-3-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc
ta trong mấy nghìn năm lịch sử. Trong công cuộc đổi mới, quy luật đó được biểu
hiện tập trung ở hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN. kết hợp QP với KT là một dạng thức của việc kết
hợp hai nhiệm vụ chiến lược, là điều kiện bảo đảm thực hiện thắng lợi hai nhiệm
vụ đó trên thực tế. Đó là chủ trương đúng đắn và nhất quán của Đảng, Nhà nước
ta. Thực hiện chủ trương đó trên phạm vi cả nước đã triển khai nhiều hình thức
hoạt động phong phú, mang lại những kết quả quan trọng, góp phần giữ vững ổn
định chính trị - xã hội, kinh tế phát triển, quốc phòng được củng cố vững chắc.
Đây là một thành tựu nổi bật trong thắng lợi chung của những năm đổi mới từ
1991 đến 2001 trên đất nước ta.
Tình hình thế giới những năm từ 1991 đến 2001 diễn biến phức tạp,
CNXH tạm thời lâm vào thoái trào. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát
triển với trình độ ngày càng cao, tác động sâu sắc tới mọi mặt đời sống xã hội,
đặc biệt về khoa học công nghệ quân sự và vũ khí trang bị hiện đại. Các mâu
thuẫn của thời đại vẫn tồn tại và phát triển, có mặt còn sâu sắc hơn. Nguy cơ
chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng những cuộc xung đột vũ trang,
chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật
đổ, khủng bố diễn ra khắp nơi. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đẩy
mạnh chiến lược “Diễn biến hoà bình” kết hợp bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ
các Đảng Cộng sản và các nước XHCN còn lại. Việt Nam được chúng xác
định là một trọng điểm chống phá, nhằm xoá bỏ CNXH và sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực hiện mục tiêu trên, các thế lực thù địch tăng
cường chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh… Trên lĩnh vực kinh tế, chúng lợi
-5-
trong công cuộc đổi mới từ 1991 đến 2001” làm luận văn thạc sĩ lịch sử,
chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
-6-
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề kết hợp QP với KT ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu ở
các góc độ khác nhau như: Cuốn “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế trong
tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của Nguyễn Văn Rinh, Nxb
QĐND, H.2003; cuốn “Mấy vấn đề đảm bảo kinh tế cho quốc phòng ở nước ta
hiện nay” của Nguyễn Đường - Nguyễn Anh Bắc, Nxb QĐND, H.1986; đề tài:
“Những vấn đề kinh tế quân sự cơ bản và cấp bách ở nước ta hiện nay” (Đề tài cấp
học viện) do tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hồi chủ nhiệm đề tài, hoàn thành năm 1998.
Những cuốn sách và đề tài nêu trên đã đề cập đến những luận điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa kinh tế với chiến tranh và
quân đội; làm rõ những vấn đề có tính quy luật về kinh tế quân sự, xây dựng tiềm
lực kinh tế quân sự và đảm bảo kinh tế cho quốc phòng ở nước ta, nhằm thực hiện
thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và BVTQ Việt Nam
XHCN. Đồng thời, khẳng định vai trò của quân đội, lực lượng nòng cốt tham gia
xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn
chiến lược. Nhiệm vụ đó là sự cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII; IX của Đảng, và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quân lần thứ VII, về
việc kết hợp QP với KT trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà
nước ta.
Các bài viết và bài báo khoa học như: “5 năm thực hiện Nghị định 19/CP
của Chính phủ về công tác quốc phòng ở các bộ, ngành và địa phương - kết quả và
phương hướng” của Lê Văn Dũng, Tạp chí QPTD, số 5/2000; “Đổi mới kết hợp
Trần Đăng Bộ, HVCTQG Hồ Chí Minh, H.1999; “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa từ 1986 đến 1996” luận án tiến sĩ lịch sử của Đặng Bá Minh, HVCTQG
Hồ Chí Minh, H.2002; “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa từ 1986 đến 2001” luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Hữu
Luận, HVCTQG Hồ Chí Minh, H.2004. Những lận án trên đã đề cập đến những
chủ trương của Đảng về kết hợp QP với KT trong ngành công nghiệp thông qua
-8-
sự kết hợp giữa CNQP với công nghiệp dân dụng, đồng thời khẳng định chủ
trương đó là sự biểu hiện trên thực tế của hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và
BVTQ XHCN, có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau và kết hợp QP với
KT là một quan điểm trong chiến lược BVTQ Việt Nam XHCN.
