế giới trồng tiêu không tưới nước vì có lượng mưa phân bố
tương đối đồng đều trong năm, hơn nữa tập quán trồng tiêu dưới các loại cây thân gỗ
rậm rạp dẫn đến năng suất thấp và không có nhu cầu về tưới nước cho tiêu. Ở Sri
Lanca chỉ có 1% nông dân trồng tiêu tưới nước, do chi phí tưới nước cao và hiệu quả
9
kinh tế mang lại không nhiều khiến nông dân vùng này không tưới cho tiêu. Tuy vậy ở
Ấn Độ, thời kỳ khô hạn dài trong mùa hè là yếu tố hạn chế năng suất hồ tiêu. Một
nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cây gia vị Ấn Độ đã kết luận tưới nhỏ giọt với mức
tưới 7 – 10lít/trụ/ngày trong suốt mùa hè đã làm năng suất tiêu tăng 200%. Ở Thái
Lan, tiêu cũng là một loại cây trồng có tưới
Cây tiêu là một cây công nghiệp nhiệt đới có yêu cầu cao về điều kiện sinh thái,
để có thể tìm hiểu được điều kiện sinh thái ở địa phương có phù hợp với cây tiêu
không và đáp ứng tạo thêm nhiều biện pháp cải thiện môi trường cho phù hợp về yêu
cầu về độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa và độ ẩm của cây tiêu. Chúng ta cùng tìm hiểu
thêm về yêu cầu sinh thái của cây tiêu nhé.
tiêu háo khí, không thể chịu đựng được ngập úng trong nhiều giờ.
4.4. Gió
Cây tiêu không thích hợp với môi trường có nhiều gió, đặc biệt là gió nóng, gió
lạnh hay bão đều có thể làm gãy nhánh tiêu và làm cây chậm phát triển. Để đảm bảo
môi trường lặng gió, giúp cây tiêu phát triển tối đa chúng ta cần thiết lập hệ thống đai
rừng chắn gió và kết hợp tạo bóng che để giúp cây tiêu được sống trong môi trường
sinh thái hợp lí.
10
4.5.Đất đai và địa hình
Cây tiêu thường không kén đất, nó có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau
như đất đỏ baazan, đất đỏ vàng, đất cát xám, đất phù sa, đất sét…. tuy nhiên vì bộ rễ
yếu, không thể chịu được ngập úng nên đất cần dễ thoát nước, có độ dóc dưới 5%. Đất
cần thoát nước nhanh chóng vì chỉ cần trong vòng 12 giờ bị ngập rễ phụ của cây đã bị
thối, úng. Tầng canh tác dày trên 70 cm để rễ phụ có thể dễ dàng ran rộng và phát
triển, mạch nước ngầm sâu hơn 2m, tránh bị ngập rễ cái. Đất có thành phần cơ giới
nhẹ đế trung bình, có nhiều mùn, độ pH từ 5- 6. Đất không quá giàu kiềm.
Vùng Tây Nguyên có tầng canh tác đất và độ ẩm cực kì thích hợp với sự phát
triển của cây tiêu, tuy nhiên vì có rất nhiều đợt gió lớn và ánh sáng trực xạ ảnh hưởng
đến sự phát triển mà cây tiêu cần được chăm sóc kĩ càng, trồng các cây xen để tạo
bóng mát và có đai chắn gió hiệu quả để giúp cây đạt năng suất cao
4.5.1 Đất đai
- Ở Việt Nam cây tiêu đã được trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như: +
Đất đỏ bazan (vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ)
+ Đất sét pha cát ((Hà Tiên, Phú Quốc)
+ Đất phù sa (vùng đồng bằng sông Cửu Long) + Đất xám (miền Đông Nam Bộ)
11
- Trồng từ hom thân:
+ Từ các đốt hom thân phía trên mặt đất mọc lên các chồi thân, mỗi đốt mọc một
chồi, các chồi thân này phát triển nhanh, bám vào trụ tiêu và vươn cao.
