đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo công tác thanh niên từ nam 1997 den nam 2004 - Pdf 33

BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH:

Ban chấp hành

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

BCHTW:

Ban Chấp hành Trung ương

C-K-T:

Chất lượng - kiểu dáng - tiết kiệm

HDLT:

Hướng dẫn liên tịch

KH - ĐTN:

Kế hoạch - Đoàn Thanh niên

KHKT:

Khoa học kỹ thuật

LHTN:


công tác thanh niên.
- Nguồn tài liệu của luận văn: Cơ bản là các tác phẩm kinh điển của
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam, các văn kiện của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,
Văn kiện Đại hội Đoàn tỉnh Thái Nguyên từ 1997 - 2004, các tạp chí, sách
báo có liên quan đến đề tài.
- Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic và các phương
pháp liên ngành như thống kê, so sánh, khảo sát v.v…
6. Đóng góp của luận văn
Đưa ra một cái nhìn tổng thể về những hoạt động lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác thanh niên từ khi tái lập tỉnh 19972004. Từ đó gợi mở cho Đảng bộ những biện pháp tốt hơn trong công tác
vận động thanh niên, nhằm không ngừng phát huy tốt vai trò của thanh niên
trong tỉnh đối với công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội ở địa phương trong
giai đoạn mới.

6


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và công tác thanh niên
của tỉnh Thái Nguyên.
Chương 2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác
thanh niên từ năm 1997 đến năm 2004.
Chương 3. Ý nghĩa, kinh nghiệm lãnh đạo công tác thanh niên của
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (1997-2004).
Chương 1

616.919 người (75,74% số lao động). Dân số khu vực đô thị chiếm khoảng
22,75% dân tố toàn tỉnh. Có 8 dân tộc cùng sinh sống hoà thuận với nhau, đã
từ lâu trên đất Thái Nguyên. Dân tộc Kinh chiếm khoảng 75,5%; Tày 10,7%;
Nùng 5,1%; Dao 2,1%; Sán Dìu 2,4%; các dân tộc khác: Cao Lan, Mông, Hoa
chiếm 4,2% dân tố toàn tỉnh. Nhiều dân tộc có truyền thống, bản sắc dân tộc
riêng rất đáng tự hào và các dân tộc Thái Nguyên đều đoàn kết, tin yêu, giúp
đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hoà bình cũng như trong các cuộc đấu tranh vì
độc lập dân tộc, vì sự phồn vinh của đất nước.
Thái Nguyên là mảnh đất có bề dày truyền thống lịch sử. Mái Đá
Ngườm di chỉ quan trọng nhất của khu di chỉ khảo cổ Thần Sa, hố khai quật
của di chỉ Ngườm cho thấy địa tầng có 4 tầng văn hoá cổ. Ở tầng 1, tầng 2 là
những di vật đặc trưng của nền văn hoá Bắc Sơn, Hoà Bình, Sơn Vi; tầng 3 là
các công cụ đặc trưng của Ngườm; tầng văn hoá thứ là công cụ đá kiểu
Phiêng Tung… Thần Sa là nơi người nguyên thuỷ đã sống liên tục trong thời
gian dài hàng chục nghìn năm, từ thời đại đá cũ đến hậu kỳ đá mới; các phát
hiện khảo cổ quan trọng đã góp phần chứng minh sự xuất hiện và phát triển
liên tục của con người thuộc các nền văn hoá khảo cổ trên đất Việt Nam, từ
núi Đọ, qua Thần Sa, Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn… để bước sang thời sơ sử thời đại kim khí với nền văn hoá Đông Sơn rực rỡ. Qua di tích khảo cổ Thần

8


Sa, chứng tỏ Thái Nguyên không chỉ là quê hương của người Việt mà là quê
hương của nền văn hoá đa sắc tộc rất đáng tự hào. Di tích khảo cổ học Thần
Sa đã được Nhà nước xếp hạng năm 1982 là một trong những di tích đặc biệt
của quốc gia.
Do đặc điểm địa hình tự nhiên, Thái Nguyên có nhiều thuận lợi cho
phát triển kinh tế nhưng khí hậu nhiệt đới cũng ảnh hưởng đến sự phát triển
của cây trồng và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người như bão, lũ, hạn
hán, sâu bệnh… Trong quá trình vật lột với khó khăn, thử thách để lao động

