LUẬN văn THẠC sĩ LỊCH sử ĐẢNG ĐẢNG LÃNH đạo TĂNG CƯỜNG mối QUAN hệ GIỮA ĐẢNG với NHÂN dân từ năm 1986 đến năm 1996 - Pdf 40

2

BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương

BCHTƯ

Chủ nghĩa cộng sản

CNCS

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH

Hội đồng nhân dân

HĐND

30

Chương 2: ĐẢNG CHỈ ĐẠO TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ
GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN, THÀNH TỰU VÀ
KINH NGHIỆM

45

2.1. Đảng chỉ đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996

45

2.2. Thành tựu và kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo
tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm
1986 đến năm 1996
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài

55
90
93


3

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, song quần chúng

lịch sử: đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh,
chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh vững chắc, quan hệ đối ngoại
được mở rộng. Bên cạnh những thời cơ và thuận lợi, nước ta còn đối mặt với
những khó khăn, thách thức lớn. Mặt trái của cơ chế thị trường tạo ra sự phân hoá
giàu nghèo trong nội bộ nhân dân dẫn đến sự biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội, các
hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối
sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm xói mòn quan hệ giữa
Đảng với nhân dân. Mặt khác, các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, lợi dụng các vấn đề phức tạp và
nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để phá hoại, chia rẽ mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân, làm suy giảm lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của
Đảng nhằm mục đích cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ
XHCN ở nước ta. Những tác động đó ảnh hưởng đến chủ trương tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ mới của Đảng ta hiện nay.
Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, Đảng phải phát huy được sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự nghiệp đổi mới đặt ra nhiều vấn đề mới
cần phải giải quyết, trong đó việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rút ra
những bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân
dân là vấn đề có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả chọn đề tài: “Đảng lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996” làm luận văn thạc sĩ lịch sử
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hy vọng góp phần làm sáng
tỏ hơn chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới.
2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là vấn đề lớn và quan
trọng, nhất là trong thời kỳ đổi mới hiện nay đã được các đồng chí lãnh đạo


5

6

các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa quy chế dân chủ ở cơ sở đi vào cuộc sống,
thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra trong quá trình xây dựng,
hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách.
Vũ Oanh, Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1990. Cuốn sách gồm một số bài viết của đồng chí Vũ Oanh
giới thiệu Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ Đảng khoá VI “Về đổi
mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và
nhân dân”. Các bài viết làm rõ sự cần thiết phải đổi mới công tác quần chúng
của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, tập trung phân
tích bốn quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng của Đảng trong tình hình
mới, nội dung đổi mới công tác quần chúng của Đảng, Nhà nước và các đoàn
thể nhân dân, nhấn mạnh sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tạo thành phong trào quần
chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo đảm cải thiện đời sống, tăng cường
mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Nhóm các sách chuyên luận, chuyên khảo được xuất bản như: PTS
Đàm Văn Thọ, PTS Vũ Hùng: Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng
Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1997. TS Nguyễn Văn Sáu,
PGS, TS Trần Xuân Sầm, PGS, TS Lê Doãn Tá: Mối quan hệ giữa Đảng và
nhân dân trong thời kỳ đổi mới đất nước - vấn đề và kinh nghiệm, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002. PGS, TS Trần Hậu: Đoàn kết dân tộc một đường
lối đúng đắn không thể phủ nhận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, Tăng cường đoàn kết dân tộc phát huy sức
mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000. PGS, TS Phùng Hữu Phú, Chiến lược đoàn kết dân tộc của Hồ Chí
Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995...
Các công trình khoa học trên tập trung làm rõ hai nội dung cơ bản:




8

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của thanh niên, phụ nữ
trong sự nghiệp đổi mới. Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảm bảo vai trò của
thông tin đại chúng và nắm bắt dư luận xã hội trong xây dựng Đảng hiện
nay...
Nhóm các luận văn, luận án đã bảo vệ như: Luận văn thạc sĩ lịch sử
của Trần Đình Định (1999) Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân thời kỳ đổi mới 1986 - 1999. Luận văn thạc sĩ lịch sử của Trần Xuân
Thuyết (2006) Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước từ 1996 đến 2005.
Các luận văn trên đã luận giải, làm rõ Đảng lãnh đạo xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước là
một đòi hỏi khách quan. Đồng thời phân tích, trình bày có hệ thống chủ
trương và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong thời
kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước từ năm 1986 đến năm 2005. Trên
cơ sở đó đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, đề xuất những kinh
nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng để vận dụng vào xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Các luận văn đều khẳng định phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân
tộc là vấn đề mấu chốt để tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân được các luận văn đề cập ở mức độ
khác nhau, tập trung nhấn mạnh: Đảng phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ
dân tộc và giai cấp, kết hợp hài hòa lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp và lợi ích
cá nhân. Thực chất công tác dân vận là tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
và nhân dân, công tác dân vận cần hướng vào việc chăm lo đến lợi ích thiết

định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Các bài
viết luận giải, phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết


10

dân tộc trong giai đoạn mới. Trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân
tộc để không ngừng củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Dương Quốc Dũng, Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở
liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí
thức, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 63 (2000). Nguyễn Quang
Du, Tăng cường khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức trong thời kỳ mới, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 2
(2002). Các bài viết khẳng định khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên nền tảng
vững chắc của liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo vừa đảm bảo
được tính định hướng chính trị, đoàn kết trên lập trường cách mạng của giai
cấp công nhân, vừa quy tụ, phát huy tiềm năng cách mạng của các lực lượng
xã hội đông đảo có lợi ích căn bản thống nhất với nhau là động lực thúc đẩy
khối đại đoàn kết toàn dân tộc phát huy sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn
Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Những công trình trên đã đề cập ở các khía cạnh khác nhau về mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu
nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng tăng
cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong thời kỳ đổi mới từ năm
1986 đến năm 1996 dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng. Song những công
trình khoa học nêu trên là nguồn tài liệu quý để tác giả tham khảo, kế thừa
trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
3- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng tăng

phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh... trong từng nội dung cụ thể.
6- Ý nghĩa của luận văn


12

Thành công của luận văn góp phần làm sáng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo
của Đảng trong quá trình lãnh đạo tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996.
Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn tăng cường mối quan hệ giữa Đảng
với nhân dân trong 10 năm đầu đổi mới sẽ góp phần tăng cường hơn nữa mối
quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn
học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7- Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
VỀ TĂNG CƯỜNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996

1.1. Yêu cầu khách quan về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và
quần chúng nhân dân
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra
lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân đóng vai trò

giải phóng quần chúng khỏi ách áp bức và bóc lột. Quần chúng cần có Đảng
với tư cách là người lãnh đạo họ trong cuộc đấu tranh ấy. Nếu không có sự
đồng tình và ủng hộ của quần chúng thì mọi đường lối, chủ trương của Đảng


14

không thể trở thành hiện thực. V.I.Lênin coi sự đồng tình và ủng hộ của các
tầng lớp nhân dân là điều kiện và mục tiêu hoạt động của giai cấp vô sản:
Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động
đối với đội tiên phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì
cách mạng vô sản không thể thực hiện được... Cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản để giành lấy sự đồng tình, để giành lấy sự ủng hộ của đa
số nhân dân lao động[29, tr.251].
Theo V.I.Lênin, sau khi giành được chính quyền, để bảo đảm cho
cuộc cách mạng vô sản đi đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng Cộng sản với tư cách
là người lãnh đạo không được tách khỏi quần chúng mà vẫn phải:
Liên hệ với quần chúng
Sống trong lòng quần chúng
Biết tâm trạng quần chúng
Biết tất cả
Hiểu quần chúng
Biết đến với quần chúng
Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng
Những người lãnh đạo không được tách khỏi quần chúng bị lãnh đạo, đội tiên
phong không được tách rời khỏi toàn bộ đội quân lao động [30, tr. 608].
Sự nghiệp xây dựng CNXH và CNCS là hoàn toàn mới mẻ và vô cùng
khó khăn, sự nghiệp đó chỉ có thể thành công nếu Đảng tổ chức và phát huy
được tính sáng tạo của quần chúng. V.I.Lênin chỉ ra rằng những người cộng
sản chỉ như những giọt nước trong đại dương nhân dân mênh mông và chỉ

tuệ và sự sáng tạo trong việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân tham
gia xây dựng CNXH, qua đó xây dựng Đảng vững mạnh về mọi mặt.
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân
Ngay từ đầu và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn quan tâm đặt biệt đến quần chúng nhân dân lao động, bản thân