+ Tại các đốt thân mọc ra các rễ bám. Để cho dây tiêu sinh trưởng tốt, cần buộc
dây tiêu sát vào trụ để các rễ bám phát triển, bám vào trụ dễ dàng.
+ Trồng bằng hom thân thì các dây thân phát sinh cành quả sớm, gần như sát
dưới gốc nên cây tiêu không bị trống gốc.
- Trồng từ hom lươn:
+ Chồi dây thân mọc ra từ hom lươn thường yếu, không ra cành quả ngay mà
thường phái 8 - 12 tháng sau khi trồng.
+ Cây phát sinh cành quả ở độ cao > 1m.
+ Buộc các dây thân này vào trụ để tất cả các đốt của dây tiêu đều có rễ bám bám
chắc vào trụ để dây tiêu vươn lên trụ dễ dàng và mau phát sinh cành quả.
+ Đối với cây tiêu trồng từ dây lươn phải áp dụng biện pháp đôn dây tiêu để đưa
vị trí cành quả xuống sát mặt đất, trụ tiêu không bị trống gốc.
4.6.2. Giai đoạn kinh doanh
- Giai đoạn kinh doanh là giai đoạn cây sinh trưởng phát triển mạnh, ra hoa kết
quả nhiều và cho sản lượng cao nhất.
- Giai đoạn này cần đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nước và dinh dưỡng, cũ ng như
thực hiện tốt các khâu kỹ thuật quản lý chăm sóc khác để vườn tiêu sinh trưởng phát
triển tốt cho năng suất cao
4.7 Đặc điểm hình thái:
4.7.1 Rễ: có 3 loại.
- Rễ cái: ăn sâu đến 2 m để hút nước.
5.1 Giống tiêu:
Các giống tiêu được trồng phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh phía Nam:
5.2.1 Vĩnh Linh
- Lá có màu xanh đậm, khi đưa lên soi ánh nắng mặt trời thấy loang lổ màu vàng
nhạt, đây là đặc điểm riêng biệt để nhận diện giống;
- Chiều dài cành cấp 1 khá dài, trung bình 51cm, gié quả dài trung bình 10cm, tỷ
lệ hạt tươi/khô đạt 2,67;
- Cho năng suất cao trong điều kiện thâm canh, ít bị nhiễm bệnh chết nhanh và
vàng lá chết chậm.
5.2.2 Tiêu Trung
- Có nơi gọi là tiêu sẻ Mỡ, lá có màu xanh nhạt, hiện được trồng phổ biến ở Bình
Phước, Đăk Nông và Đăk Lăk, giống cho năng suất cao, ít bị dịch hại.
5.2.3 Tiêu Sẻ
- Lá nhỏ, chiều dài lá trưởng thành trung bình 12,3cm, chiều rộng lá 6,8cm, lá
màu xanh nhạt;
- Cành nhỏ và ngắn, chiều dài trung bình 38,4cm; gié quả ngắn, quả nhỏ, tỷ lệ hạt
tươi/khô đạt bình quân 3,21;
- Cho năng suất khá ở những vụ thu hoạch đầu trong điều kiện thâm canh;
- Nhược điểm là dễ bị nhiễm bệnh, nhất là bệnh chết nhanh.
5.2.4 Tiêu Ấn Độ
- Có hai dạng, dạng đọt xanh và dạng đọt tím;
- Mắt cuối của cành cho quả (cành ác) thường mang hai gié hoa, giống cho chùm
quả dài, đóng hạt dày;
- Cho thu hoạch sớm và năng suất cao ở những vụ thu hoạch đầu;
- Nhược điểm của giống này là tăng trưởng mạnh dẫn đến năng suất giảm sau 3-4
vụ thu hoạch.
5.2.5 Tiêu Phú Quốc và tiêu Hà Tiên
- Có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, cho thu hoạch quả sớm, khoảng năm thứ hai
sau trồng;
- Chiều dài gié quả 7,6 cm; dung trọng hạt đạt bình quân 545g/L.