của nhà Đông Hán, nhân dân các dân tộc Thái Nguyên đã tích cực tham gia
khởi nghĩa (lúc đó Thái Nguyên ngày nay nằm trong huyện Long Biên thuộc
quận Giao Chỉ.
Cuối thế kỉ XI đầu thế kỉ XII, nhân dân Thái Nguyên đã sát cánh cùng
nhân dân cả nước đánh tan quân xâm lược Tống, bao người con của quê
hương Thái Nguyên đã đổ xương máu, hy sinh tuổi thanh xuân để giữ gìn độc
lập cho Tổ quốc. Tiêu biểu là Dương Tự Minh, Nguyễn Như Mai, Lý Nghĩa
Vinh…
Khi nhà Minh xâm lược và nô dịch nước ta (thế kỉ XV), ở Thái
Nguyên, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ, đó là các
cuộc khởi nghĩa của Trần Nguyên Khoáng, Nguyễn Đa Bí (năm 1408) của
Chu Sư Nhan, Nguyễn Khắc Cẩn, Lưu Nhân Chú…
Khi thực dân Pháp đem quân đánh Thái Nguyên, ngay từ những năm
đầu của thế kỉ XX, nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã nổi dậy đấu tranh, tiêu biểu
cho phong trào đấu tranh chống Pháp ở Thái Nguyên. Thời gian này là cuộc
khởi nghĩa của binh lính do Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn) và Lương Ngọc Quyến
(1917), đây là cuộc khởi nghĩa được đánh giá là lớn nhất nổ ra ở Việt Nam
trong thời kỳ thế giới đại chiến lần thứ nhất.
Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, nhân dân
Thái Nguyên một lòng theo Đảng đấu tranh giành độc lập dân tộc, Thái

10


Nguyên có căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai là trung tâm của Trung ương Đảng,
trực tiếp chỉ đạo cách mạng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái
Nguyên được vinh dự đảm nhận trọng trách đón nhận và bảo vệ các cơ quan
Trung ương đảng, Chính phủ, Bộ quốc phòng, Tổng chỉ huy trong kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954).
Từ đầu năm 1947, hầu hết các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ,

Những năm qua, kinh tế Thái Nguyên phát triển với tốc độ nhanh và
bền vững hơn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt xấp xỉ 9%.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Năm 2004, tỉ trọng
nông nghiệp - xây dựng là 38,34%, nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 25,43% [6,
tr.2].
Việc ứng dụng công nghiệp sản xuất tiên tiến, áp dụng các mô hình
quản lý hiện đại, xây dựng thương hiệu, uy tín của sản phẩm hàng hoá bắt đầu
được các doanh nghiệp quan tâm triển khai, một số sản phẩm đã có chỗ đứng
vững chắc ở thị trường trong nước như thép cán, sản phẩm, cơ khí, chè, xi
măng…
Sản xuất công nghiệp đã thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và có bước phát
triển nhanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng gấp 2,4 lần (từ năm 2000 2005). Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp mũi nhọn tăng cao như thép
cán, xi măng.
Hoạt động thương mại với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế,
đảm bảo cung ứng đầy đủ hàng hoá phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của
nhân dân.
Hệ thống giao thông tiếp tục được đầu tư phát triển, cung cấp nước
sạch cho sinh hoạt thành thị, nông thôn và miền núi được quan tâm, lưới điện
được nâng cấp, đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Văn hoá xã hội được quan tâm đầu tư phát triển và từng bước phù hợp
với sự phát triển kinh tế. Các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - xã hội đều có

12


những tiến bộ đáng kể. Thông qua việc thực hiện các chương trình đề án đã
huy động được nhiều nguồn lực đầu tư và phát triển. Thực hiện tốt chương
trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đời sống
cho nhân dân.
Các hoạt động văn hoá, thông tin, báo chí đã bám sát nhiệm vụ chính

