Luận văn tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013 - Pdf 58

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN  TÌNH HÌNH  NGHIÊN CỨU  CÓ LIÊN 
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã  
công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Chương 2 CHỦ   TRƯƠNG   VÀ   SỰ   CHỈ   ĐẠO   CỦA   ĐẢNG   BỘ 
QUÂN KHU 1 VỀ  CÔNG TÁC DÂN VẬN  TƯ  NĂM 
2003 ĐẾN NĂM 2008
2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân 
khu 1 về công tác dân vận (2003 ­ 2008)
2.2. Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận 
(2003 ­ 2008)
2.3 Đảng bộ  Quân khu 1 chỉ  đạo thực hiện công tác dân vận  
(2003 ­ 2008)
Chương 3 CHỦ   TRƯƠNG   VÀ   SỰ   CHỈ   ĐẠO   CỦA   ĐẢNG   BỘ 
QUÂN KHU 1 VỀ ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC DÂN VẬN 
TỪ NĂM  2008 ĐẾN NĂM 2013
3.1. Những yếu tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ 
Quân khu 1 về công tác dân vận (2008 ­ 2013)
3.2. Chủ trương của Đảng bộ Quân khu 1 về đẩy mạnh công tác 
dân vận (2008 ­ 2013)
3.3. Đảng bộ  Quân khu 1 chỉ  đạo đẩy mạnh công tác dân vận  
(2008 ­ 2013)

CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

156
172


6

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Công tác dân vận là công việc của toàn bộ hệ thống chính trị dưới sự 
lãnh đạo của Đảng tiến hành tập hợp vận động, đoàn kết nhân dân, thực hiện 
đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời 
công tác dân vận cũng nhằm góp phần chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân; 

phát huy quyền làm chủ, sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây 
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng. 
Trong bài báo Dân vận đăng trên báo Sự thật, ngày 15­10­ 1949, Hồ Chí Minh 
khẳng định: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận 
kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [130, tr. 
234].
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định 
công tác dân vận là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với  
toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là điều kiện tiên quyết bảo đảm  
sự  lãnh đạo của Đảng, góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ  gắn bó 
giữa Đảng và nhân dân. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước 
đã có nhiều chủ trương, giải pháp về công tác dân vận, phù hợp với từng đối 
tượng, từng lĩnh vực. Đồng thời, thường xuyên đổi mới nội dung, phương 

xem nhẹ công tác dân vận so với một số mặt công tác khác . Trong tổ chức các 
hình thức dân vận, “một số đơn vị chưa thật sự chú trọng đến công tác tuyên 
truyền vận động nhân dân cùng làm, cùng thực hiện nhiệm vụ;  nội dung, 
phương pháp tuyên truyền còn hạn chế” [85, tr. 8].
Hiện nay trước yêu cầu của sự  nghiệp đổi mới và hội nhập quốc 
tế, công tác dân vận đang đặt ra những yêu cầu mới nhằm tạo sự  đồng  
thuận trong toàn xã hội, xây dựng mối quan hệ  chặt ch ẽ  gi ữa quân đội 
với nhân dân. Cùng với đó, các thế  lực thù địch tăng cườ ng chống phá 
cách mạng nước ta thông qua chiến lược “di ễn bi ến hòa bình” “bạo loạn 


8

lật đổ” với nhiều thủ  đoạn nham hiểm tinh vi xảo quy ệt, nh ằm chia r ẽ 
gây mất đoàn kết nội bộ, lôi kéo phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
nhất là  ở  các địa  bàn trọng điểm, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng 
sâu, vùng xa, biên giới. Thực tiễn đó, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất 
lượng hiệu quả của công tác dân vận, phối hợp chặt chẽ  các tổ  chức, các  
lực lượng tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương chính 
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đã có rất nhiều công trình, đề tài  
nghiên cứu về  công tác dân vận nói chung, trên các địa bàn vùng miền nói 
riêng. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có công trình chuyên khảo nào đi sâu 
nghiên cứu về  qúa trình Đảng bộ  Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận 
trong khoảng thời gian từ  năm 2003 đến năm 2013 dưới góc độ  khoa học 
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu làm sáng tỏ  quá trình Đảng bộ  Quân khu 1 lãnh 
đạo công tác dân vận từ  năm 2003 đến năm 2013, trên cơ  sở  đó đúc kết  
những kinh nghiệm chủ yếu, góp phần vào việc tổng kết công tác dân vận 
của Đảng, của Quân ủy Trung ương trong thời kỳ đổi mới (qua thực tế địa 
bàn Quân khu 1). Đồng thời góp thêm cơ  sở  cho việc bổ  sung, hoàn thiện 

động, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân khu 1 về công tác dân vận 
từ  năm 2003 đến năm 2013, tập trung làm rõ các vấn đề: Chỉ  đạo giáo dục 
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ về  công tác dân vận;  
Chỉ  đạo tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ  trương của Đảng, 
chính sách pháp luật Nhà nước; Tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở 
địa phương vững mạnh; Phối hợp giúp đỡ địa phương phát triển kinh tế, văn 
hóa ­ xã hội. 
Về không gian: trên địa bàn Quân khu 1, bao gồm 6 tỉnh (Thái Nguyên, 
Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang)


10

Về  thời gian: Luận án nghiên cứu trong khoảng thời gian 10 năm từ 
năm 2003 đến năm 2013. Năm 2003 là năm Đảng ủy Quân sự  Trung ương 
(nay là Quân  ủy Trung  ương) ra Nghị  quyết 152 “Về  tiếp tục đổi mới và  
tăng cường công tác dân vận của lực lượng vũ trang trong thời kỳ  mới”, 
Đảng ủy Quân khu 1 ra Nghị quyết 403 về “tiếp tục đổi mới và tăng cường 
công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu trong thời kỳ mới”. Năm 
2013 là năm Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Quân khu 1 tổng kết 10 năm 
thực hiện Nghị  quyết 152. Để  vấn đề  nghiên cứu có tính hệ  thống  bảo 
đảm tính toàn diện, đồng thời phục vụ cho mục tiêu đúc kết kinh nghiệm,  
luận án mở rộng phạm vi nghiên cứu cả trước và sau mốc thời gian trên.
4. Cở sở lý luận, thực tiễn và phươ ng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ Chí 
Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trò của quần chúng nhân dân và 
công tác vận động quần chúng nhân dân trong sự  nghiệp cách mạng của 
Đảng.
* Cơ sở thực tiễn

Các phương pháp khác như  phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh 
được sử dụng phù hợp với từng nội dung của lu ận án.
5. Những đóng góp mới của luận án
 Về tư liệu: Luận án cung cấp khối lượng tư liệu khá phong phú, cập  
nhật, đáng tin cậy về chủ  trương của Đảng, của Quân ủy Trung  ương và 
đặc biệt là chủ  trương và quá trình chỉ  đạo của Đảng bộ  Quân khu 1 về 
công tác dân vận từ  năm 2003 đến năm 2013. Nguồn tài liệu tham khảo,  
phụ  lục của luận án có thể  đóng góp cho việc nghiên cứu một số  vấn đề 


12

về  công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân 
tộc, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
 Về nội dung khoa học: 
Luận án trình bày có hệ thống về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng 
bộ Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013. 
Đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộ 
Quân khu 1 lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2003 đến năm 2013, trên cả 2 bình 
diện ưu điểm và hạn chế làm rõ nguyên nhân. Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu 
có giá trị tham khảo, vận dụng trong lãnh đạo công tác dân vận trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của  đề tài
* Ý nghĩa lý luận
Góp phần vào việc tổng kết công tác dân vận của Đảng trong thời 
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (qua th ực t ế địa bàn Quân khu 1)
Góp thêm luận cứ  cho việc hoàn thiện chủ  trương, giải pháp đổi 
mới công tác dân vận của Đảng và Đảng bộ  Quân khu 1 trong thời gian  
tới.
* Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo cho các cấp  ủy đảng, các lực lượng tiến 

suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Góp phần củng cố  mối liên hệ 
giữa Đảng và quần chúng nhân dân, làm tăng thêm sức mạnh của cách 
mạng. Nhiệm vụ  của các cấp  ủy  Đảng trong công tác vận  động quần 
chúng rất nặng nề, “lấy dân làm gốc” phải trở thành nền nếp của xã hội, 
tất cả phải do nhân dân, vì nhân dân mới có thể  thực hiện thắng lợi được  
nhiệm vụ đó. Cán bộ các ngành, các cấp phải coi trọng công tác vận động 