+ Xử lý hom giống
Để hom tiêu mau ra rễ và ít nhiễm bệnh, trước khi giâm hom tiêu được ngâm
ngập phần gốc 2-3cm trong dung dịch nước đường (1-2%) có pha chế
phẩm Trichoderma spp., Pseudomonas fluorescens, Azospirillumspp. trong 30 phút.
+ Ươm hom
Sau khi xử lý xong có thể ươm hom vào luống hoặc vào bầu.
Luống: có chiều dài 5-6m, rộng 1,0-1,2m; đất trên luống cần trộn đều phân theo
liều lượng 25-30kg phân chuồng hoai + 0,5kg super lân cho 10m2 luống. Ươm hom
cách hom 15-20cm.
Bầu: Dùng bầu PE hoặc giỏ tre, bầu có kích thước dài 23-25cm, rộng 15-17cm,
bầu PE được đục 8-10 lỗ để dễ thoát nước. Đất vào bầu cần trải phơi nắng để diệt vi
sinh vật gây bệnh, trộn 2 phần đất tơi xốp + 1 phần phân chuồng hoai, trộn đều 0,5kg
phân super lân cho 200kg hỗn hợp đất và phân chuồng, mỗi bầu ươm 2 hom.
Đất trên luống ươm và đất vào bầu ươm cần được xử lý với chế phẩm vi sinh vật
có ích (Trichoderma spp.) và hóa chất bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất Ethoprophos
để hạn chế dịch hại.
Vườn ươm tiêu cần có mái che, thiết kế hệ thống tưới phun sương hoặc tưới bằng
bình có vòi sen để tạo độ ẩm thích hợp cho tiêu ra rễ. Khi cây tiêu con gần đến tuổi
xuất vườn, có 5-7 lá thành thục, nên tháo bớt mái che cho cây quen dần với điều kiện
ngoài đồng.
7. Loại trụ, khoảng cách và mật độ trồng
7.1 Trụ sống
Yêu cầu trụ sống
- Cao ít nhất 2m và đường kính tối thiểu 3cm.
- Sinh trưởng nhanh, khoẻ, thân cứng, vỏ tương đối nhám để tiêu dễ bám.
- Bộ rễ ăn sâu để không cạnh tranh dinh dưỡng với cây tiêu.
- Ít lá hoặc tán thưa để không che ánh sáng của cây tiêu, có khả năng chịu xén tỉa
nhiều lần mà không chết.
- Ít sâu bệnh hoặc không phải là cây ký chủ của sâu bệnh hại tiêu.
7.4 Kỹ thuật trồng tiêu
7.4.1 Thời vụ trồng tiêu
Thời vụ trồng tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu của từng khu vực, thường trồng
vào đầu mùa mưa, khi đã mưa đều và kết thúc trước mùa khô khoảng 2-2,5 tháng
(Bảng 1).
Bảng 1. Thời vụ trồng tiêu ở một số vùng trồng tiêu chính
Thời vụ
Vùng
Đông Nam Bộ
Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Tháng
6-8
9-10
5-8
7.4.2 Chọn đất trồng tiêu, làm đất, đào hố và thiết kế lô trồng
Đất cần được cày bừa kỹ và xử lý mầm bệnh trước khi trồng, trên đất chua cần
bón vôi trước khi bừa lần cuối, lượng vôi bón khoảng 1,5-2,0 tấn/ha.
Kích thước hố thường 30x40x40cm cho hom đơn hoặc 40x40x40cm cho hom
đôi, mỗi hố bón 7-10kg phân chuồng hoai + 200-300g phân super lân, trộn đều với lớp
đất mặt cho vào hố khoảng 20cm. Nên tiến hành đào hố và trộn phân lấp hố trước khi
trồng ít nhất nửa tháng. Rải Ethoprophos hoặc tưới dung dịch Bordeaux 1% trong và
quanh hố trước khi trồng 3-5 ngày để phòng ngừa dịch hại. Vườn tiêu trên vùng đất có
độ dốc nên đào hố theo đường đồng mức và bố trí hố theo hình nanh sấu.