đoàn viên tăng không lớn (trung bình chiếm 25% trong tổng số thanh niên),
nhưng chất lượng đảm bảo với yêu cầu đặt ra: Số mới kết nạp vào hàng năm
từ 7 đến 14.000 đoàn viên. Việc rà soát, phân tích chất lượng đoàn viên được
tiến hành thường xuyên. Song công tác quản lý đoàn viên của một số cơ sở
Đoàn chưa chặt chẽ, chất lượng sinh hoạt, hoạt động cấp chi đoàn còn nhiều
hạn chế.
Công tác Đoàn tham gia xây dựng Đảng: Để tạo thêm nguồn lực cho
Đảng, BCH tỉnh Đoàn đã tham mưu cho tỉnh uỷ ra kết luận số 69 (6/1990) về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác đoàn thanh niên trong tình hình
mới, tham mưu cho tỉnh uỷ ra Chỉ thị về công tác phát triển dảng viên trẻ.
Đồng thời Ban thường vụ tỉnh đoàn đã có kế hoạch số 12/KH-ĐTN ngày
20/3/1994 chỉ đạo công tác giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng.
Công tác kiểm tra của Đoàn: Uỷ ban kiểm tra các cấp của Đoàn đã
thường xuyên chủ động, tích cực trong việc tổ chức, kiểm tra việc thực hiện
Điều lệ, các Chỉ thị, Nghị quyết của Đoàn.
Công tác Đội và phong trào thiếu nhi: Hàng năm trong các chương
trình kế hoạch công tác lớn của Đoàn, nhiệm vụ công tác đội và phong trào
thiếu nhi đã được các cấp bộ Đoàn quan tâm đúng mức, dành thời gian, cơ sở
vật chất thoả đáng, tiến hành chỉ đạo thường xuyên, có kết quả hơn. Cán bộ
đoàn viên thanh niên và các cơ sở Đoàn đã thể hiện và phát huy ngày một rõ
hơn vai trò nòng cốt trong việc thực hiện và vận động các tầng lớp nhân dân
cùng tham gia chăm sóc giáo dục thiếu nhi. Trong chỉ đạo tỉnh Đoàn và cơ sở

15


giáo dục đào tạo phối hợp ra Nghị quyết số 01 để định hướng, tạo cơ chế giúp
cơ sở có điều kiện tổ chức thực hiện thuận lợi có kết quả.
Phong trào thiếu nhi được tổ chức bằng nhiều hình thức hoạt động.
Thông qua các chương trình công tác Đội hàng năm đã thu hút hàng vạn thiếu

Toàn tỉnh có 144 Chi hội với 6750 hội viên. Hoạt động của Hội đã góp
phần tích cực giúp thanh niên phát huy tài năng sức trẻ của mình, lập thân, lập
nghiệp và kiến quốc.
Qua những nét khái quát trên có thể nhận thấy tình hình công tác thanh
niên trước năm 1997 tại Thái Nguyên đã có những chuyển biến theo hướng
tích cực, song còn nhiều mặt hạn chế. Đặc biệt, sự quan tâm chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh chưa rõ nét, chưa thực sự quan tâm đầu tư cho công tác thanh niên.
Thêm vào đó, do hoàn cảnh chung của đất nước, những năm cuối thập kỉ 80,
đầu thập kỉ 90 còn gặp nhiều khó khăn, chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế.
Các thế lực thù địch ngày càng lộ rõ âm mưu chống phá thành quả cách mạng
nước ta, tăng cường tranh thủ, lôi kéo thanh, thiếu nhi vào hoạt động diễn
biến hoà bình của chúng. Những vấn đề như: việc làm, học tập, vui chơi giải
trí cho thanh, thiếu nhi còn khó khăn. Các tệ nạn xã hội mà đặc biệt là tình
trạng nghiện hút, tiêm chích ma tuý có chiều hướng gia tăng, làm mất trật tự
an toàn xã hội, băng hoại đạo đức truyền thống, phá vỡ hạnh phúc gia đình…
Tất cả đã tác động xấu tới một bộ phận không ít thanh, thiếu nhi… Công tác
Đoàn và phong trào thanh niên cũng chưa đáp ứng kịp những yêu cầu đòi hỏi
của công cuộc đổi mới trên địa bàn tỉnh; phong trào Đoàn phát triển chưa thật
đồng đều. Công tác xây dựng Đoàn, Hội, Đội còn một số mặt lúng túng, nên
về cơ bản đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những mặt còn hạn chế trong công
tác thanh niên.
1.2.2. Công tác thanh niên từ năm 1997 đến năm 2004
Sau khi chia tách tỉnh (1997), hiện nay thanh niên Thái Nguyên có gần
40 vạn người, chiếm 38% dân số và 63,23% lực lượng lao động xã hội. Tuy

17


nhiên, sự phân bố không đồng đều, thanh niên chủ yếu sống ở khu vực nông
thôn chiếm (78,3%).

