Đại học quốc gia hà nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
--------------***--------------
Nguyễn Văn Nhang
Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác dân vận
từ năm 1997 đến năm 2003
Luận văn thạc sĩ Lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Xuân Lý
Hà nội - 2007
Đại học quốc gia hà nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
--------------***--------------
Nguyễn Văn Nhang
Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác dân vận
từ năm 1997 đến năm 2003
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân. ......................................................................... 68
Chương 3. Kết quả và một số kinh nghiệm ................................................................................... 72
3.1. Kết quả và hạn chế ............................................................................................................ 72
3.1.1. Kết quả ....................................................................................................................... 72
3.1.2. Hạn chế ...................................................................................................................... 89
3.2. Một số kinh nghiệm........................................................................................................... 91
Kết luận ....................................................................................................................................... 95
1
Danh mục tài liệu tham khảo.......................................................................................................... 99
2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Công tác Dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng cộng
sản Việt Nam. Công tác dân vận có vai trò quan trọng trong mọi thời kỳ cách
mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong bài "Dân vận" đăng trên Báo Sự
Thật ngày 15/10/1949 như sau: "Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận
khéo thì việc gì cũng thành công" [33, tr.700].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), từ việc tổng kết
từ thực tiễn cách mạng nước ta đã rút ra bốn bài học kinh nghiệm. Trong đó
bài học kinh nghiệm số một là "Lấy dân làm gốc". Đồng thời Đảng ta phê
phán nghiêm khắc tệ quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi
ích của nhân dân, làm suy yếu sức mạnh của Đảng, dẫn đến hậu quả làm giảm
sút nhiệt tình cách mạng và hạn chế việc phát huy khả năng to lớn của nhân
dân trong công cuộc xây dựng đất nước.
kinh nghiệm công tác thực tiễn để vận động các đối tượng quần chúng cụ
thể; v.v… trong các tạp chí, sách nghiệp vụ công tác Dân vận trong các
bài giảng, giáo trình của Ban dân vận Trung ương. Nội dung của những
vấn đề đó còn mang tính lý luận và phần nhiều đề cập trên diện rộng để
các địa phương nghiên cứu vận dụng, chưa có công trình nào nghiên cứu
về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, trong đó có Hải Dương trên góc
độ lịch sử Đảng.
3 - Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Mục đích:
5
Góp phần làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với
công tác Dân vận. Trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa tham
khảo cho thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Trình bầy đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương,
làm rõ yêu cầu về công tác dân vận.
- Phân tích những quan điểm cơ bản của Đảng cộng sản Việt Nam
về công tác Dân vận.
- Trình bầy quá trình Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo, chỉ đạo công
tác Dân vận giai đoạn 1997 - 2003.
- Rút ra một số kinh nghiệm nhằm tiếp tục tăng cường, đổi mới
công tác Dân vận của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng:
Nghiên cứu của luận văn là hệ thống chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương về công tác dân vận quá trình chỉ đạo, thực hiện.
7
Chương 1. Đặc điểm kinh tế - xã hội
và yêu cầu tăng cường công tác dân vận ở tỉnh Hải Dương
1.1. Khái quát đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương
1.1.1. Đặc điểm địa lý-tự nhiên
Hải Dương là một tỉnh lớn nằm ở trung tâm châu thổ Sông Hồng, gồm
có 11 huyện và 1 thành phố trực thuộc tỉnh; Diện tích đất tự nhiên 1.660,9km2,
trong đó đất nông nghiệp là 105.534 ha, đất trồng rừng là 12.145 ha thuộc hai
huyện Chí Linh và Kinh Môn. Dân số 1.696.230 người (mật độ bình quân 995
người/km2, khoảng 99,6% là người Kinh, còn khoảng 0,4% thuộc dân tộc thiểu
số), số dân trong độ tuổi lao động là 885.200 người.
Hải Dương có vị trí địa lý nằm giữa hai thành phố trực thuộc Trung ương
là Hà Nội và Hải Phòng. Giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ thuận lợi,
gần cảng hàng không, cảng biển, có điều kiện để phát triển công nghiệp. Theo
các nhà kiến trúc và quy hoạch đô thị, Hải Dương có vị trí khá lý tưởng để phát
triển thành một thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội trong tương lai.
