TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
ĐẶNG KIM THANH
NUÔI SINH KHỐI ARTEMIA TRÊN BỂ LÓT BẠT VỚI
MẬT ĐỘ CAO
NUÔI SINH KHỐI ARTEMIA TRÊN BỂ LÓT BẠT VỚI
MẬT ĐỘ CAO
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS. NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
KS. TRẦN HỮU LỄ
2009
TÓM TẮT
Đề tài nuôi sinh khối Artemia
trên bể lót bạt được thực hiện gồm hai thí
nghiệm:
Trong thí nghiệm 1 Artemia được bố trí trong chai 500 ml
chứa 400 ml
nước 50‰, với mật độ nuôi 200 con/chai. Thức ăn là
5 loại phụ phẩm nông
nghiệp gồm: đậu nành rang, đậu nành tươi, cám gạo, cám ủ men
g và
1917±145 g và khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tóm lại, khi nuôi sin
h
khối ở mật độ cao nên thu hoạch ở giai đoạn từ 7 đến 9 ngày
. Nếu kéo dài thời
gian nuôi sẽ không hiệu quả vì tỷ lệ
sống và năng suất sinh khối có xu hướng
giảm. MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1 Xử lý nước 11
3.2.2 Gây màu nước 11
3.2.3 Phương pháp ấp trứng Artemia 11
3.2.4 Thả giống 12
3.2. 5 Phương pháp bố trí thí nghiệm 12
3.2.6 Thu hoạch 15
3.3 Phương pháp tính toán một số chỉ tiêu 16
3.4 Phương pháp phân tích mẫu và xử lý số liệu 16
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Thí nghiệm 1 17
4.1.1Điều kiện môi trường 17
4.1.2 Tỷ lệ sống và chiều dài của Artemia 19
4.2 Thí nghiệm 2 20
42.1 Điều kiện môi trường 20
-
trong thời gian thí nghiệm 18
Hình 4.3: Nhiệt độ trung bình lúc 7 giờ và 14 giờ của các bể thí nghiệm 21
Hình 4.4: pH trung bình của các bể nuôi thí nghiệm 24
Hình 4.5: Biến động NH
3
(mg/l) theo thời gian nuôi 25
Hình 4.6: Hàm lượng NO
2
-
trong các bể thí nghiệm 26
Hình 4.7: Năng suất sinh khối (kg/2m
3
) thu được sau 14 ngày nuôi 28
Hình 4.8: Artemia bị dính chân khi cho ăn bột đậu nành 30
sinh khối nuôi ngoài ao thì sinh khối nuôi trong bể có ưu điểm là có thể thu
theo kích thước mong muốn để phù hợp với kích cỡ bắt mồi của ấu trùng tôm
cá, đồng thời có thể kiểm soát được chất lượng dinh dưỡng, nguồn bệnh và
không phụ thuộc vào mùa vụ. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nuôi sinh khối
Artemia trên bể lót bạt với mật độ cao” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu
Tìm hiểu khả năng nuôi sinh khối mật độ cao trên bể lót bạt, hướng tới
phục vụ cho các trại giống thủy sản trong nuôi vỗ cá bố mẹ và ương nuôi
giống.
1.3 Nội dung
+ Khả năng sử dụng một số phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho
Artemia
+ Theo dõi tỷ lệ sống, tăng trưởng và năng suất sinh khối khi nuôi
Atemia ở các mật độ khác nhau (1.000, 1.500 và 2.000 con/L)
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế
Artemia urmiana
Artemia monica
Artemia pathenogentica
Trong sáu dòng trên thì có năm dòng đầu là lưỡng tính và dòng cuối
cùng là trinh sản.
2.1.2 Phân bố và môi trường sống
Theo Sorgeloos (1986) các quần thể Artemia được tìm thấy ở hơn 300
hồ tự nhiên và nhân tạo trên thế giới với các vùng địa lý khác nhau, Artemia
có khả năng sống rất tốt trong nước biển tự nhiên nhưng vì cơ thể không có
khả năng lẩn tránh kẻ thù nên chúng không thể phát tán ngang các biển nơi có
quá nhiều loài cạnh tranh và địch hại. Do vậy Artemia phân bố chủ yếu ở vùng
nước có độ mặn cao (trên 70‰) để hạn chế kẻ thù. Chúng có thể sống ở cả độ
mặn gần bảo hoà (250‰). Artemia sống được trong môi trường có nhiệt độ từ
6-35
o
C và sự thích ứng này tuỳ theo dòng, thường sinh trưởng và sinh sản tốt
từ 24-32,5
o
C, ngưỡng gây chết 0
o
C và 37-38
o
C nếu kéo dài, pH thích hợp cho
chúng phát triển là 7,5-8 (Sorgeloos, 1986). Ở Việt Nam hiện nay đang nuôi
rộng rãi Artemia thuộc dòng Franciscana FSB (Mỹ), gần như loài này đã
được thuần hóa với môi trường nước ta, chúng có thể phát triển tốt trong điều
kiện:
Độ mặn: 80-120‰.