Nhìn chung, những tài liệu trên đã cung cấp nhiều thông tin phong phú
cả về lý luận và thực tiễn về kết hợp QP với KT trong công cuộc đổi mới. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về “Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp quốc phòng với kinh tế trong công cuộc
đổi mới từ 1991 đến 2001” dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam. Nhưng những công trình, bài báo và các luận án nêu trên là nguồn tài
liệu tham khảo có giá trị cho luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích
Thông qua trình bày có hệ thống cơ sở lý luận, thực tiễn và đường lối,
sự chỉ đạo cũng như kết quả lãnh đạo của Đảng ta đối với việc thực hiện kết
hợp QP với KT từ 1991 đến 2001, rút ra một số kinh nghiệm, qua đó làm nổi
bật tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo công cuộc đổi
mới nói chung, kết hợp QP với KT nói riêng, góp phần củng cố lòng tin của
nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng.
Luận văn góp phần khẳng định tính đúng đắn sáng tạo trong đường lối
đổi mới của Đảng về kết hợp QP với KT từ 1991 đến 2001, cung cấp tư liệu
thực tiễn, cơ sở lý luận, cứ liệu phục vụ công tác lãnh đạo chỉ đạo của Đảng,
các cấp, các ngành trong thực hiện kết hợp QP với KT thời gian tiếp theo đạt
kết quả cao hơn. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu,
giảng dạy môn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các Học viện, nhà trường
trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luân văn
- 10 -
Luận văn gồm có phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), phần kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo.
- 11 -
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ KẾT HỢP
QUỐC PHÒNG VỚI KINH TẾ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
TỪ 1991 ĐẾN 2001
1.1. Chủ trương của Đảng về kết hợp quốc phòng với kinh tế trong
công cuộc đổi mới từ 1991 đến 2001
1.1.1. Kết hợp quốc phòng với kinh tế là yêu cầu khách quan trong
công cuộc đổi mới ở nước ta từ 1991 đến 2001
Kết hợp QP với KT là một hiện tượng xã hội mang tính quy luật, nảy
sinh trong xã hội có giai cấp, Nhà nước, được xuất phát từ chính mối quan hệ
giữa kinh tế với chiến tranh và quân đội, từ yêu cầu thực tiễn phải giải quyết
mối quan hệ giữa xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước của mỗi quốc gia.
nhiên, không phải cứ có kinh tế mạnh là tự khắc có quốc phòng mạnh, mà
phải thông qua sự kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng một
cách chủ động có ý thức của quá trình phát triển kinh tế với tăng cường đầu tư
cho quốc phòng.
Để bảo vệ thành quả cách mạng XHCN và sự nghiệp xây dựng CNXH,
tất yếu phải chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang vững
mạnh. Có thể nói quốc phòng cũng là một hoạt động tất yếu khách quan xuất
hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. Quốc phòng mạnh tạo ra môi trường
hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ
chính quyền và chế độ xã hội XHCN. Do vậy, kinh tế muốn phát triển ổn định
vững chắc thì phải kết hợp QP với KT. Việc đầu tư cho quốc phòng tuy rất
tốn kém nhưng đó là sự cần thiết khách quan.