16

Người là tấm gương và biểu tượng cao đẹp của mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc
và tinh hoa văn hoá nhân loại, nhận thức và vận dụng sáng tạo những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng trong lịch
sử, về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân vào thực
tiễn cách mạng Việt Nam và có những bước phát triển nâng lên một tầm cao
mới. Người chỉ rõ: sự gắn bó giữa Đảng và nhân dân có cơ sở sâu xa ở sự
thống nhất về những lợi ích cơ bản. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự
lợi ích của giai cấp, của dân tộc, nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh của
Đảng, là nguồn gốc tạo nên thắng lợi của cách mạng. Tăng cường mối quan
hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề thuộc về bản chất cách mạng
của Đảng, là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy cách mạng phát
triển tiến lên. Sức mạnh của Đảng do nơi dân mà có, dân là quý nhất, là quan
trọng hơn hết: trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới
không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Sức mạnh đó thể hiện
ở quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực đó chính là do nhân dân ủy thác
cho Đảng. Người đưa ra luận điểm quan trọng: cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng chứ không phải là của cá nhân anh hùng nào, tất cả quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, việc nước là việc chung của
mỗi người con Rồng cháu Tiên, nước lấy dân làm gốc, bao nhiêu lợi ích đều
vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi

người đầy tớ của nhân dân.
Liên hệ với quần chúng, chăm lo củng cố, hoàn thiện mối quan hệ giữa
Đảng với nhân dân là mối quan tâm thường xuyên của Hồ Chí Minh. Giữ
vững và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là một quá trình
liên tục, bền bỉ phấn đấu của Đảng, là sự tác động qua lại giữa Đảng và nhân
dân. Trong mối quan hệ đó, Đảng có trách nhiệm chính, Đảng phải chủ động
liên hệ mật thiết với quần chúng, kiên quyết giữ vững liên minh công nông


18

trong các giai đoạn cách mạng, bảo đảm thực hiện Mặt trận dân tộc thống
nhất chặt chẽ và rộng rãi, đoàn kết được tất cả mọi người yêu nước. Hồ Chí
Minh cho rằng thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy
lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu
dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh
rút ra kết luận: “Đảng mạnh tức là dân mạnh, dân mạnh thì Đảng mạnh, dân,
Đảng mạnh thì chúng ta nhất định thắng lợi” [39, tr. 517].
Khi trở thành Đảng cầm quyền, nhiệm vụ của Đảng càng to lớn hơn,
toàn diện hơn, tất cả mọi việc, từ đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng
CNXH, đến cả tương, cà, mắm, muối của dân, Đảng đều phải lo. Trách nhiệm
của Đảng là phải chăm lo củng cố sức mạnh cho dân, quan tâm đến cuộc sống
của nhân dân. Khi đã giành được chính quyền, mối quan hệ giữa Đảng với
nhân dân càng phải được chú ý đặc biệt vì có thể có nhiều căn bệnh dễ nảy
sinh làm tổn hại đến mối quan hệ vốn đã gắn bó giữa Đảng với nhân dân
trong thời kỳ đấu tranh cách mạng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải lắng nghe
ý kiến của nhân dân, học hỏi nhân dân vì không học hỏi dân thì không lãnh
đạo được dân, có biết làm học trò dân mới làm được thầy học dân. Để chữa
căn bệnh quan liêu và chủ nghĩa cá nhân, theo Người, phải đặt lợi ích nhân
dân lên trên hết, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, sẵn sàng học hỏi nhân dân, tự