14

quần chúng, xem công tác vận động quần chúng là công việc gốc trong mọi  
hoạt động cách mạng. Chỉ  có như  thế  mới góp phần thúc đẩy phong trào 
cách mạng, lấy lại lòng tin cho quần chúng nhân dân, đưa sự  nghiệp cách 
mạng của nhân dân đến mọi thành công.
  Ban Dân vận Trung  ương (1996), Kỷ  yếu Hội nghị  tổng kết 5 năm 
thực hiện Nghị  quyết Hội nghị  lần thứ  tám, Ban Chấp hành Trung  ương, 
khóa VI, Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan  
hệ giữa Đảng và nhân dân [13], đã tập trung phân tích làm rõ vị trí, vai trò, 
tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng của Đảng, khẳng định 
tính đúng đắn của những quan điểm chỉ  đạo công tác dân vận của Đảng. 
Nhận thức của các cấp ủy đảng, chinh quyên, các ngành, các c
́
̀
ấp, cán bộ và 
đảng viên được nâng cao. Bước đầu nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống 
chinh tr
́
ị, góp phần tăng cường và phát huy vị  trí, vai trò của công tác dân 
vận trong thời kỳ mới. Củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng 
với nhân dân, tư  tưởng đại đoàn kết dân tộc được thực hiện  ở  tầm cao 

ệt Nam có vị trí chí 
chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo  
vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế ­ xã  hội 
bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn,  
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ  môi trường sinh thái của đất  
nước. Tăng cường lanh đao, c
̃
̣ ủng cố  xây dựng Hội Nông dân các cấp vững  
mạnh về  chinh tri, t
́
̣ ư  tưởng và tô ch
̉ ưc, th
́ ực sự  là lực lượng nòng cốt của 
phong trào nông dân xây dựng nông thôn mới, là thành viên tích cực trong khối 
đại đoàn kết toàn dân, là nhân tố quan trọng của khối liên minh giai cấp công ­ 
nông và đội ngũ trí thức ­ nền tảng chinh tri v
́
̣ ững chắc của chế độ.
Bộ Quốc phòng (1998) Lịch sử 50 năm Quân đội nhân dân Lào 1945­
1995, [26] cuốn sách đã tổng hợp lại những bài học kinh nghiệm của Đảng 
nhân dân cách mạng Lào trong lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động để 
tổ  chức xây dựng lực  lượng quân đội nhân dân Lào vững mạnh về  chính 
trị, tư tưởng và tổ chức. Quân đội nhân dân Lào là lực lượng vũ trang cách 
mạng của Đảng, Nhà nước, của nhân dân các bộ  tộc Lào, là đội quân của 
dân, do dân và vì dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu đặt dưới 
sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng nhân dân Cách mạng 