Nhiệt độ: 22-35
o
kích thước nhỏ từ 1-50m ở trong nước như tảo, mùn bã. Giai đoạn này, giá
trị dinh dưỡng giảm xuống còn 22- 39 %.
Ấu trùng phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ 28
o
C, độ mặn 35 ‰.
Ấu trùng sinh trưởng và trải qua 15 lần lột xác khác nhau, sau mỗi lần
có sự biệt hoá về hình dạng và kích thước để trở thành Artemia trưởng thành
(Sorgeloos et al., 1986). Hình 2.2: Hình mô phỏng ấu trùng và Artemia trưởng thành (nguồn:
http://www,captain,at/Artemia/)
Từ giai đoạn 10 trở đi, Artemia có sự thay đổi đáng kể về hình thái và
chức năng, Râu mất dần chức năng ban đầu của chúng và có sự khác biệt ở cá
thể đực, cái. Ở con đực, râu phát triển thành mấu bám trong khi ở con cái, râu
phát triển thành phụ bộ cảm giác.
Artemia trưởng thành dài 8- 10 mm, có những mắt kép có cuống ở hai
bên, có râu cảm giác, ruột thẳng và 11 đôi chân ngực trên thân. Con đực có
một cặp cơ quan giao cấu ở phần sau của vùng thân. Ở con cái có đôi buồng
trứng nằm ở hai bên ống tiêu hoá sau các chân ngực.
2.1.4 Tính ăn của Artemia
Theo Reeve (1963) thì Artemia là loài sinh vật ăn lọc không chọn lựa,
và chúng có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như mùn bã hữu cơ, tảo
đơn bào và vi khuẩn có kích thước nhỏ hơn 50µm. Trong nghề nuôi Artemia
trên ruộng muối, nông dân thường sử dụng phân chuồng (chủ yếu là phân gà)
kết hợp với phân vô cơ (URE, DAP,…) để gây màu. Phân gà được bón trực
tiếp vào ao nuôi, ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng kích thích tảo phát
triển, nó còn là nguồn thức ăn trực tiếp cho Atemia. Xuất phát từ đặc điểm sinh
học của Artemia là loài ăn lọc không chọn lựa, có thể ăn bất kỳ loại thức ăn
nào vừa với miệng của chúng (<50µm), nhiều loại thức ăn thương mại và phụ
thức ăn khuê tảo, lòng đỏ trứng, cám gạo. Kết quả cho thấy cám gạo là thức ăn
tốt cho Artemia.
Ngô Thị Thu Thảo (1992) đã nghiên cứu việc sử dụng các nguồn thức
ăn khác nhau để nuôi sinh khối Artemia, sau 3 tháng nuôi năng suất sinh khối
thu được từ nghiệm thức nước xanh có bón phân gà và bổ sung cám gạo đạt
năng suất 2,6 tấn/ha.
Nguyễn Thị Ngọc Anh (1994) đã thử nghiệm sản xuất Artemia trong hệ
thống nước tĩnh. Khối lượng sinh khối thu được cả hai vụ là 2.109,7 kg và
52,1 kg trứng cyst.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức nước trong ao nuôi khác nhau đến
năng suất sinh khối (Nguyễn Thị Ngọc Anh et al., 1997).
Nghiên cứu ảnh hưởng chu kỳ nuôi đến năng suất sinh khối của
Nguyễn Thị Ngọc Anh et al., 1997, năng suất sinh khối thu được từ nghiệm
thức một chu kỳ là 2,3 tấn/ha/vụ và 3,8 tấn/ha/vụ ở nhiều chu kỳ.
Nguyễn Thị Ngọc Anh và Nguyễn Văn Hòa, 2004 đã nghiên cứu sự
ảnh hưởng của phương pháp thu hoạch đến năng suất sinh khối Artemia ở
ruộng muối. Thu hoạch sinh khối được bắt đầu sau 18-20 ngày nuôi đối với
NT1 (thu mỗi ngày) và NT2 (3 ngày thu một lần), sau 16 tuần nuôi thì năng
suất sinh khối trung bình NT2 cao hơn NT1. Ngoài thu sinh khối, cả hai
nghiệm thức còn thu được trứng bào xác Artemia với năng suất trung bình là
19,8 và 27,6 kg trứng tươi/ kg/ha/vụ ở NT1 và NT2.
Ảnh hưởng của tảo Chaetoceros sp lên chất lượng Artemia sinh khối
(Huỳnh Thanh Tới, Nguyễn Thị Hồng Vân Dương Thị Mỹ Hận và Nguyễn
Văn Hòa, 2006). Kết quả Artemia cho ăn bằng Chaetoceros sp cho tỷ lệ sống
cao, và tảo Oscillatoria thì Artemia chết toàn bộ sau 6 ngày nuôi.