Thiết kế hệ thống tiêu nước và trồng trụ tiêu cùng lúc, khoảng 10-15m đào một
rãnh thoát nước vuông góc với hướng dốc chính, rãnh sâu 15-20cm, rộng 20cm, giữa
hai hàng trụ tiêu. Dọc theo hướng dốc chính, khoảng 30-40m thiết kế một mương sâu
phần lớn các dây trên trụ cho cành mang quả cần tiến hành đôn tiêu.
Xới đất quanh trụ tiêu thành rãnh sâu 7-10cm, cách trụ 15-20cm, chọn 3-4 dây
tiêu khoẻ, cắt hết lá dưới cành mang quả đầu tiên 30-40cm, khoanh tròn trong rãnh sao
cho cành mang quả thấp nhất cách mặt đất 30-40cm, lấp một lớp đất mỏng 5-7cm, tưới
nước, khi thấy rễ nhú ra từ các đốt đôn dưới đất cần lấp thêm 3-5cm đất trộn phân hữu
cơ.
Nếu trồng bằng dây thân có thể thay biện pháp đôn tiêu bằng cách cắt các dây
tiêu ba lần, lần thứ nhất vào tháng 5-6, lần thứ hai vào tháng 13-14 và lần thứ ba vào
tháng 21-22 sau khi trồng để kích thích dây tiêu cho nhiều cành mang quả.
7.4.5 Tỉa cành, tạo tán cây trụ sống và cây tiêu trong thời kỳ kinh doanh
Khi cây trụ sống đã lớn và bắt đầu giao tán cần rong tỉa bớt cành lá để tiêu nhận
đủ ánh sáng, cắt tỉa ít nhất 2 lần trong năm. Nên cắt tỉa trụ sống trước khi bón phân để
có đủ ánh sáng cho cây tiêu hấp thu tối đa các chất dinh dưỡng và tạo thông thoáng
cho vườn nhằm hạn chế sâu bệnh.
Sau khi thu hoạch tiêu, cần tỉa bớt những cành tược vượt quá trụ tiêu, mọc ngoài
khung thân chính và cành lươn mọc ra từ gốc tiêu, việc tỉa cành nên tiến hành trước
mùa mưa giúp cây tiêu tạo nhiều mầm hoa trong vụ tiếp theo. Khi tiêu ra hoa và mang
trái non, cần cắt bỏ cành lươn và cành treo.
Ở một số vườn tiêu có hiện tượng hoa trổ rải rác không đúng thời vụ nên cắt bỏ
những hoa này để tập trung cho hoa ra hàng loạt và quả chín tập trung.
16
7.4.6 Trồng cây che phủ đất
Tùy điều kiện của từng vùng, nên trồng cây che phủ đất hoặc để cỏ giữa hai hàng
trụ tiêu nhằm hạn chế nước chảy tràn trong mùa mưa, giảm phát tán nguồn dịch hại,
giảm xói mòn đất, cải thiện lý-hóa tính và sinh học của đất. Các loại cây đậu phộng ma
(Arachis pintoi), sài đất (Wedelia chinensis) và cỏ stylo (Stylosanthes guianensis) thích
hợp cho việc trồng che phủ đất trong vườn tiêu.
1-2
Năm thứ 2, 3
10-15
2-3
Từ năm thứ 4 trở đi
15
3-5
Thời gian bón: phân chuồng hoặc phân rác mục mỗi năm bón một lần vào đầu
mùa mưa, phân hữu cơ chế biến hoặc phân vi sinh bón hai lần vào đầu và giữa mùa
mưa; đào rãnh một bên mép tán, sâu 10-15cm, cho phân vào và lấp đất lại, nên chú ý
trong quá trình đào rãnh không làm tổn thương bộ rễ.