Do kết cấu địa chất của vùng châu thổ, nên đất đai phần lớn của tỉnh Hải
Dương thuộc loại sa bồi và thịt pha cát, nhất là các huyện nằm ven sông Luộc
và các triều hạ lưu sông Thái Bình; Hải Dương có trên 100.000ha đất canh tác
mầu mỡ, rất thích hợp cho nghề trồng lúa, các loại hoa màu, cây công nghiệp,
cây ăn quả như vải, chuối, mía, đay, cói... Hải Dương cũng là quê hương của
tập đoàn cây vụ đông có giá trị kinh tế cao như bắp cải, su hào, cà chua, hành,
tỏi...
Bên cạnh nghề trồng trọt, Hải Dương còn là tỉnh có nghề chăn nuôi
khá phổ biến: đàn gia súc khá phong phú như trâu, bò, dê, lợn... đàn gia cầm
khá nổi tiếng như gà, vịt, ngan, ngỗng... Do có nhiều ao hồ, sông, ngòi nên
tăng 8%/năm; công nghiệp địa phương chiếm 24%, tăng 10%/năm; khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 11% tăng 80%/năm. Nhiều dự án đầu tư
công nghệ mới đi vào sản xuất, giá trị công nghiệp chế biến nông sản thực
phẩm năm 2000 gấp 1,7 lần so với năm 1996. Công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng và hàng xuất khẩu tuy gặp khó khăn do chịu sự tác động mạnh của
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, thị trường tiêu thụ co hẹp, nhất là cuối
năm 1998 đầu năm 1999, nhưng đó phục hồi sản xuất và cú tốc độ tăng khá
10
vào năm 2000. Tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống được
khuyến khích mở rộng; sản xuất nhiều máy móc, công cụ sản xuất, dụng cụ
gia đỡnh phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất và đời sống.
Giao thông, xây dựng và bưu điện: Giao thông vận tải được cải thiện,
đảm bảo vận chuyển hành khách, hàng hoá thông suốt. Khối lượng hàng hoá
luôn chuyển tăng 8,8%/năm, khối lượng hành khách luân chuyển tăng
2,5%/năm. Công tác quản lý quy hoạch và xõy dựng cú tiến bộ. Giỏ trị sản
xuất ngành xõy dựng tăng 6,2%/năm. Thông tin liên lạc phát triển nhanh;
100% xó, phường, thị trấn và 85% thôn, khu dân cư có điện thoại, bỡnh quõn
2,02 điện thoại/100 dân.
Thương mại và dịch vụ tiếp tục chuyển biến tớch cực. Tổng mức lưu
chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ xó hội tăng 18,7%/năm; hàng hoá phong
phú mua bán thuận tiện. Mạng lưới thương mại - dịch vụ đa dạng, mở rộng
đến các vùng sâu, vùng xa. Công tác quản lý thị trường được tăng cường, góp
phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, người sản xuất và người tiêu dùng. Hoạt
động xuất nhập khẩu có tiến bộ; tạo thêm mặt hàng xuất khẩu qua chế biến,
giảm tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 158
triệu USD, tăng 7,8%/năm. Giá cả thị trường không có biến động lớn, chỉ số
giá tiêu dùng bỡnh quõn tăng 0,5% (riêng năm 2000 giảm 2,8%).
Số công nhân lao động Hải Dương thuộc các thành phần kinh tế nói
chung tăng, trong đó công nhân lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tăng nhiều trên 22.000
người; công nhân lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước trên 30.000
người và đang có xu hướng giảm dần; công nhân lao động làm việc trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên 7.000 người.
Cơ cấu tuổi công nhân lao động hiện nay là: Tuổi 18 - 30 chiếm 22,8%;
tuổi 31 - 40 chiếm 23,8%; tuổi 41 - 55 chiếm 44%; tuổi 57 - 60 chiếm 9,4%;
12
trong đó công nhân lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước có độ
tuổi bình quân cao hơn; phần lớn công nhân lao động có độ tuổi văn hoá phổ
thông trung học (75%), cơ bản công nhân đã được đào tạo nghề. Tuy nhiên
còn 0,4% chưa qua đào tạo; công nhân bậc thợ 5/7 còn ít (11,9%). Trình độ lý
luận chính trị của công nhân lao động nói chung là thấp, có 0,16% trình độ
cao cấp; 11% trung cấp; 5,2% sơ cấp. Bên cạnh đại bộ phận công nhân lao
động rèn luyện tốt, vẫn còn một số ít công nhân lao động mắc vào tệ nạn xã
hội, bộ phận chủ yếu là công nhân còn ít tuổi, chưa qua đào tạo nghề, việc
làm không ổn định, thu nhập thấp.
