Đảng bộ tỉnh bình phước lãnh đạo công tác tôn giáo tu nam 2001 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN KHẮC HẠNH

ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƢỚC
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TÔN GIÁO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN KHẮC HẠNH

ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƢỚC
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TÔN GIÁO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN MINH ĐỨC


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1.ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƢỚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
TÔN GIÁO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 ............................................. 11
1.1 Bối cảnh lịch sử thực hiện công tác tôn giáo của Đảng bộ Bình Phƣớc 11
1.1.1. Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động đến công tác
tôn giáo ..................................................................................................... 11
1.1.2 Thực trạng công tác tôn giáo ở Bình Phước trước năm 2001 ........ 15
1.1.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác tôn giáo..... 19
1.2 Chủ trƣơng, giải pháp của Đảng bộ và quá trình chỉ đạo thực hiện. ..... 22
1.2.1 Chủ trương ....................................................................................... 22
1.2.2 Giải pháp ......................................................................................... 25
1.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện ............................................................. 29
CHƢƠNG 2. ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƢỚC TĂNG CƢỜNG LÃNH
ĐẠO CÔNG TÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2010 ....................... 42
2.1 Những yêu cầu mới đối với công tác tôn giáo.................................... 42
2.2 Chủ trƣơng, giải pháp mới của Đảng bộ và quá trình chỉ đạo thực hiện47
2.2.1 Chủ trương ....................................................................................... 47
2.2.2 Giải pháp ......................................................................................... 52
2.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện ............................................................. 57
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ ..... 72
3.1 Nhận xét chung ..................................................................................... 72
3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân............................................................... 72
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân .................................................................. 85
3.2 Một số kinh nghiệm trong lãnh đạo công tác tôn giáo của Đảng bộ
Bình Phƣớc ................................................................................................. 89
3.2.1 Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước kịp thời và
đề ra chủ trương, biện pháp công tác tôn giáo đúng đắn, phù hợp với điều
kiện thực tế địa phương. ........................................................................... 89



những nhân tố tạo nên mâu thuẫn, xung đột về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội và làm xáo trộn lớn cho một số quốc gia ở trên thế giới. Vì vậy, không
một quốc gia nào không đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ phải tăng cường nâng cao
hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo công tác tôn giáo, nhằm vừa giữ vững ổn định
chính trị, phát triểAn kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa bảo đảm nhu cầu hoạt động
tín ngưỡng tôn giáo chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Đối với Việt Nam, một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, số lượng
người dân theo đạo chiếm ¼ dân số cả nước, có những tôn giáo ngoại nhập và
tôn giáo nội sinh, đồng bào tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn
kết dân tộc. Vì vậy, từ rất sớm Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm nhận thức và
có phương hướng xử lý khéo léo mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc, nhất
là trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng
với quá trình đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng luôn chủ trương thực
hiện nhất quán chính sách tôn giáo, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng của nhân dân; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống
tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng quê
hương, đất nước.
Quán triệt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về
công tác tôn giáo vào tình hình cụ thể của địa phương - một tỉnh miền núi,
biên giới, đa dân tộc, đa tôn giáo, thuộc khu vực Đông Nam bộ, Đảng bộ tỉnh
Bình Phước luôn quan tâm đến việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách
tôn giáo, coi đây là một trong những mục tiêu cơ bản bảo đảm ổn định chính
trị và phát triển bền vững. Nhờ vậy, trong những năm qua, tình hình chính trị,
1


kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh giữ vững ổn định và có bước phát triển đáng
kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là của đồng bào dân
tộc, tôn giáo không ngừng được nâng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tôn giáo ở Bình