Nét đặc sắc trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là tư tưởng chiến
tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để BVTQ, Hồ Chí Minh đã chủ
trương xây dựng nền QPTD, lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp xây dựng
đất nước với bảo vệ đất nước, chuẩn bị mọi mặt cho đất nước sẵn sàng tiến
- 13 -
hành chiến tranh BVTQ thắng lợi. Vì thế Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với
Đảng ta đề ra đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Người chỉ rõ "Cuộc
kháng chiến lâu dài của chúng ta được thắng lợi là do chúng ta động viên kinh
tế được thành công, vì chúng ta có biết động viên kinh tế một cách khôn
khéo, thực lực của chúng ta mới được đầy đủ và bên bỉ" [33, tr.477]. Trong
Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Chủ Tịch Hồ Chí
Minh đã nhấn mạnh: "Kháng chiến trường kỳ thì Quân đội phải đủ súng đạn,
quân và dân phải đủ ăn, đủ mặc. Nước ta nghèo, kỹ thuật ta kém, những thành
phố có chút công nghiệp đều bị giặc chiếm. Chúng ta phải dùng tinh thần
hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém về vật chất" [34,
vực khác nhau nhưng thống nhất ở mục đích chung: phát triển kinh tế làm
giàu cho đất nước và xã hội, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho củng cố
quốc phòng. Xây dựng và củng cố quốc phòng có tác dụng trở lại thúc đẩy
kinh tế phát triển, tạo môi trường hoà bình ổn định để xây dựng đất nước. Do
đó, kết hợp QP với KT là tất yếu khách quan. Đó là sự gắn kết hai nhiệm vụ
xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng trong một chiến lược chung thống
nhất, được cụ thể hoá trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở cả tầm vĩ mô
và vi mô. Mục đích của sự kết hợp này nhằm đạt được đồng thời cả lợi ích
kinh tế và quốc phòng, không vì lợi ích này mà làm tổn hại đến lợi ích khác,
đảm bảo cho cả kinh tế và quốc phòng đều mạnh.
Kinh nghiệm kết hợp quốc phòng với kinh tế trong lịch sử
Trên thế giới, từ xa xưa, khi xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và Nhà
nước, loài người đã thống nhất việc chế tạo công cụ lao động với việc sản
xuất vũ khí nhằm trang bị cho những tập đoàn người vũ trang để tiến hành các
cuộc chiến tranh và chiến tranh tự vệ. Cùng với sự phát triển của lực lượng
sản xuất, các cuộc chiến tranh cũng ngày càng mở rộng về quy mô, nó đã thu
hút vào đó ngày càng nhiều hơn lực lượng vật chất của các nước tham chiến.
Do đó, yêu cầu khách quan đòi hỏi các quốc gia độc lập có chủ quyền, dù
- 15 -
kinh tế phát triển hay kém phát triển đều phải thực hiện kết hợp QP với KT và
nó trở thành vấn đề có tính quy luật.
Ở nước ta kết hợp QP với KT luôn gắn liền với quá trình dựng nước
đi đôi với giữ nước của dân tộc qua mấy nghìn năm lịch sử. Đứng trước nguy
cơ thường xuyên bị phong kiến phương Bắc xâm lược, ông cha ta đã giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc, thực hiện kết hợp QP với KT, với tư tưởng muốn
“thủ quốc” phải "Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc". Trong thời
bình ông cha ta đã chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc nhằm
của CNXH, kinh tế phát triển toàn diện, lực lượng sản xuất được tạo lập cùng
với quan hệ sản xuất tiên tiến, đời sống nhân dân được nâng cao, quốc phòng
được tăng cường vững mạnh. Miền Bắc trở thành nhân tố quyết định đối với
cách mạng cả nước, hậu phương vững chắc của cách mạng ở miền Nam. Miền
Bắc đã chi viện đắc lực sức người, sức của cho miền Nam đánh thắng hoàn
toàn đế quốc Mỹ xâm lược. Điều đó càng khẳng định chủ trương “vừa kháng
chiến, vừa kiến quốc” của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp.
Từ 1975 đến 1991, cả nước độc lập thống nhất và quá độ đi lên CNXH,
việc thực hiện kết hợp QP với KT được Đảng ta khẳng định là một nội dung
rất quan trọng trong đường lối xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN và đã
được triển khai trên quy mô rộng lớn và toàn diện hơn. Nhất là từ 1986 đến
1991 với tư duy mới về kinh tế và quốc phòng, việc kết hợp QP với KT trên
phạm vi cả nước cũng như ở các bộ ngành Trung ương và ở các địa phương
có bước chuyển biến và đạt nhiều kết quả.