Trong những năm qua, công nhân viên chức, lao động Hải Dương, tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới của đất nước; đoàn
kết tương thân tương ái, có ý chí tự lực tự cường, năng động, sáng tạo, vươn lên
trong khó khăn thử thách, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã
hội. Là lực lượng đi đầu trong các phong trào hành động cách mạng ở địa
phương, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên bên
cạnh đó, vẫn còn một bộ phận công nhân viên chức, lao động trình độ học vấn,
tay nghề còn thấp; thể lực chưa đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp
phát triển, ý thức chính trị, hiểu biết pháp luật còn hạn chế.
sinh, 100% số xã có máy điện thoại. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội ổn
định.
Tuy nhiên trình độ dân trí của người nông dân Hải Dương nhìn chung còn
thấp so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước chung và công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nói riêng.
- Phụ nữ tỉnh Hải Dương.
Phụ nữ tỉnh Hải Dương chiếm trên 50% dân số và lực lượng lao động xã
hội đặc biệt là trong nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, y tế, giáo dục, dịch vụ kinh
doanh buôn bán. ở nông thôn phụ nữ chiếm 70% lao dộng nông nghiệp, phụ nữ
công nhân viên chức chiếm 53% tổng số công nhân viên chức toàn tỉnh.
14
Sự nghiệp đổi mới đã tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia tích cực vào
đời sống xã hội. Vai trò vị thế của chị em đã được nâng lên trong gia đình - xã
hội, chị em đã được chăm lo về đời sống, văn hoá, tinh thần, có những chuyển
biến mới về trình độ năng lực và dân trí, biết gắn lợi ích cá nhân với lợi ích
cộng đồng, có thêm những kiến thức, kinh nghiệm để tạo việc làm, tăng thu
nhập, nâng cao cuộc sống gia đình và tự chăm sóc bản thân, nuôi dạy con cái
xây dựng gia đình hạnh phúc. trong từng lĩnh vực đã có những điển hình tiên
tiến khảng định vai trò phụ nữ trong xã hội.
Những năm qua, đời sống phụ nữ đã được cải thiện song phụ nữ vẫn là
đối tượng trịu ảnh hưởng nhiều của tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm;
nhiều phụ nữ đang phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại, lao động
giản đơn, thu nhập thấp. Phụ nữ còn thiệt thòi về cơ hội làm việc, chăm sóc
sức khoẻ, hưởng thụ văn hoá...
Bên cạnh ưu điểm, phụ nữ Hải Dương vẫn còn một bộ phận cán bộ nữ
do nhận thức hạn chế nên có tư tưởng mặc cảm, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả
năng của mình; mặt khác, tàn dư của tư tưởng phong kiến, định kiến giới, dòng
động trẻ làm việc trong các doanh nghiệp có tay nghề cao chưa nhiều, chủ yếu
vẫn là lao động cơ bắp, thu hút thấp, điều kiện làm việc và chính sách cho
người lao động còn hạn chế. Tình trạng thể lực, tầm vóc cơ thể của thanh niên
Hải Dương còn thấp so với thanh niên các nước trong khu vực, chưa đáp ứng
yêu cầu của sản xuất công nghiệp, số lượng và tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong
thanh niên có chiều hướng gia tăng. Điều kiện vui chơi giải trí lành mạnh và
phát triển thể lực cho các thanh niên còn thiếu thốn.
Dự báo trong những năm tới tình hình thanh niên Hải Dương sẽ có
những biến đổi sâu sắc. Thanh niên tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu lao
động xã hội, cơ cấu thanh niên trong khu vực ngành nghề có sự biến đổi theo
hướng tăng nhanh ở các ngành công nghiệp và xây dựng, giảm nhanh ở các
ngành nông nghiệp, ngày càng có nhiều thanh niên đến làm việc ở các khu
công nghiệp và doanh nghiệp tạo nên một đội ngũ thanh niên công nhân đông
đảo, cơ cấu dân số là thanh niên ở đô thị và các khu trung cư tăng nhanh, bên
16
cạnh đó thanh niên đi làm ăn xa, thanh niên đi du học và lao động ở nước
ngoài có xu hướng tăng, cùng với sự mở rộng quy mô giáo dục, đào tạo, số
lượng học sinh, sinh viên trong các trường dạy nghề và cao đẳng sẽ tăng cao.
Tiếp tục có sự phân hoá về học vấn, thu nhập, điều kiện hưởng thụ, văn hoá
và mức sống của thanh niên.