Phân vô cơ
Trồng mới: sau khi trồng 1-1,5 tháng bón 1/3 lượng đạm + 1/3 lượng kali, sau khi
trồng 2-3 tháng bón số còn lại (Bảng 3).
Năm thứ 2-3: bón ba lần
- lần 1: bón 1/3 đạm + 1/3 kali và tất cả lượng phân lân, bón vào đầu mùa mưa;
- lần 2: bón 1/3 đạm + 1/3 kali, bón vào giữa mùa mưa; và
- lần 3: bón lượng phân còn lại, bón vào cuối mùa mưa.
Từ năm thứ tư : bón bốn lần
- lần 1: bón 30% đạm + 20% kali và tất cả lượng phân lân kết hợp với phân hữu
cơ, bón sau khi kết thúc thu hoạch khoảng 15-20 ngày;
- lần 2: bón 30% đạm + 30% kali, bón vào đầu mùa mưa;
- lần 3: bón 25% đạm + 30% kali, bón vào giữa mùa mưa; và
- lần 4: bón 15% đạm + 20% kali còn lại vào cuối mùa mưa.
17
Bảng 3. Lượng phân vô cơ bón cho hồ tiêu
Loại phân
thu hoạch chỉ nên tưới nước vừa đủ để cây tiêu tồn tại, không nên tưới nhiều vì tưới
nhiều cây tiêu sẽ tiếp tục sinh trưởng và ra hoa rải rác làm ảnh hưởng vụ thu hoạch kế
tiếp.
Trong điều kiện nguồn nước tưới ngày càng cạn kiệt, tưới nhỏ giọt hoặc tưới
phun mưa dưới tán là biện pháp tưới phù hợp nhất cho cây hồ tiêu (Bảng 4), ưu điểm
của tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa dưới tán là có thể kết hợp với bón phân N và K.
Bảng 4. Phương pháp tưới nước cho hồ tiêu
Lượng nước tưới
Chu kỳ tưới
(lít/trụ/lần tưới)
(ngày/lần)
Tưới nhỏ giọt
28-32
4
Tưới phun mưa dưới tán
35-40
5
Tưới bồn
100-120
7-10
Các nguồn nước sử dụng cho tiêu phải sạch, không ô nhiễm, nhất là dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật và hoá chất trong nông-công nghiệp.
Phương pháp tưới
7.4.8 Làm cỏ và tủ gốc
Làm cỏ bằng tay 2-3 lần vào đầu và giữa mùa mưa, làm sạch cỏ quanh gốc tiêu
trong vòng bán kính khoảng 50-60cm, không nên thường xuyên làm sạch cỏ giữa các
trụ tiêu, dùng cỏ hoặc rơm rạ khô tủ quanh gốc tiêu vào đầu mùa khô để giữ ẩm.
chế bệnh lây lan.
7.5.2 Bệnh vàng lá chết chậm
- Tác nhân và triệu chứng
Bệnh gây nên do sự phối hợp của tuyến trùng (Meloidogyne
incognita và Radopholus similis), rệp sáp (Pseudococcus spp.) và các
nấm Fusarium sp., Rhizoctonia sp., Pythium sp., P. Capsici. Khi tuyến trùng, rệp sáp
đục vết thương ở rễ để chích hút sẽ tạo điều kiện cho các loại nấm trên xâm nhập qua
vết thương hủy hoại bộ rễ cây tiêu. Biểu hiện ban đầu là cây sinh trưởng chậm, lá
chuyển sang màu vàng. Bệnh hại nặng làm cho lá, hoa, quả rụng dần từ dưới gốc lên
ngọn, gốc và rễ bị thối. Cây không hút đủ nước và chất dinh dưỡng nên cây sinh
trưởng chậm và chết dần. Từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi cây tiêu chết
có thể kéo dài một vài năm.