2.3 Giá trị dinh dưỡng của Artemia
Sinh khối Artemia được sử dụng rộng rãi trong ương nuôi các loài thủy
sản, hàm lượng acid béo mạch cao nối đôi có trong Artemia sinh khối đóng
vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài thủy sản (Treece, 2000 trích dẫn
lượng khô gồm các protein, acid amin, chứa hàm lượng Vitamin, các
hormoon,…
Artemia có khả năng tồn tại trong nước ngọt vài giờ, chúng có tập tính
bơi lội chậm chạp, đây là điều kiện cho các động vật thủy sản săn bắt mồi dễ
dàng. Do đó, nếu sử dụng sinh khối Artemia làm thức ăn cho ấu trùng ở những
ngày tuổi thích hợp sẽ tiết kiệm được thời gian rượt đuổi con mồi và ấu trùng
sẽ tăng trưởng nhanh hơn.
Tiết kiệm được chi phí về thức ăn trong ương nuôi ấu trùng so với sử
dụng trứng Artemia (lên đến 60%) và qua nghiên cứu người ta còn cho rằng
việc sử dụng sinh khối có thể làm giảm tính ăn thịt lẫn nhau ở các loài ăn thịt.
Artemia có thể nuôi sinh khối ở nồng độ muối thấp, có thể nuôi trong
phòng hay ngoài trời, do đó có thể sản xuất quanh năm mà không phụ thuộc
vào mùa vụ và khí hậu.
Khi nuôi trên bể, có thể thu hoạch sinh khối Artemia theo kích cỡ mong
muốn, việc giàu hóa Artemia cũng dễ dàng hơn so với sinh khối ngoài ao.
Sinh khối Artemia có thể sử dụng ở dạng đông lạnh hay sấy khô.
Artemia sinh khối còn được sử dụng trong chế biến thức ăn nhân tạo cho ấu
trùng tôm cá. Ngoài ra, sinh khối Artemia đông lạnh có thể được dùng làm
nguyên liệu bổ sung hoặc thay thế giun nhiều tơ trong khẩu phần nuôi vỗ
thành thục tôm thẻ chân trắng bố mẹ (Naessens et al., 1997). Hiện tại, Công ty
Duyên Hải Bạc Liêu đã và đang sử dụng sinh khối Artemia đông lạnh nhập từ
Mỹ để phối chế thức ăn trong nuôi vỗ thành thục tôm thẻ chân trắng.
van điều chỉnh, que sụt khí.
Túi lọc nước 5 µm, 100 µm, lưới lọc thức ăn 50 µm.
Hóa chất: Formol 38%, chlorine, Thiosulphat Natri, Lugol, test
chlorine.
Một số dụng cụ cần thiết khác
Thức ăn: cám gạo, bột đậu nành tươi – rang, bột mì tinh, men ủ (men
bánh mì) được mua ở đại lý thức ăn gia súc.
3.1.2 Nguồn trứng Artemia
Trứng Artemia franciscana Vĩnh Châu thu từ vụ sản xuất trước, được
sấy khô và bảo quản kỹ.
3.1.3 Nguồn nước
Nguồn nước mặn được bơm trực tiếp từ ao sản xuất qua lưới lọc 5 µm
có độ mặn 57‰.
3.1.4 Thời gian và địa điểm
Thời gian: 3 tháng (từ tháng 03/2009-06/2009)
Địa điểm: Trại thực nghiệm Vĩnh Châu – Khoa Thủy sản, trường Đại
học Cần Thơ (tại ấp Biển Dưới, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc
Trăng).
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Xử lý nước
Nước nuôi Artemia được lấy trực tiếp từ ao sản xuất qua túi lọc 5 µm
có nồng độ muối 57‰. Sau đó, nước được xử lý bằng chlorine với nồng độ 30
ppm. Khuấy cho hóa chất tan trong nước rồi tạt vào bể và để yên trong 1 giờ.
Sau đó tiến hành sục khí liên tục trong 2 ngày để lượng hóa chất tồn dư bị loại
ra khỏi nguồn nước xử lý. Trước khi sử dụng phải kiểm tra lượng chlorine tồn
dư trong nước bằng thuốc thử chlorine, nếu không thấy màu vàng xuất hiện thì
có thể sử dụng, ngược lại, nước có màu vàng (vẫn còn chlorine) thì cần trung
hòa bằng bằng Thiosunphat Natri (Na
2
S
D: mật độ nuôi (cá thể/L)
S: diện tích nuôi (m
2
)
De: chiều cao cột nước (m)
300000: số ấu trùng nở từ 1g trứng khô
Dụng cụ cho nở là xô nhựa có thể tích 4 L/xô (thí nghiệm 2) và chai
nước khoáng 1,5 L (thí nghiệm 1).
