MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN KHU 1 VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TƯ NĂM
2003 ĐẾN NĂM 2008
2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân
khu 1 về công tác dân vận (2003 2008)
2.2. Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận
(2003 2008)
2.3 Đảng bộ Quân khu 1 chỉ đạo thực hiện công tác dân vận
(2003 2008)
Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
QUÂN KHU 1 VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN VẬN
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013
3.1. Những yếu tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
Quân khu 1 về công tác dân vận (2008 2013)
3.2. Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về đẩy mạnh công tác
dân vận (2008 2013)
3.3. Đảng bộ Quân khu 1 chỉ đạo đẩy mạnh công tác dân vận
(2008 2013)
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
156
172
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, thực hiện
đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời
công tác dân vận cũng nhằm góp phần chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân;
phát huy quyền làm chủ, sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Trong bài báo Dân vận đăng trên báo Sự thật, ngày 1510 1949, Hồ Chí Minh
khẳng định: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận
kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [130, tr.
234].
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định
công tác dân vận là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với
toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là điều kiện tiên quyết bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó
giữa Đảng và nhân dân. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, giải pháp về công tác dân vận, phù hợp với từng đối
tượng, từng lĩnh vực. Đồng thời, thường xuyên đổi mới nội dung, phương
xem nhẹ công tác dân vận so với một số mặt công tác khác . Trong tổ chức các
hình thức dân vận, “một số đơn vị chưa thật sự chú trọng đến công tác tuyên
truyền vận động nhân dân cùng làm, cùng thực hiện nhiệm vụ; nội dung,
phương pháp tuyên truyền còn hạn chế” [85, tr. 8].
Hiện nay trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc
tế, công tác dân vận đang đặt ra những yêu cầu mới nhằm tạo sự đồng
thuận trong toàn xã hội, xây dựng mối quan hệ chặt ch ẽ gi ữa quân đội
với nhân dân. Cùng với đó, các thế lực thù địch tăng cườ ng chống phá
cách mạng nước ta thông qua chiến lược “di ễn bi ến hòa bình” “bạo loạn
8
lật đổ” với nhiều thủ đoạn nham hiểm tinh vi xảo quy ệt, nh ằm chia r ẽ
gây mất đoàn kết nội bộ, lôi kéo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc
nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng
sâu, vùng xa, biên giới. Thực tiễn đó, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất
lượng hiệu quả của công tác dân vận, phối hợp chặt chẽ các tổ chức, các
lực lượng tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đã có rất nhiều công trình, đề tài
nghiên cứu về công tác dân vận nói chung, trên các địa bàn vùng miền nói
riêng. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào đi sâu
nghiên cứu về qúa trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận
trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2013 dưới góc độ khoa học
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Quân khu 1 lãnh
đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên cơ sở đó đúc kết
những kinh nghiệm chủ yếu, góp phần vào việc tổng kết công tác dân vận
của Đảng, của Quân ủy Trung ương trong thời kỳ đổi mới (qua thực tế địa
bàn Quân khu 1). Đồng thời góp thêm cơ sở cho việc bổ sung, hoàn thiện
động, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận
từ năm 2003 đến năm 2013, tập trung làm rõ các vấn đề: Chỉ đạo giáo dục
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về công tác dân vận;
Chỉ đạo tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật Nhà nước; Tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở
địa phương vững mạnh; Phối hợp giúp đỡ địa phương phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội.
Về không gian: trên địa bàn Quân khu 1, bao gồm 6 tỉnh (Thái Nguyên,
Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang)
10
Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm từ
năm 2003 đến năm 2013. Năm 2003 là năm Đảng ủy Quân sự Trung ương
(nay là Quân ủy Trung ương) ra Nghị quyết 152 “Về tiếp tục đổi mới và
tăng cường công tác dân vận của lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới”,
Đảng ủy Quân khu 1 ra Nghị quyết 403 về “tiếp tục đổi mới và tăng cường
công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong thời kỳ mới”. Năm
2013 là năm Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Quân khu 1 tổng kết 10 năm
thực hiện Nghị quyết 152. Để vấn đề nghiên cứu có tính hệ thống bảo
đảm tính toàn diện, đồng thời phục vụ cho mục tiêu đúc kết kinh nghiệm,
luận án mở rộng phạm vi nghiên cứu cả trước và sau mốc thời gian trên.
4. Cở sở lý luận, thực tiễn và phươ ng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trò của quần chúng nhân dân và
công tác vận động quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng.