nước, tác giả đã phân tích khá sâu sắc về đặc điểm tình hình tín ngưỡng, tôn
giáo và vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội ở Việt Nam. Tiếp đó,
trong cuốn Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (Nxb. Chính
trị Quốc gia, 2012) Đặng Nghiêm Vạn tiếp tục mổ xẻ, làm rõ đặc điểm và vai
trò của tôn giáo Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn
hóa khi đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, chủ động hội nhập quốc tế toàn cầu. Từ đó, tác giả đã giành hẳn phần thứ
sáu để giới thiệu về “Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước", trong đó
tác giả nhấn mạnh quá trình đổi mới và hoàn thiện chính sách tự do tôn giáo ở
Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám (1945) đến Đại hội lần thứ XI của
Đảng (tháng 1- 2011).
Cũng bàn về vai trò của tôn giáo với đời sống xã hội, công trình Ảnh hưởng
của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với đời sống con người Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Tài Thư (Nxb. Chính trị quốc gia, 1997) đã trình bày một cách có hệ
thống về giáo lý, giáo luật, hệ tư tưởng tôn giáo, các giá trị đạo đức văn hóa tốt
đẹp của tôn giáo phù hợp với đạo đức xã hội. Từ đó cho thấy vai trò và ảnh hưởng
của tôn giáo đối với đời sống xã hội. Tuy nhiên, công trình này chưa đề cập đến
vấn đề công tác tôn giáo.
Bàn về đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước những năm gần
đây có công trình Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam bộ (Nxb Khoa học xã
hội, 2001), Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt Nam – Lý luận và thực
tiễn” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2007) của Đỗ Quang Hưng, là công trình
nghiên cứu một cách hệ thống về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước, từ quá trình phát sinh, phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng sản
Việt Nam về tôn giáo và vấn đề tôn giáo; quá trình xây dựng và hoàn
thiện đường lối chính sách tôn giáo ngày càng đúng đắn, hiệu quả qua
các giai đoạn lịch sử từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 2007.
3





thống các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo trong từng giai đoạn cách mạng từ
năm 1930 đến năm 2009. Trong tác phẩm Quan điểm đường lối của Đảng
về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn
Hồng Dương (Nxb Chính trị Quốc gia, 2012) đã trình bày những vấn đề lý
luận chung về tín ngưỡng tôn giáo; tình hình đặc điểm tôn giáo Việt Nam hiện
nay và những vấn đề cần giải quyết; đặc biệt tác giả đã phân tích, làm rõ nội
hàm chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và công tác
tôn giáo, đồng thời giới thiệu một số kinh nghiệm, giải pháp giải quyết vấn đề
tôn giáo ở các nước Trung Quốc, Thái Lan, Singapo.
Ngoài các công trình trên, nghiên cứu về tôn giáo và chính sách tôn
giáo của Đảng, Nhà nước ta còn được đề cập đến ở một số công trình khác
như: “Xã hội học tôn giáo” của Acquaviva Sabino; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo và công tác tôn giáo" Nguyễn Đức Lữ và Lê Hữu Nghĩa; “Một số
tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Thanh Xuân …
2.2 Các đề tài khoa học, luận văn, luận án
Những công trình đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, cấp tỉnh nghiên cứu về
Tôn giáo và công tác Tôn giáo đã được nghiệm thu, gồm có: Đạo Tin lành ở
Việt Nam - Thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra cho công
tác lãnh đạo, quản lý, Đề tài cấp nhà nước (2005) của TS. Hoàng Minh Đô;
Đạo Tin lành ở Tây Nguyên - Đặc điểm và các giải pháp thực hiện chính
sách, Đề tài cấp bộ (2003) của TS. Nguyễn Văn Nam. Ở hai công trình khoa
học nêu trên, các tác giả tập trung nghiên cứu về đạo Tin lành, những vấn đề
đang đặt ra trong công tác quản lý, cũng như giải pháp đối với tôn giáo này,
nhất là sau các vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (2001, 2004).
Đề tài Sự phát triển đạo Tin lành trong đồng bào dân tộc S’tiêng ở
Sông Bé - thực trạng và giải pháp của Công an tỉnh Sông Bé. Đây là Đề tài
cấp tỉnh do phòng PA 38 – Công an tỉnh làm chủ nhiệm, công trình đã làm rõ