- Cựu chiến binh tỉnh Hải Dương
Tỉnh Hải Dương có 76.847 hội viên Hội Cựu chiến binh, sinh hoạt ở
1.952 chi hội, 315 cơ sở hội, trong đó hội viên là Đảng viên có 31.049 người
chiếm trên 40% tổng số hội viên. Phần lớn hội viên Hội cựu chiến binh là
những người từng trải, được tôi luyện trong khói lửa chiến tranh, có kiến
thức, kinh nghiệm trong cuộc sống, có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên
định; thẳng thắn, trung thực; có trình độ hiểu biết, có uy tín trong nhân dân,
nguồn thu nhập chủ yếu là lương và phụ cấp 88,8%.
Nhìn chung đội ngũ trí thức Hải Dương đã có bước phát triển mới,
năng lực tiếp thu, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ đạt được
nhiều tiến bộ, một bộ phận chuyển sang làm việc ở khu vực ngoài quốc
doanh, liên doanh các văn phòng đại diện nước ngoài có thu nhập khá hơn.
Một bộ phận trí thức tuổi cao, đời sống còn khó khăn đã chuyển sang các
nghề lao động giản đơn hoặc trái ngành nghề. Hàng năm , có hàng nghìn sinh
viên tốt nghiệp ra trường song chưa được bố trí, sử dụng hợp lý, thiếu môi
trường làm việc, nghiên cứu và cống hiến. Một số sinh viên giỏi được các cơ
quan TW, các doanh nghiệp lớn sử dụng, không muốn về địa phương công
tác.
- Đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Hải Dương
Tỉnh Hải Dương có trên 83.000 tín đồ thuộc 3 tôn giáo được nhà nước
công nhận (Phật giáo, Công giáo, Tin lành), có trên 250 chức sắc tôn giáo.
Trong thời gian qua, đồng bào có đạo tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
18
nước; Các chức sắc, tín đồ tôn giáo tích cực tham gia vào các hoạt động nhân
đạo từ thiện, khuyến học, khuyến tài. Mối quan hệ giữa chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân với các tôn giáo, chức sắc, tín đồ ngày càng
được củng cố, cởi mở hơn. Tuy nhiên, tình hình tôn giáo những năm qua vẫn
tiềm ẩn những yếu tố phức tạp, các giáo hội không ngừng tăng cường việc
xây dựng cơ sở thờ tự với tiền đầu tư khá lớn, tăng cường tổ chức đào tạo
nâng cao trình độ cho chức sắc và nhận người nhập tu dưới nhiều hình thức.
Tình trạng hoạt động tôn giáo trái phép diễn ra nhiều như: Sự giao lưu giữa
các chức sắc tôn giáo gia tăng, địa bàn rộng, việc xây sửa nơi thờ tự, hành lễ
giảng đạo không đảm bảo các quy định của Nhà nước, chưa được sự đồng ý
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng
của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng
toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và
Đoàn thể đã giao cho" [34, tr. 698].
- Về vai trò của công tác dân vận, xuất phát từ việc xác định.
"Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai
người" [33, tr.261-262]; cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân; vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề đoàn kết, tập
hợp được đông đảo nhân dân. Đảng dù vĩ đại đến mấy cũng chỉ là một bộ
phận của nhân dân, Hồ Chí Minh nêu lên luận đề "Dân vận kém thì việc gì
cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" [34, tr.700].
Đồng thời Người cũng chỉ rõ hạn chế của một số địa phương và cán bộ về
công tác dân vận: "khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận. Cử ra một
ban hoặc vài người, mà thường cử những cán bộ kém rồi bỏ mặc họ. Vận được thì
tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom giúp đỡ, tự cho
mình không có trách nhiệm dân vận. Đó là sai lầm rất to, rất có hại" [34, tr.699].
Điều đặc biệt trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là luôn xác định; dân
là quý nhất, là quan trọng hơn hết. Dân là gốc thì dân phải là chủ. Dân chủ phải
được hiểu là quyền con người, quyền được mưu cầu hạnh phúc như nhau. Mất
cái lõi "dân là gốc" thì dân chủ sẽ thành vô nghĩa. Người nhấn mạnh: Lãnh đạo
20
một nước mà để cho nước mình lạc hậu, bị thiệt thòi trong hưởng hạnh phúc
con người cũng là mất dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao về dân
chủ: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân" [35, tr.279]. "Thực hành dân
chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn" [37, tr.249].
Muốn vận động dân thì điều cơ bản đầu tiên là phải dân chủ; vì vậy, mở
đầu bài báo Dân vận, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Nước ta là nước dân