* Cơ sở thực tiễn
Các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
được sử dụng phù hợp với từng nội dung của lu ận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
Về tư liệu: Luận án cung cấp khối lượng tư liệu khá phong phú, cập
nhật, đáng tin cậy về chủ trương của Đảng, của Quân ủy Trung ương và
đặc biệt là chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về
công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013. Nguồn tài liệu tham khảo,
phụ lục của luận án có thể đóng góp cho việc nghiên cứu một số vấn đề
12
về công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Về nội dung khoa học:
Luận án trình bày có hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013.
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộ
Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên cả 2 bình
diện ưu điểm và hạn chế làm rõ nguyên nhân. Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu
có giá trị tham khảo, vận dụng trong lãnh đạo công tác dân vận trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa lý luận
Góp phần vào việc tổng kết công tác dân vận của Đảng trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (qua th ực t ế địa bàn Quân khu 1)
Góp thêm luận cứ cho việc hoàn thiện chủ trương, giải pháp đổi
mới công tác dân vận của Đảng và Đảng bộ Quân khu 1 trong thời gian
tới.
* Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo cho các cấp ủy đảng, các lực lượng tiến
suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Góp phần củng cố mối liên hệ
giữa Đảng và quần chúng nhân dân, làm tăng thêm sức mạnh của cách
mạng. Nhiệm vụ của các cấp ủy Đảng trong công tác vận động quần
chúng rất nặng nề, “lấy dân làm gốc” phải trở thành nền nếp của xã hội,
tất cả phải do nhân dân, vì nhân dân mới có thể thực hiện thắng lợi được
nhiệm vụ đó. Cán bộ các ngành, các cấp phải coi trọng công tác vận động
14
quần chúng, xem công tác vận động quần chúng là công việc gốc trong mọi
hoạt động cách mạng. Chỉ có như thế mới góp phần thúc đẩy phong trào
cách mạng, lấy lại lòng tin cho quần chúng nhân dân, đưa sự nghiệp cách
mạng của nhân dân đến mọi thành công.
Ban Dân vận Trung ương (1996), Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 5 năm
thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương,
khóa VI, Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân [13], đã tập trung phân tích làm rõ vị trí, vai trò,
tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng của Đảng, khẳng định
tính đúng đắn của những quan điểm chỉ đạo công tác dân vận của Đảng.
Nhận thức của các cấp ủy đảng, chinh quyên, các ngành, các c
́
̀
ấp, cán bộ và
đảng viên được nâng cao. Bước đầu nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống
chinh tr
́
ị, góp phần tăng cường và phát huy vị trí, vai trò của công tác dân
vận trong thời kỳ mới. Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng
với nhân dân, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được thực hiện ở tầm cao
ệt Nam có vị trí chí
chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội
bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất
nước. Tăng cường lanh đao, c
̃
̣ ủng cố xây dựng Hội Nông dân các cấp vững
mạnh về chinh tri, t
́
̣ ư tưởng và tô ch
̉ ưc, th
́ ực sự là lực lượng nòng cốt của
phong trào nông dân xây dựng nông thôn mới, là thành viên tích cực trong khối
đại đoàn kết toàn dân, là nhân tố quan trọng của khối liên minh giai cấp công
nông và đội ngũ trí thức nền tảng chinh tri v
́
̣ ững chắc của chế độ.
Bộ Quốc phòng (1998) Lịch sử 50 năm Quân đội nhân dân Lào 1945
1995, [26] cuốn sách đã tổng hợp lại những bài học kinh nghiệm của Đảng
nhân dân cách mạng Lào trong lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động để
tổ chức xây dựng lực lượng quân đội nhân dân Lào vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức. Quân đội nhân dân Lào là lực lượng vũ trang cách
mạng của Đảng, Nhà nước, của nhân dân các bộ tộc Lào, là đội quân của
dân, do dân và vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu đặt dưới
sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng nhân dân Cách mạng
16
ủy, đồng thời có sự đổi mới nhận thức, tư duy về công tác dân vận hiện
nay trong toàn bộ hệ thống chính trị. Phải quan tâm xây dựng được mối
quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với phong trào quần chúng, vai trò
sáng tạo của quần chúng nhân dân và cả vai trò cá nhân trong công tác dân
vận của Đảng.
Dương Xuân Ngọc (2005), “Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo tiến
hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [133], khẳng định: Công
tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp
cách mạng Việt Nam, cả trong thời kỳ chưa có chính quyền cũng như thời
kỳ Đảng cầm quyền; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của
Đảng đối với chính quyền và toàn xã hội, thắt chặt mối liên hệ máu thịt
giữa Đảng với dân. Tác giả đã đưa ra bốn quan điểm chỉ đạo công tác dân
vận dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh: công tác dân vận phải xuất phát
từ lợi ích của quần chúng nhân dân, thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân
dân; thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của công tác dân vận; Dân
vận phải hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Dân
vận và công tác dân vận là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, của toàn
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước thông qua Mặt
trận dân tộc thống nhất. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác
dân vận, tác giả chỉ rõ: Muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên
giới quốc gia, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phát triển kinh
tế xã hội thích hợp, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân các dân tộc nhất là vùng sâu, vùng xa biên giới và làm tốt
công tác dân vận.