Cung cấp ánh sáng bằng đèn neon liên tục trong suốt quá trình ấp trứng,
đèn đặt cách xô ấp 20 cm.
Nhiệt độ ấp: ấp ở nhiệt độ phòng (28 – 30
o
C)
Độ mặn: 30‰
Mật độ ấp: 3g/lít
Sục khí mạnh và liên tục
Hình 3.1: Cân và cho nở trứng Artemia
Sau 18-20 giờ, quan sát thấy trứng đã nở thì tiến hành thả giống. Lúc
này, đa số ấu trùng ở gia đoạn Instar I (khả năng thích ứng cao với những biến
đổi của môi trường) rất thuận lợi trong việc cấy thả (Nguyễn Văn Hòa et al.,
2007).
3.2.4 Thả giống
Thả giống ở giai đoạn Instar I vào buổi chiều mát (6
h
30).
Hình 3.2: Artemia giai đoạn Instar I
3.2. 5 Phương pháp bố trí thí nghiệm
3.2.5.1 Thí nghiệm 1
tinh. Tuy nhiên cám ủ men có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn bột mì tinh, vì
thế nghiệm thức cho ăn bằng cám ủ men có tăng trưởng nhanh hơn. Do đó
chọn cám ủ là thức ăn cho Artemia để nuôi sinh khối trên bể.
● Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trong bể lót bạt xanh, mực nước ban đầu 40 cm,
từ ngày thứ 4 về sau mực nước được nâng lên 45 cm, nauplii Artemia được bố
trí với 3 nghiệm thức (NT) tương ứng với 3 mật độ và 3 lần lặp lại/ NT.
NT1: 1000 nauplii/L
NT2: 1500 nauplii/L
NT3: 2000 nauplii/L
Hình 3.3 : Bể thí nghiệm nuôi Artemia sinh khối
● Chăm sóc và quản lý
Theo Nguyễn Văn Hòa (2007), theo dõi thường xuyên ao nuôi là hoạt
động cần thiết giúp cho việc quản lý và điều chỉnh ao kịp thời. Do đó, trong
thời gian thí nghiệm theo dõi các chỉ tiêu sau:
Bảng 3.1: Theo dõi một số yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Yếu tố Chỉ tiêu Số lần theo dõi
Lý học
Độ mặn
Nhiệt độ
pH
Độ trong
Ôxy
1 lần/ngày
2 lần/ngày
2 lần/ngày
2 lần/ngày
1 lần/ngày
Hóa học
+ Xác định chiều dài: thu ngẫu nhiên trong bể, cố định bằng Formol sau
đó đo 30 cá thể dưới kính hiển vi (đo từ dỉnh đầu đến chạt đuôi).
+ Xác định trọng lượng: cân 1g Artemia, cố định bằng Lugol sau đó
đếm số cá thể hiện diện trong 1 g.
3.2.6 Thu hoạch
Sau 14 ngày nuôi thì tiến hành thu hoạch Artemia trong bể.
Cách thu hoạch: tắt sục khí dùng lưới 1 mm thu hoạch sinh khối, tháo
cạn 50% nước trong bể và dùng vợt thu sinh khối còn lại, sau đó đem cân. Hình 3.4: Thu hoạch sinh khối Artemia
3.3 Phương pháp tính toán một số chỉ tiêu
- Tỷ lệ sống (%): SR
SR =
Do
Dt
*100
Do: số cá thể ban đầu
Dt : số cá thể cuối
- Chiều dài (mm)
L =
10
1
x
A
L: chiều dài
A: số vạch đo được
Chương 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Thí nghiệm 1
4.1.1 Điều kiện môi trường
Nhiệt độ
Trong thời gian làm thí nghiệm, nhiệt độ trong phòng được ghi nhận là
dao động trong mức 28-30
o
C. Kết quả này phù hợp với Lê Lệ Hiền (2000) khi
nuôi Artemia sinh khối trong bể bố trí trong phòng thì nhiệt độ nằm trong
khoảng 28
o
C-30
o
C và đây là khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của
Artemia.
pH
Sau 14 ngày nuôi, sự biến động pH giữa các nghiệm thức như sau:
7.6
7.8
8
8.2
8.4
8.6
5 8 11 14
) và ammonium
(NH
4
+
).
Trong thời gian thí nghiệm, sự biến động hàm lượng NH
3
và NO
2
-
được
ghi nhận như sau:
0
0.1
0.2
0.3
0.4
5 8 11 14
Ngày
NH3 (mg/l)
ĐNR
ĐNT
CG
CU
MT
Hình 4.2a: Biến động hàm lượng NH
3
(mg/L) trong thời gian thí nghiệm