Qua 10 năm cả nước quá độ lên CNXH, bên cạnh một số thành tựu đạt
được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhìn chung mối quan hệ giữa
Đảng và nhân dân thời kỳ 1976-1985 bộc lộ nhiều hạn chế, thậm chí có lúc, có
nơi có biểu hiện lỏng lẻo và rạn nứt, tình trạng mất dân chủ diễn ra ở nhiều nơi,
nhiều cấp, đặc biệt ở cấp cơ sở, quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm, cơ chế
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ chưa được thực
hiện có nền nếp với quy chế đồng bộ, thống nhất. Niềm tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành, quản lý của Nhà nước bị giảm sút nghiêm


20

trọng. Thực trạng suy giảm của mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân do nhiều
nguyên nhân, nhưng nổi lên là các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách
lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện của Đảng.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng
Đảng vẫn thực hiện phương thức lãnh đạo mang nặng tính chất hành chính,
quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, có biểu hiện bao biện, làm thay
Nhà nước. Bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở còn cồng
kềnh, kém hiệu lực. Khi đề ra chủ trương, chính sách kinh tế còn mang
nặng yếu tố chủ quan, duy ý chí, suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng
vội, không tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan, không chấp hành
nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng làm cho tình hình kinh tế xã hội đất nước không được cải thiện. Mọi động lực về lợi ích của người
lao động bị triệt tiêu, năng suất lao động giảm, quyền làm chủ của người
lao động trở thành hình thức, không có trên thực tế. Xó hội bắt đầu có xu
hướng tự phát, lộn xộn, vô tổ chức, thiếu kỷ cương, quản lý xó hội, quản lý
kinh tế bị buụng lỏng, trong chỉ đạo chưa coi trọng việc phân tích dư luận
quần chúng, những hiện tượng gia trưởng, độc đoán, thành kiến với quần
chúng tốt không được phê phán kịp thời. Tiếp theo là những sai lầm trong

Không chỉ riêng cơ quan lónh đạo của Đảng xa dân mà ngay tổ chức cơ sở
đảng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở cũng xa cách nhân dân.
Nội dung, phương thức lónh đạo không được đổi mới dẫn đến vai trũ cỏc tổ
chức đảng không được phát huy, sức chiến đấu giảm sút, tổ chức đảng không trở
thành cầu nối giữa Đảng với nhân dân. Thêm vào đó, khuynh hướng phổ biến
coi nhẹ vai trũ và trỏch nhiệm của tổ chức đảng so với các cơ quan Nhà nước và
các tổ chức kinh tế đó đặt tổ chức đảng vào vị thế thứ yếu trong đời sống kinh tế
- xó hội. Ngoài ra, tỡnh trạng chậm thể chế húa cỏc văn bản hướng dẫn và nội
dung công tác lónh đạo đó gõy ra khụng ớt khú khăn, lúng túng cho công tác vận
động quần chúng của Đảng. Sự hạn chế về năng lực, trỡnh độ và vai trũ của bớ


22

thư và cấp ủy cũng góp phần làm giảm sự gắn bó giữa Đảng và dân. Một số tổ
chức đảng chưa phát huy được vai trũ lónh đạo, sinh hoạt mang tính hỡnh thức,
thiếu khả năng thu hút những quần chúng ưu tú vào Đảng. Vỡ sự cỏch biệt trong
cỏc thế hệ đảng viên, sự “lóo húa” trong Đảng làm hạn chế khả năng Đảng thâm
nhập sâu vào các tầng lớp nhân dân, các lĩnh vực của đời sống xó hội và cỏc
ngành mũi nhọn khỏc đũi hỏi cú trỡnh độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ cao.
Để giữ vững vai trũ lónh đạo, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân
dân trong thời kỳ mới, Đảng phải khắc phục được tỡnh trạng quan liờu húa, xa
dõn và nõng cao vai trũ, sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức đảng.
Ba là, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, cuộc đấu tranh
chống quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xó hội chưa đạt hiệu quả cao làm
giảm uy tín của Đảng, giảm lũng tin của nhõn dõn vào Đảng.
Đảng liên hệ với quần chúng nhân dân không chỉ bằng đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng mà cũn thụng qua tổ chức cơ sở đảng, trực tiếp là
đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sau khi có đường lối, đội ngũ cán bộ, đảng viên là
người trực tiếp đưa đường lối của Đảng vào quần chúng, quan hệ giữa Đảng và