16



ủy, đồng thời có sự  đổi mới nhận thức, tư  duy về  công tác dân vận hiện 
nay trong toàn bộ  hệ  thống chính trị. Phải quan tâm xây dựng được mối 
quan hệ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với phong trào quần chúng, vai trò 
sáng tạo của quần chúng nhân dân và cả  vai trò cá nhân trong công tác dân 
vận của Đảng.
Dương Xuân Ngọc  (2005),  “Quan điểm và nguyên tắc chỉ  đạo tiến 
hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [133], khẳng định: Công 
tác dân vận là nhiệm vụ  có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ  sự  nghiệp  
cách mạng Việt Nam, cả trong thời kỳ chưa có chính quyền cũng như thời 
kỳ Đảng cầm quyền; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của  
Đảng đối với chính quyền và toàn xã hội, thắt chặt mối liên hệ  máu thịt  
giữa Đảng với dân. Tác giả đã đưa ra bốn quan điểm chỉ đạo công tác dân 
vận dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh: công tác dân vận phải xuất phát 
từ  lợi ích của quần chúng nhân dân, thực hiện và bảo vệ  lợi ích của nhân 
dân; thực hành dân chủ  là phương thức cơ  bản của công tác dân vận; Dân 
vận phải hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây dựng 
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Dân 
vận và công tác dân vận là sự  nghiệp của cả  hệ  thống chính trị, của toàn 
dân dưới sự  lãnh đạo của Đảng, sự  quản lý của Nhà nước thông qua Mặt 
trận dân tộc thống nhất. Trên cơ sở  phân tích, đánh giá thực trạng công tác 
dân vận, tác giả  chỉ  rõ: Muốn bảo vệ  vững chắc chủ  quyền an ninh biên  
giới quốc gia, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phát triển kinh 
tế  xã hội  thích hợp, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh  
thần của nhân dân các dân tộc nhất là vùng sâu, vùng xa biên giới và làm tốt 
công tác dân vận.


18


́
̀
ấp để  tô ch
̉ ức triển khai, thực hiện và kiểm tra công tác  
dân vận của chinh quyên. Các Ban Dân v
́
̀
ận địa phương đã thành lập bộ 
phận chuyên trách theo dõi công tác dân vận của chinh quyên và tham m
́
̀
ưu  
cho cấp ủy chỉ đạo chinh quyên các c
́
̀
ấp về công tác quân chung.
̀
́
Đỗ  Quang Tuấn (2006)  Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng  
đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể  nhân dân trong thời kỳ đổi mới  
(152) khẳng định: Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ 
quốc Việt Nam và các đoàn thể  nhân dân nhằm mục tiêu củng cố  và tăng 
cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối liên hệ  giữa Đảng và nhân 
dân. Trên cơ sở phân tích những ưu điểm và hạn chế về phương thức lãnh 


19

đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ  quốc và các đoàn thể  quần chúng, tác 
giả nêu lên một số bài học kinh nghiệm: Đảng phải tiếp tục nâng cao nhận  

nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối 
quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Vận động nhân dân thực hiện tốt 
các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phát huy sức  
mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và 
bảo vệ  Tổ  quốc.  Thực hiện thành công sự  nghiệp công nghiệp hóa, hiện 
đại hóa, trong điều kiện đất nước có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn  
diện: Kinh tế  ­ xã hội phát triển, quốc phòng ­ an ninh được giữ  vững và 
tăng cường; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, hệ  thống chính 
trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng  cường. Tác giả 
nhấn mạnh: “Trong bất cứ hoàn cảnh và điều kiện nào cũng phải tin ở lực  
lượng và sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, một lòng  
một dạ phục vụ nhân dân. Linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức, tập hợp  
nhân dân bằng các hình thức hoạt động thích hợp trong từng giai đoạn cách  
mạng” [116, tr.4].
Nguyễn Bá Quang (2013), Học tập và làm theo phong cách “Dân vận  
khéo”Hồ Chí Minh (142), đã phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư 
tưởng Hồ Chí Minh về dân vận khéo; nêu lên những tiêu chí về mô hình và  
điển hình dân vận khéo  ở  một số  cơ  sở;  đề  xuất một số  nội dung và 
phương pháp nhằm hiện thực hóa tư  tưởng “Dân vận khéo” của Người  
trong giai đoạn hiện nay, đó là: thực hành dân chủ, nêu gương; cải cách thủ 
tục hành chính; thực hiện kỹ năng “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”;  
đổi mới công tác cán bộ  dân vận. Đáng chú ý là nhận định của tác giả:  
“Dân vận là công tác khoa học, nhưng cũng là nghệ thuật, nhằm giải quyết  