- Biện pháp phòng trừ
Trồng các giống ít nhiễm tuyến trùng (Vĩnh Linh, tiêu Trung, Ấn Độ), tăng
cường bón phân chuồng, phân hữu cơ hoai mục. Khi thấy có triệu chứng bệnh xuất
hiện, cần theo dõi và xác định tác nhân chính gây bệnh để có biện pháp phòng trừ hiệu
quả. Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật Cytokinin pha nồng độ 0,1-0,2% tưới quanh
gốc, rải Ethoprophos 10-15g/gốc trộn đều với đất để phòng trừ tuyến trùng, sử dụng
Thiophanate-Methyl nồng độ 0,1% phun đều lên cây, Benomyl 17% + Zineb 53% với
nồng độ 0,15% phun đều lên cây và tưới vào gốc (2-3 lít/gốc) để phòng trừ nấm bệnh.
7.5.3 Bệnh thán thư
- Tác nhân và triệu chứng
Bệnh do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra, bệnh tấn công cả cành, lá
và gié. Lá bị bệnh có những vết vằn lớn màu vàng nâu, xung quanh vết vằn có quầng
đen, đốm bệnh tròn hoặc không đều, kích thước 4-6 cm. Khi bệnh lây sang cành, gié sẽ
gây rụng đốt cành, gié, làm hạt khô đen và lép. Bệnh phát triển mạnh trong vườn cây
nóng ẩm, chăm sóc kém, bón phân không cân đối, tưới nước không đều về mùa khô.
- Biện pháp phòng trừ
Bón đủ phân hữu cơ, bón cân đối phân vô cơ và phân vi lượng, thường xuyên vệ
sinh vườn, cắt tỉa và thu dọn cành lá bị bệnh. Khi phát hiện bệnh, sử dụng dung dịch
- Biện pháp phòng trừ
Thường xuyên theo dõi vùng rễ gần gốc và trên cây tiêu, nhất là vào cuối mùa
mưa và trong mùa khô. Khi phát hiện rệp ở vùng rễ tiêu, xới đất xung quanh trụ tiêu
sâu 5cm, làm đất tơi và phá bỏ tổ đất khô cứng quanh trụ tiêu, rải các loại thuốc dạng
hạt như Diazinon (Basudin 10H, 10-12 g/gốc) sau đó lấp phủ đất lại. Dùng vòi nước
phun rửa bột rệp sáp và bồ hóng trên thân lá, sau đó phun Methidathion pha với nồng
độ 0,1% hoặc Carbaryl nồng độ 0,2%.
7.5.6 Rệp sáp giả vằn (Ferrisia virgata Ckll.)
- Đặc điểm nhận dạng
Cơ thể có hình ovan dài 4-5mm, rộng 3,0-3,5mm, cơ thể màu vàng nhạt hoặc nâu
nhạt, phủ một lớp bột sáp trắng, xung quanh cơ thể không có tua sáp, cuối bụng có một
cặp tua sáp dài.
- Tập quán gây hại
Rệp sáp giả vằn chích hút nhựa chủ yếu trên lá, đọt non và trên chùm hạt.
- Biện pháp phòng trừ: tương tự như trường hợp rệp sáp.
7.5.7 Bọ xít lưới (Elasmognathus nepalensis Dist.)
- Đặc điểm nhận dạng
Thành trùng là một loài bọ xít nhỏ màu đen, kích thước cơ thể dài 5-7mm, ngực
trước phát triển rộng ra hai bên, tạo với trục cơ thể thành hình chữ thập. Ấu trùng bọ
xít lưới không có cánh và trải qua năm lần lột xác.
- Tập quán gây hại
Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút dinh dưỡng trên gié hoa, gié quả và
cành non. Vết chích có màu xám sau chuyển dần sang màu nâu. Khi bị bọ xít gây hại
nặng, cả gié hoa, chùm quả non có màu nâu vàng, làm rụng hoa và quả non.
20
- Biện pháp phòng trừ
Khi phát hiện bọ xít gây hại, dùng Thiamethoxam pha với nồng độ 0,015% hoặc
23