đời sống xã hội. Hai là, Luận văn Thạc sĩ Triết học Quản lý Nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước của
Trần Thương Huyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2009) tập
6


trung nghiên cứu lĩnh vực quản lý Nhà nước về tôn giáo. Luận văn đã làm rõ
quá trình, tổ chức thực hiện và kết quả đạt được của công tác quản lý Nhà
nước về tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước. Như
vậy, các công trình này mới chỉ nghiên cứu ở một vài khía cạnh riêng lẻ liên
quan đến tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng bộ Bình Phước.
2.3 Các bài báo khoa học đăng trên tạp chí
Bên cạnh các công trình kể trên, còn có các bài viết được đăng tải trên
các tạp chí như: “Thiên Chúa giáo và đạo Tin lành ở vùng các dân tộc thiểu số
Tây Nguyên” của Nguyễn Xuân Nghĩa (Tạp chí Dân tộc học số 4/1989); “Hồ
Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với một số lĩnh vực của đời sống xã
hội” của Nguyễn Đức Lữ (Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 6/2002); “Quan
hệ Nhà nước và tôn giáo những năm gần đây” của Nguyễn Hồng Dương
(Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 3/2007); “Mấy suy nghĩ về tự do tôn
giáo và tự do không tôn giáo ở Việt Nam” của Đỗ Quang Hưng (Tạp chí
nghiên cứu tôn giáo, số 5/2007); “Mối quan hệ giữa chính trị với tôn giáo –
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ngô Hữu Thảo (tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo, số 9/2009); “Tái cấu hình đời sống tôn giáo ở Việt Nam” của
Đỗ Quang Hưng (Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 6 – 7/2012). Các bài
viết này đã phản ánh, đề cập một số khía cạnh liên quan đến tình hình
đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời đi sâu nghiên cứu nội dung
chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước
với giáo hội, giữa chính trị với tôn giáo.
Như vậy, có thể thấy mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc
bài viết đề cập đến, nhưng nội dung chủ yếu nói về những vấn đề lý luận

là chủ trương, biện pháp và quá trình tổ chức thực hiện công tác tôn giáo trên
địa bàn tỉnh trong những năm 2001 - 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Lãnh đạo công tác tôn giáo theo quan điểm, chủ trương của Đảng có
nội dung rất phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Song luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả các hoạt động đó, mà chỉ tập
trung nghiên cứu về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Phước đối
8


với công tác tôn giáo ở các nội dung chủ yếu là: quản lý nhà nước về tôn
giáo; công tác vận động quần chúng; công tác đấu tranh chống lợi dụng tôn
giáo trên địa bàn tỉnh trong những năm 2001 - 2010.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu, phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo, về công tác vận động quần chúng trong
đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
5.2. Nguồn tư liệu
Thực hiện đề tài này, tác giả đã khai thác và sử dụng nguồn tư liệu chủ
yếu gồm: Những Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội
Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI; các nghị quyết, chỉ thị, quyết định,
thông báo kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác tôn giáo từ năm
2001 đến năm 2010.
Đặc biệt luận văn còn sử dụng nhiều nguồn tư liệu địa phương, như
Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Bình Phước qua các kỳ Đại hội Đảng bộ lần thứ
VII, VIII, IX; các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động, kế hoạch,
quyết định, thông báo kết luận,… của Ban chấp hành Đảng bộ, Thường trực
và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác tôn giáo từ năm 2001 đến 2010.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo công tác tôn giáo từ
năm 2001 đến năm 2005.
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Bình Phước tăng cường lãnh đạo công tác tôn
giáo từ năm 2006 đến năm 2010.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