21

mối quan hệ  giữa Đảng và dân. Muốn làm tốt công tác dân vận, cán bộ 
phải có tâm trong sáng, có trách nhiệm, có tri thức khoa học, tóm lại phải 
có tâm và có tài, như  vậy mới là “Dân vận khéo” theo tư  tưởng Hồ  Chí 

chủ, công  bằng, văn  minh làm  mục  tiêu  của  công  tác  vận  động quần 
chúng, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Là hạt nhân, là cơ sở vững chắc  
để  xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác vận động quần  
chúng, được thực hiện trên cơ sở  giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa 
các thành viên trong xã hội, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể. Công 
tác vận động quần chúng phải đượ c dựa trên cơ sở, thấm nhuần phương 
châm “Vì quần chúng nhân dân, do quần chúng nhân dân”, trong công tác 
vận động quần chúng phải biết phát huy những truyền  thống quý báu của 
dân tộc, nhất là truyền thống yêu nước [17, tr.170 ­ 183]. 
   1.1.2.    Các  nghiên cứu  về  công tác dân vận  ở  các vùng miền, địa  
phương
Trương Minh Dục (2008),   Xây dựng và củng cố  khối đại đoàn kết  
dân  tộc  ở  Tây Nguyên  [102], đã đề  cập đến vấn đề  dân tộc, đặc điểm 
kinh tế ­ xã hội của các dân tộc thiểu số  ở Tây Nguyên. Phân tích làm rõ 
truyền thống đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên qua các thời kỳ  lịch sử, 
quá   trình   xây   dựng   và   củng   cố   khối   đại   đoàn   kết   các   dân   tộc   ở   Tây  
Nguyên. Trong cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội,  
đặc biệt là thời kỳ  đổi mới; đánh giá những kết quả   đã đạt đượ c và 
những hạn chế, yếu  kém. Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng về 
đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp khá toàn 
diện, đồng bộ. Nhằm xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây 


23

Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, đáng chú ý là nhóm giải pháp tăng  
cường công tác dân vận: Cần nhận thức đúng đắn vai trò của công tác dân 
vận trong quá trình xây dựng khối đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên. Công tác  
vận động quần chúng phải thật sự hướng về cơ sở, nội dung, phương pháp 
vận động phải cụ thể, thiết thực, phù hợp với trình độ  nhận thức và tâm lý 

bản ổn định, quốc phòng ­ an ninh được tăng cường. Đạt được những thành 
tựu trên là do sự lanh đao đúng đ
̃
̣
ắn của Đảng và sự quản lý của Nhà nước,  
sự  tham gia tích cực của các tô ch
̉ ưc chinh tri quân chung. Cùng v
́
́
̣
̀
́
ới những 
thành quả  đạt được, trong những năm đầu bước vào thời kỳ  công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa cũng đã xuất hiện những yếu tố tiêu cực, bất ổn định, an 
ninh chinh tri, tr
́
̣ ật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. Những vấn đề bức  
xúc của nhân dân ở cơ sở diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Công  
tác tiếp dân và giải quyết đơn thư  tố  cáo từ  tỉnh đến cơ  sở  bị  coi nhẹ,  
không quan tâm chỉ  đạo giải quyết kịp thời, thỏa đáng những khiếu kiện 
chính đáng của nhân dân.
Nguyễn Thị  Lệ  (2013),  “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, 
hiệu quả  công tác dân vận  ở  Thành phố  Hồ  Chí Minh”  [117], bài viết đã 
làm rõ trong những năm qua, trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, 
tình hình khu vực và thế giới diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng và tác động 
trực tiếp tới địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo 
của Đảng bộ, toàn hệ thống chính trị  và nhân dân Thành phố  đã quán triệt 
và chấp hành nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp 
luật của Nhà nước. Vững vàng, đoàn kết, năng động, sáng tạo vượt qua  

nơi thường xuyên trực tiếp tiếp xúc, giải quyết các vấn đề liên quan đến dân 
và doanh nghiệp, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân. Nếu chính 
quyền làm không tốt công tác dân vận thì rất khó khăn cho công tác dân vận nói 
chung.
 Nguyễn Văn Hào (2014), “Lãnh đạo công tác dân vận vùng đồng bào dân 
tộc thiểu số ở Tây Nguyên” [111], bài viết làm rõ trong quá trình lãnh đạo, các 
cấp ủy Đảng ở Tây Nguyên luôn xác định công tác vận động đồng bào dân tộc 
thiểu số. Là nhiệm vụ  có ý nghĩa chiến lược, do đó đã ban hành nhiều chủ 
trương, nghị quyết về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, về phát triển kinh tế 