18
́
̀
ấp để tô ch
̉ ức triển khai, thực hiện và kiểm tra công tác
dân vận của chinh quyên. Các Ban Dân v
́
̀
ận địa phương đã thành lập bộ
phận chuyên trách theo dõi công tác dân vận của chinh quyên và tham m
́
̀
ưu
cho cấp ủy chỉ đạo chinh quyên các c
́
̀
ấp về công tác quân chung.
̀
́
Đỗ Quang Tuấn (2006) Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thời kỳ đổi mới
(152) khẳng định: Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân nhằm mục tiêu củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối liên hệ giữa Đảng và nhân
dân. Trên cơ sở phân tích những ưu điểm và hạn chế về phương thức lãnh
19
đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng, tác
giả nêu lên một số bài học kinh nghiệm: Đảng phải tiếp tục nâng cao nhận
nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối
quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Vận động nhân dân thực hiện tốt
các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phát huy sức
mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, trong điều kiện đất nước có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn
diện: Kinh tế xã hội phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững và
tăng cường; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, hệ thống chính
trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Tác giả
nhấn mạnh: “Trong bất cứ hoàn cảnh và điều kiện nào cũng phải tin ở lực
lượng và sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, một lòng
một dạ phục vụ nhân dân. Linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức, tập hợp
nhân dân bằng các hình thức hoạt động thích hợp trong từng giai đoạn cách
mạng” [116, tr.4].
Nguyễn Bá Quang (2013), Học tập và làm theo phong cách “Dân vận
khéo”Hồ Chí Minh (142), đã phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân vận khéo; nêu lên những tiêu chí về mô hình và
điển hình dân vận khéo ở một số cơ sở; đề xuất một số nội dung và
phương pháp nhằm hiện thực hóa tư tưởng “Dân vận khéo” của Người
trong giai đoạn hiện nay, đó là: thực hành dân chủ, nêu gương; cải cách thủ
tục hành chính; thực hiện kỹ năng “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”;
đổi mới công tác cán bộ dân vận. Đáng chú ý là nhận định của tác giả:
“Dân vận là công tác khoa học, nhưng cũng là nghệ thuật, nhằm giải quyết
21
mối quan hệ giữa Đảng và dân. Muốn làm tốt công tác dân vận, cán bộ
phải có tâm trong sáng, có trách nhiệm, có tri thức khoa học, tóm lại phải
có tâm và có tài, như vậy mới là “Dân vận khéo” theo tư tưởng Hồ Chí
chủ, công bằng, văn minh làm mục tiêu của công tác vận động quần
chúng, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Là hạt nhân, là cơ sở vững chắc
để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác vận động quần
chúng, được thực hiện trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa
các thành viên trong xã hội, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể. Công
tác vận động quần chúng phải đượ c dựa trên cơ sở, thấm nhuần phương
châm “Vì quần chúng nhân dân, do quần chúng nhân dân”, trong công tác
vận động quần chúng phải biết phát huy những truyền thống quý báu của
dân tộc, nhất là truyền thống yêu nước [17, tr.170 183].
1.1.2. Các nghiên cứu về công tác dân vận ở các vùng miền, địa
phương
Trương Minh Dục (2008), Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc ở Tây Nguyên [102], đã đề cập đến vấn đề dân tộc, đặc điểm
kinh tế xã hội của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Phân tích làm rõ
truyền thống đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên qua các thời kỳ lịch sử,
quá trình xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc ở Tây
Nguyên. Trong cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đặc biệt là thời kỳ đổi mới; đánh giá những kết quả đã đạt đượ c và
những hạn chế, yếu kém. Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng về
đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp khá toàn
diện, đồng bộ. Nhằm xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây
23
Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, đáng chú ý là nhóm giải pháp tăng
cường công tác dân vận: Cần nhận thức đúng đắn vai trò của công tác dân
vận trong quá trình xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên. Công tác
vận động quần chúng phải thật sự hướng về cơ sở, nội dung, phương pháp
vận động phải cụ thể, thiết thực, phù hợp với trình độ nhận thức và tâm lý
bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường. Đạt được những thành
tựu trên là do sự lanh đao đúng đ
̃
̣
ắn của Đảng và sự quản lý của Nhà nước,
sự tham gia tích cực của các tô ch
̉ ưc chinh tri quân chung. Cùng v
́
́
̣
̀
́
ới những
thành quả đạt được, trong những năm đầu bước vào thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa cũng đã xuất hiện những yếu tố tiêu cực, bất ổn định, an
ninh chinh tri, tr
́
̣ ật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. Những vấn đề bức
xúc của nhân dân ở cơ sở diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Công
tác tiếp dân và giải quyết đơn thư tố cáo từ tỉnh đến cơ sở bị coi nhẹ,
không quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời, thỏa đáng những khiếu kiện
chính đáng của nhân dân.