10


CHƢƠNG 1
ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH PHƢỚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC TÔN
GIÁO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Bối cảnh lịch sử thực hiện công tác tôn giáo của Đảng bộ Bình
Phƣớc
1.1.1. Các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động đến công
tác tôn giáo
Về điều kiện tự nhiên
Bình Phước là tỉnh miền núi, biên giới, nằm ở phía Tây Bắc khu vực
Đông Nam bộ, có vị trí địa lý từ 11o22’ đến 12o16’ vĩ độ Bắc, 102o8’ đến
107o28’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng, phía Nam
giáp tỉnh Bình Dương, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai và Lâm Đồng, phía Tây
giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia với chiều dài đường biên giới
260,4 km. Tổng diện tích tự nhiên là 6.857,35 km2.
Đất đai Bình Phước có nhiều loại, nhưng chủ yếu là đất đỏ bazan chiếm
1/2 tổng diện tích của tỉnh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chia làm 2
mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.045 đến
2.325 mm, được rải đều trong nhiều tháng nên ít khi gây ra lũ lụt; đặc biệt ở

Dân số tỉnh Bình Phước năm 1997 có 581.802 người [31, tr. 256], đến
năm 2013 có khoảng 916.000 người. Trên địa bàn tỉnh có 41 dân tộc, trong đó
phần lớn là người Kinh, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 20% dân số,
cư trú chủ yếu ở vùng núi và khu vực biên giới.
Đặc biệt, Bình Phước là địa bàn có nhiều tôn giáo và các cơ sở tôn
giáo. Trước năm 1975, trên địa bàn tỉnh Bình Phước có 6 tôn giáo: Công giáo,
Phật giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Phật giáo Hoà Hảo. Mỗi tôn giáo có
lịch sử hình thành và hình thức hoạt động chủ yếu như:
Đạo Công giáo có mặt ở Bình Phước vào đầu năm 1933. Đến những
năm cuối của thập kỷ 50, đầu thập kỷ 60/XX, đạo Công giáo xuất hiện nhiều
trên địa bàn huyện Bình Long, Phước Long (cũ). Tín đồ ở đây chủ yếu là cư
dân các tỉnh phía bắc di cư vào năm 1954, do Ngô Đình Diệm đưa đến nhằm
12


mở rộng địa bàn tôn giáo, làm lá chắn phía Tây Bắc chiến trường Đông Nam
bộ. Năm 2013, toàn tỉnh có 90.225 tín đồ; 48 giáo xứ, 16 giáo họ; 46
chức sắc thuộc Giáo hạt Bình Long và Giáo hạt Phước Long. Đạo Công
giáo ở Bình Phước trực thuộc quản lý của hai giáo phận là Tòa Giám
mục Phú Cường (Bình Dương) và Tòa Giám mục Buôn Mê Thuột (Đắk
Lắk), hoạt động của hai Tòa Giám mục này có mối quan hệ thường
xuyên với chính quyền, hợp tác với các ngành chức năng của tỉnh trong
việc phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tôn giáo
trên địa bàn Bình Phước.
Phật giáo có khoảng 46.348 tín đồ; 162 chức sắc, 145 nhà tu hành, 232
chức việc đã được Nhà nước công nhận, sinh hoạt ở 114 cơ sở thờ tự; ngoài ra
còn khoảng 30 tu sĩ, 80 chức việc thuộc các Ban hộ tự của 16 chùa chưa được
Nhà nước công nhận. Phật giáo ở Bình Phước có hai dòng phái là Bắc Tông
và Nam Tông, ngoài ra còn có sự hoạt động của “Giáo hội phật giáo Việt
Nam thống nhất”.