Công tác thanh niên từ năm 1997 đến 2004 ở tỉnh Thái Nguyên thể hiện
trên một số mặt cơ bản sau:
* Hoạt động của hệ thống tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh
Thái Nguyên lần thứ X (1997 - 2002) với nhiệm vụ "Đẩy mạnh, nâng cao chất
lượng công tác tuyên truyền giáo dục của Đoàn, nhất là giáo dục truyền thống
cách mạng của dân tộc, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng,
của Nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phát triển sâu rộng
phong trào thanh thiếu nhi, tạo điều kiện tốt nhất giúp thanh niên lập thân, lập
nghiệp và tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Góp phần
xung kích thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 424 của Ban chấp hành Trung ương
đoàn, thực hiện tốt công tác xây dựng Đoàn, Hội, không ngừng mở rộng mặt
trận đoàn kết tập hợp thanh niên. Tích cực tham gia xây dựng Đảng; Làm tốt
công tác giáo dục, chăm sóc thiếu niên, nhi đồng. Xây dựng Đội thiếu niên
tiền phong Hồ Chí Minh lớn mạnh" [17].
Với khẩu hiệu hành động "Vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ". Thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đoàn toàn quốc lần thứ VII với mục tiêu đề ra cho công tác Đoàn và phong
trào thanh niên là: "Bồi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam thành lớp người kế tục
trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc thực hiện
thắng lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" [54].
Hoạt động của tổ chức Đoàn tỉnh Thái Nguyên thời kỳ này chủ yếu là
tiếp tục đẩy mạnh hai phong trào lớn "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ
nước" lên tầm cao mới, nhằm tổ chức, động viên đoàn viên, thanh niên tình

19





chặt chẽ với Phòng đào tạo, Phòng quản lý học sinh - sinh viên để được tăng
cường thời gian mở cửa giảng đường, phòng thí nghiệm và thư viện.
Trong toàn tỉnh Thái Nguyên, phong trào "Học tập, rèn luyện vì ngày
mai lập nghiệp" những năm 1997 - 2004 đã lên tới cao trào. Vấn đề hướng
nghiệp cho đoàn viên, thanh niên cũng được quan tâm đặc biệt. Trung tâm tư
vấn dạy nghề, việc làm của tỉnh chưa bao giờ tấp nập, sôi động đến thế. Chỉ
riêng năm học 2001 - 2002, trung tâm đã tư vấn, hướng nghiệp cho hàng
nghìn đoàn viên, thanh niên và dạy nghề cho 621 em, giải quyết việc làm cho
391 đoàn viên, thanh niên… Các đoàn viên, thanh niên công nhân viên chức
cũng không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Toàn
tỉnh có trên 70% thanh niên công chức tham gia các lớp học tiếng Anh, tin
học, văn bằng hai và cả cá khoá đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.
Bằng nhiều loại hình hoạt động phong phú, hấp dẫn và hiệu quả, các cơ
sở Đoàn trong toàn tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh phong trào C-K-T. Hàng
nghìn đoàn viên thanh niên say sưa sáng tạo cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng
kiến, tiếp thu và làm chủ các dây truyền công nghệ mới. Các cuộc thi thợ giỏi,
thi tay nghề, nâng bậc, nâng cao chất lượng, kiểu dáng sản phẩm, làm lợi cho
Nhà nước hàng tỉ đồng.
Trong những năm 1997 - 2004, Đoàn thanh niên nông thôn các cấp
trong toàn tỉnh đã tăng cường phối hợp với các ngành chức năng, xây dựng
hàng loạt chương trình ứng dụng tăng năng suất, chất lượng cây trồng, vật
nuôi như: Chương trình lúa cao sản; Chương trình cây ăn quả; Chương trình
cơ khí hoá nông nghiệp; Chương trình ứng dụng chuyển giao phân vi sinh
nông nghiệp… Điển hình trong các phong trào này là Đoàn Phú Bình, Đồng
Hỷ, Đại Từ, Định Hoá và thành phố Thái Nguyên.
Đoàn thanh niên các cấp tiếp tục giữ vai trò xung kích trong việc tham
gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như làm đường giao thông, thuỷ lợi
với hơn 2000 công trình thanh niên từ (1997-2000) thu hút hơn 10 vạn đoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status