Nguyễn Thị Lệ (2013), “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác dân vận ở Thành phố Hồ Chí Minh” [117], bài viết đã
làm rõ trong những năm qua, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn,
tình hình khu vực và thế giới diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng và tác động
trực tiếp tới địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo
của Đảng bộ, toàn hệ thống chính trị và nhân dân Thành phố đã quán triệt
và chấp hành nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước. Vững vàng, đoàn kết, năng động, sáng tạo vượt qua
nơi thường xuyên trực tiếp tiếp xúc, giải quyết các vấn đề liên quan đến dân
và doanh nghiệp, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân. Nếu chính
quyền làm không tốt công tác dân vận thì rất khó khăn cho công tác dân vận nói
chung.
Nguyễn Văn Hào (2014), “Lãnh đạo công tác dân vận vùng đồng bào dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên” [111], bài viết làm rõ trong quá trình lãnh đạo, các
cấp ủy Đảng ở Tây Nguyên luôn xác định công tác vận động đồng bào dân tộc
thiểu số. Là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, do đó đã ban hành nhiều chủ
trương, nghị quyết về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, về phát triển kinh tế
26
xã hội, giữ vững an ninh chính trị, nâng cao đời sống nhân dân trong cộng
đồng dân tộc thiểu số. Nhiều cấp ủy viên, người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền, mặt trận, đoàn thể chính trị xã hội đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm
cá nhân trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ dân vận ở cơ sở.
Thực tế cho thấy, đời sống mọi mặt của đồng bào dân tộc thiểu số
Tây Nguyên được nâng cao hay giảm sút, tình hình an ninh chính trị, trật tự
xã hội có được giữ vững hay không thuộc về trách nhiệm của các cấp ủy
Đảng, các cấp ủy viên phụ trách công tác dân vận và cán bộ, đảng viên ở
cơ sở. Vì vậy, muốn tăng cường, đổi mới công tác dân vận, ổn định chính trị,
thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống trong cộng đồng dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên. Các cấp ủy Đảng cần phải cụ thể hóa nguyên tắc tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thành quy chế, quy định để cấp ủy, cá nhân
cấp ủy viên quán triệt và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Đối với tập thể cấp
ủy, cần căn cứ yêu cầu, tình hình cụ thể, xây dựng chủ trương, chương trình
hành động hàng năm. Định hướng nội dung hoạt động, tạo thuận lợi để mặt
trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, nghị quyết về
công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số. Lãnh đạo về tổ chức, nhân
quyền cách mạng, cả dân tộc phải đương đầu với kẻ thù lớn mạnh.
1.1.3. Các nghiên cứu về công tác dân vận trong quân đội
Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1993), Đổi mới công tác dân
vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới [55], làm rõ vị
trí , vai trò của công tác dân vận và sự cần thiết phải đổi mới công tác dân
vận trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Nghiên cứu dựa trên quan điểm
của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động
quần chúng, đồng thời, xác định rõ vị trí, vai trò và nội dung công tác dân
vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới. Trên cơ sở đó,
đề xuất những kiến nghị, giải pháp tiếp tục đổi mới công tác dân vận của
Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng
28
và yêu cầu xây dựng quân đội. Công tác dân vận được coi là tiêu chí để xây
dựng bản chất và rèn luyện ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội
nhân dân Việt Nam. Công tác dân vận thực sự là một trong những điều
kiện quan trọng để quân đội ta rèn luyện, xây dựng bản chất cách mạng và
truyền thống tốt đẹp “Trung với Đảng, hiếu với dân” xây dựng nên mối
quan hệ máu thịt quân dân, tạo thành nguồn sức mạnh vô địch và ý chí
quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù, góp phần làm rạng danh Tổ quốc và
dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.
Đặng Vũ Liêm (2000), “Công tác vận động quần chúng của Bộ đội
Biên phòng góp phần xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới Tổ
quốc” [119], khẳng định, nội dung công tác vận động quần chúng không chỉ
đơn thuần tuyên truyền vận động, mà phải tiến hành toàn diện. Tham gia
xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, thực hiện các chương trình phát triển kinh
tế xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, tuyên truyền vận động nhân
dân xây dựng và bảo vệ biên giới. Trên cơ sở phân tích những chủ trương,