Bình Phước còn là tỉnh nghèo, điểm xuất phát thấp, hậu quả chiến tranh
nặng nề, lại xa các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của đất nước, nên
việc nâng cao đời sống nhân dân gắn với việc tuyên truyền đường lối, chính
sách còn hạn chế.
Trên địa bàn Bình Phước còn có nhiều cơ sở tôn giáo hoạt động tự do,
chưa đủ cơ sở để được thừa nhận pháp nhân tôn giáo theo quy định, nên tác
động nhất định đến ổn định xã hội, hiệu quả của công tác tôn giáo.
Do Bình Phước có số dân di cư tự do đông, lại ở phân tán, nhất là đồng
bào thiểu số, như người S’tiêng ở khu vực biên giới theo đạo,…nên việc
tuyên truyền, vận động xây dựng khối đoàn kết dân tộc cũng như thực hiện
công tác tôn giáo gặp rất nhiều khó khăn.
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cho Đảng bộ tỉnh Bình Phước cần phải
quan tâm đến công tác tôn giáo, đặc biệt phải có chủ trương, biện pháp đúng
đắn để phát huy hiệu quả công tác tôn giáo, nhất là công tác vận động quần
chúng, tuyên truyền vận động đồng bào có đạo chấp hành chính sách pháp
luật, tham gia xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
14


1.1.2 Thực trạng công tác tôn giáo ở Bình Phước trước năm 2001
Tính đến cuối năm 2000, ở Bình Phước có 6 tôn giáo (Phật giáo, Công
giáo, Tin lành, Cao đài, Hồi giáo, Phật giáo Hòa Hảo) đã được công nhận tư
cách pháp nhân. Tổng số tín đồ các tôn giáo là 181.243 chiếm 27,7 % dân số
toàn tỉnh[1].
Hoạt động của các tôn giáo cơ bản diễn ra bình thường, chấp hành đúng
quy định của pháp luật. Đồng bào các tôn giáo vui mừng, phấn khởi trước
những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội đất nước và ngày càng tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp.
Nổi bật là, đồng bào có đạo đã tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu
nước và hành động cách mạng; hưởng ứng công tác xã hội từ thiện nhân đạo,

dưỡng sinh, mở các quán cơm chay để lôi kéo người qua đường ghé ăn cơm, lắp
đặt chảo Ăng ten Parapol để thu chương trình truyền hình của Thanh Hải, tổ chức
các chuyến du lịch (kể cả trong và ngoài nước), tổ chức các buổi làm rẫy chung,
thời gian, địa điểm sinh hoạt thường không cố định.
Trước tình hình trên, các cấp ủy đảng ở Bình Phước đã đề ra nhiều chủ
trương, biện pháp đẩy mạnh công tác tôn giáo. Tỉnh ủy đã xây dựng Đề án
công tác cán bộ, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo;
đồng thời, sắp xếp, bố trí nhân sự, đội ngũ cán bộ cho các cơ quan chuyên
môn về công tác tôn giáo, kiện toàn bộ máy cơ quan Ban Dân tộc và Tôn giáo
tỉnh, UBMTTQVN tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy; phòng PA 38 Công an tỉnh.
Đây là các cơ quan tham mưu giúp việc thường xuyên cho Ban chỉ đạo Công
tác tôn giáo tỉnh. Hàng năm Ban Dân tộc và Tôn giáo tỉnh tham mưu cho
UBND tỉnh xây dựng kế hoạch và phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ tổ
chức 8 lớp bồi dưỡng, nghiệp vụ công tác tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm
công tác dân vận, công tác dân tộc - tôn giáo.
Sau khi tái lập tỉnh năm 1997, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống
chính trị trong toàn tỉnh tiếp tục thực hiện nghị quyết 24 của Bộ Chính trị,
Nghị định 69 của Hội đồng Bộ trưởng, Thông báo 255 – TB/TW năm 1999
của Bộ Chính trị về một số công tác đối với đạo Tin lành, Quyết định
11/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác tôn giáo.
16


Căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, Tỉnh uỷ Bình Phước ra
Chỉ thị số 18 – CT/TU ngày 10/7/1999 về việc “Triển khai thực hiện Thông
báo 184 - TB/TW năm 1998 của Bộ Chính trị đối với đạo Tin lành” và thành
lập Ban chỉ đạo 184, do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ làm trưởng
ban. Đồng thời, Tỉnh ủy chỉ đạo tập trung đẩy mạnh công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo, nhất là vấn đề quản lý nơi thờ tự của các tôn giáo theo đúng
quy định của pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status