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử qua các thời kỳ ở nước ta có thể khẳng
định: Nhờ chính sách nhất quán về thực hiện kết hợp QP với KT nên mọi tiềm
năng của đất nước đều được huy động cho xây dựng phát triển kinh tế, củng
cố tiềm lực, thế trận QPTD vững mạnh từ trong thời bình, và khi đất nước bị
xâm lược đã động viên được sức mạnh tổng hợp lớn nhất đánh bại các đội
quân xâm lược trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Đó là quy luật tồn tại
- 17 -
và phát triển của dân tộc Việt Nam. Bài học quý giá đó, được Đảng ta vận
dụng và phát triển đến đỉnh cao trong thời đại mới.
Tình hình thế giới, trong nước và những vấn đề đặt ra liên quan đến
kết hợp quốc phòng với kinh tế trong công cuộc đổi mới từ 1991 đến 2001
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ có sự phát triển nhanh, sâu rộng
mang tính toàn cầu tác động sâu sắc tới lĩnh vực quân sự, xuất hiện các loại
giới, trong đó chúng coi Việt Nam là một trọng điểm. Âm mưu cơ bản, lâu dài
của các thế lực phản động là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và
chế độ XHCN ở Việt Nam, thủ tiêu nền độc lập dân tộc, chuyển hoá nước ta
theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Đồng thời chúng còn tìm cách chia rẽ Việt
Nam với các nước láng giềng và các nước bạn hữu trên thế giới.
Thực hiện âm mưu trên, các thế lực thù địch áp dụng các thủ đoạn tổng
hợp, kết hợp "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ và răn đe quân sự, trong đó
lấy "diễn biến hoà bình" kết hợp bạo loạn lật đổ làm thủ đoạn chính. Từ khi
quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết (tháng 7 năm 1995)
chúng triệt để lợi dụng sự hiện diện "phi quân sự" để đẩy mạnh "diễn biến hòa
bình" với các chiến lược "phá rã niềm tin", "khoét sâu nội bộ", "ngoại giao
thân thiện", "chi phối đầu tư" hòng xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Mỹ là
quốc gia có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn, chưa từ bỏ âm mưu xâm lược Việt
Nam, nhưng trước mắt Mỹ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam vì lợi ích
của Mỹ. Trong điều kiện đó Mỹ vừa là đối tác vừa là đối tượng của cách
mạng nước ta. Trong những năm đổi mới, chúng liên tục chống phá cách
mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá,
quốc phòng, an ninh. Âm mưu của chúng là nhanh chóng chiếm lĩnh thị
trường, khống chế về kinh tế, thúc đẩy quá trình "tư nhân hoá" "tư bản hoá"
nền kinh tế đất nước, kết hợp với tăng cường chống phá về chính trị, văn hoá,
lối sống, tình báo gián điệp, đồng thời tạo dựng lực lượng chống đối và sử
- 19 -
dụng lực lượng phản động người Việt Nam ở trong nước và lưu vong ở nước
ngoài xâm nhập về hòng gây bạo loạn lật đổ chính quyền. Đồng thời chúng
tiếp tục chuẩn bị lực lượng quân sự, khôi phục và tăng cường khối liên minh
quân sự giữa Mỹ và một số thế lực chống cộng ở khu vực Đông Nam Á. Mặt
khác, biên giới và lãnh hải của Tổ quốc luôn bị đe doạ xâm phạm, nhất là ở
gia tích cực của các cấp, các ngành, dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của
Đảng và sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Đòi hỏi trong quá trình triển khai
thực hiện các chương trình, dự án kinh tế, văn hoá và khoa học công nghệ với
đối tác nước ngoài, các cấp, các ngành, các địa phương và các đơn vị kinh tế
phải biết tự bảo vệ, nhận rõ đối tác, tỉnh táo phát hiện và đấu tranh ngăn chặn
kịp thời, có hiệu quả với mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch
lợi dụng con đường hợp tác kinh tế, văn hoá để xâm nhập, phá hoại nền độc
lập và an ninh chính trị của ta. Đồng thời cũng đòi hỏi nhiệm vụ quốc phòng
phải được tăng cường, góp phần tạo điều kiện môi trường ổn định để các đối
tác yên tâm, tin tưởng làm ăn lâu dài với ta.