26

­ xã hội, giữ  vững an ninh chính trị, nâng cao  đời sống nhân dân trong cộng 
đồng dân tộc thiểu số. Nhiều cấp  ủy viên, người  đứng  đầu cấp  ủy, chính 
quyền, mặt trận, đoàn thể chính trị ­ xã hội đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm 
cá nhân trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ dân vận ở cơ sở.
Thực tế  cho thấy, đời sống mọi mặt của đồng bào dân tộc thiểu số 
Tây Nguyên được nâng cao hay giảm sút, tình hình an ninh chính trị, trật tự 
xã hội có được giữ  vững hay không thuộc về trách nhiệm của các cấp ủy 
Đảng, các cấp  ủy viên phụ  trách công tác dân vận và cán bộ,  đảng viên ở 
cơ sở. Vì vậy, muốn tăng cường, đổi mới công tác dân vận, ổn định chính trị, 
thúc đẩy phát triển kinh tế ­ xã hội, nâng cao đời sống trong cộng đồng dân tộc 
thiểu số ở Tây Nguyên. Các cấp ủy Đảng cần phải cụ thể hóa nguyên tắc tập 
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thành quy chế, quy định để cấp  ủy, cá nhân 
cấp ủy viên quán triệt và thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Đối với tập thể cấp 
ủy, cần căn cứ yêu cầu, tình hình cụ thể, xây dựng chủ trương, chương trình 
hành động hàng năm. Định hướng nội dung hoạt động, tạo thuận lợi để mặt 
trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng chủ trương, nghị quyết về 
công tác dân vận trong đồng bào dân tộc thiểu số. Lãnh đạo về tổ chức, nhân 

quyền cách mạng, cả dân tộc phải đương đầu với kẻ thù lớn mạnh. 
1.1.3. Các nghiên cứu về công tác dân vận trong quân đội
Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt (1993), Đổi mới công tác dân  
vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới  [55], làm rõ vị 
trí , vai trò của công tác dân vận và sự cần thiết phải đổi mới công tác dân  
vận trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Nghiên cứu dựa trên quan điểm 
của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng Hồ  Chí Minh về  công tác vận động 
quần chúng, đồng thời, xác định rõ vị  trí, vai trò và nội dung công tác dân  
vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới. Trên cơ  sở  đó, 
đề xuất những kiến nghị, giải pháp tiếp tục đổi mới công tác dân vận của  
Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng 


28

và yêu cầu xây dựng quân đội. Công tác dân vận được coi là tiêu chí để xây  
dựng bản chất và rèn luyện ý chí quyết chiến, quyết thắng của Quân đội 
nhân dân Việt Nam. Công tác dân vận thực sự  là một trong những điều 
kiện quan trọng để quân đội ta rèn luyện, xây dựng bản chất cách mạng và 
truyền thống tốt đẹp “Trung với Đảng, hiếu với dân” xây dựng nên mối 
quan hệ  máu thịt quân ­ dân, tạo thành nguồn sức mạnh vô địch và ý chí 
quyết chiến, quyết thắng mọi kẻ thù, góp phần làm rạng danh Tổ quốc và 
dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.
Đặng Vũ Liêm  (2000), “Công tác vận động quần chúng  của Bộ  đội 
Biên phòng góp phần xây dựng và bảo vệ  chủ  quyền an ninh biên giới Tổ 
quốc” [119], khẳng định, nội dung công tác vận động quần chúng không chỉ 
đơn thuần tuyên truyền vận động, mà phải tiến hành toàn diện. Tham gia 
xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, thực hiện các chương trình phát triển kinh 
tế  ­ xã hội, chương trình xóa đói giảm nghèo, tuyên truyền vận động nhân 
dân xây dựng và bảo vệ biên giới. Trên cơ  sở  phân tích những chủ  trương, 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status