Trong thời gian qua, công tác quần chúng của Đảng đó được nhiều nơi chú
ý hơn, gắn công tác xây dựng Đảng với củng cố Mặt trận và các đoàn thể nhân
dân, phân công đảng viên làm công tác quần chúng. Tuy nhiên, công tác quần
chúng của Đảng cũn bộc lộ nhiều yếu kộm thể hiện rừ nhất là nhiều cấp ủy cũn
lỳng tỳng trong chỉ đạo công tác vận động quần chúng. Nhiều tổ chức quần
chúng của Đảng trước đây làm tốt công tác vận động quần chúng như đoàn
thanh niên, hội phụ nữ... thỡ nay đang tỏ ra bất cập về khả năng thu hút đoàn
viên, hội viờn của mỡnh do cỏc tổ chức đó không thỏa món được nguyện vọng
và đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân. Đáng lo ngại là những địa
bàn tập trung đông dân cư như làng, xó, phường các tổ chức đoàn thanh niên, hội
phụ nữ trở thành hỡnh thức, thiếu nội dung để hoạt động. Nhiều đảng viên chưa
gương mẫu trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách, các quy định của
Nhà nước và địa phương. Do vậy, đảng viên ở các phường, xó tuy có số lượng


24

đông, chiếm tỉ lệ cao trong dân cư nhưng ít tác dụng, chưa trở thành tấm gương
sáng cho nhân dân học tập, noi theo.
Đoàn kết thống nhất đó trở thành một truyền thống cực kỡ quý bỏu của Đảng
và nhân dân ta nhưng từ khi cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới một số
đơn vị, địa phương đó xảy ra mất đoàn kết nghiêm trọng kéo dài. Sự mất đoàn kết
những năm qua trong nội bộ Đảng phần lớn do chủ nghĩa cá nhân, tham vọng về
quyền lực, tranh công đổ lỗi, cục bộ địa phương, gia trưởng, độc đoán, chuyên
quyền, mất dân chủ, xem thường tập thể... đó gõy nờn những hậu quả rất nặng nề
làm giảm lũng tin của nhõn dõn đối với Đảng. Ở những nơi mất đoàn kết, đảng viên
tư tưởng phân tán, bè phái, không tập trung thực hiện nghị quyết của Đảng, không
quan tâm chăm lo đời sống nhân dân làm nhân dân mất chỗ dựa, mất lũng tin, từ đó
dẫn đến sự rạn nứt nghiêm trọng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Từ thực trạng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thời kỳ 1976 - 1985,

chiến đấu, hy sinh vỡ độc lập tự do dưới lá cờ vẻ vang của Đảng. Cũn Đảng
coi nhân dân là chỗ dựa vững chắc, là nguồn trí tuệ và sức sáng tạo vô tận cho
mỡnh.
Nhân dân là lực lượng cơ bản có sức mạnh to lớn để đưa đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, những sáng kiến,
nguyện vọng của nhân dân là cơ sở, nguồn gốc, là những gợi ý để Đảng xây
dựng, hoàn thiện và điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với thực
tiễn vỡ lợi ớch của nhõn dõn. Khi những sỏng kiến, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân được Đảng nâng lên thành đường lối, chính sách thỡ chớnh
nhõn dõn lại là lực lượng thực hiện đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống và
tỡm ra biện phỏp thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Thông qua việc thực hiện
đường lối, chính sách đó, nhân dân lại có điều kiện cung cấp những ý tưởng,
dữ kiện mới nảy sinh từ thực tiễn để Đảng hoàn thiện đường lối, chính sách
của mỡnh. Chớnh những sáng kiến, nguyện vọng của nhõn dõn là nguồn gốc
hỡnh thành đường lối đổi mới của Đảng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status