Ba là, quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước sẽ có những thay đổi
về nhiều mặt và nảy sinh những mâu thuẫn mới phải được xử lý thông qua
việc kết hợp QP với KT.
Để CNH, HĐH đất nước, tất yếu phải có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu
kinh tế, hình thành nhiều vùng, ngành, khu công nghiệp, khu kinh tế mới. Do
vậy, phải điều chỉnh, bổ xung chiến lược quốc phòng, chiến lược BVTQ.
Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình có sự phân công lại
lao động xã hội, phân bố lại dân cư trên các vùng, miền đất nước và ở từng
địa phương. Điều đó, cũng phải tổ chức, bố trí và sắp xếp các lực lượng vũ
trang cho phù hợp với kế hoạch, phương án tác chiến phòng thủ trên phạm vi
cả nước và từng địa phương.
Mâu thuẫn mới nảy sinh lớn nhất là mâu thuẫn giữa khả năng có hạn
của nền kinh tế với nhu cầu phải đầu tư cho phát triển kinh tế và tăng cường
quốc phòng. Để giải quyết mâu thuẫn này, phải tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH
đất nước thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh", nhằm tạo ra cơ sở vật
- 23 -
chất kỹ thuật, xây dựng củng cố quốc phòng vững mạnh. Như vậy, trong tình
- giáo dục quốc phòng mà còn phải có hệ thống cơ chế, chính sách và giải
pháp hợp lý về kết hợp QP với KT đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền
vững, quốc phòng ngày càng được tăng cường giữ vững hoà bình, ổn định để
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo đúng định hướng XHCN.
Từ cơ sở lý luận, thực tiễn đã trình bày cho thấy việc kết hợp QP với
KT là yêu cầu khách quan và cấp thiết trong công cuộc đổi mới trên đất
nước ta từ 1991 đến 2001. Đòi hỏi các cấp, các ngành các lĩnh vực hoạt
động nhất là trên lĩnh vực kinh tế và quốc phòng phải nhận thức đầy đủ
thống nhất, có hành động đúng đắn, phối kết hợp chặt chẽ trong tổ chức
thực hiện, thể hiện tính toàn diện, đồng bộ cả về quan điểm, mục tiêu, yêu
cầu, nội dung, phương thức và giải pháp thực hiện sự kết hợp đó trong quá
trình đổi mới đất nước từ năm 1991 đến 2001.
1.1.2. Chủ trương của Đảng về kết hợp quốc phòng với kinh tế trong
công cuộc đổi mới từ 1991 đến 2001
Hầu hết các văn kiện của Đảng từ 1991 đến 2001 đều chỉ rõ: trong khi
xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, chúng ta không được xem
nhẹ, buông lơi nhiệm vụ quốc phòng BVTQ, phải kết hợp nhiệm vụ quốc
phòng với kinh tế trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
cũng như trong chiến lược và kế hoạch củng cố quốc phòng, sao cho mỗi
bước tiến của sự phát triển kinh tế là một bước tăng cường thêm tiềm lực
quốc phòng, ngược lại quốc phòng ngày càng vững chắc lại tạo thêm điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Chủ trương của Đảng về kết hợp QP với KT trong công cuộc đổi mới
từ 1991 đến 2001 được thể hiện tập trung ở những vấn đề chủ yếu sau:
Quan điểm của Đảng về sự kết hợp
Một là, kết hợp QP với KT phải toàn diện, cơ bản, lâu dài ngay từ
trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế với
- 25 -