LUẬN VĂN THẠC SĨ - ĐẢNG bộ TỈNH đắk lắk LÃNH đạo CÔNG tác tôn GIÁO từ năm 2005 đến 2015 - Pdf 42

“Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo công tác tôn giáo từ năm 2005 đến năm
2015”
1 Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, sẽ còn tồn tại
lâu dài trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Nhận rõ vai trò, tầm
quan trọng của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống xã hội, Đảng ta luôn
quan tâm lãnh đạo và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ
phận nhân dân; xác định CTTG là nhiệm vụ của cả HTTC mà nội dung cốt
lõi là công tác vận động quần chúng. Đồng thời, Đảng cũng chỉ đạo kiên
quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
nhằm chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa của các thế lực thù địch.
Trong nhiều năm qua, CTTG của Đảng, Nhà nước ta đã thu được nhiều
kết quả quan trọng. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào theo các
tôn giáo được đảm bảo, nhiều sinh hoạt tôn giáo diễn ra bình thường, ổn định
trong khuôn khổ pháp luật. Công tác vận động quần chúng, giáo dục và động
viên tín đồ tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động
từ thiện, thiện nguyện… luôn được quan tâm và đạt nhiều kết quả.
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi, có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế,
chính trị, quốc phòng, an ninh ở khu vực Tây Nguyên và cả nước. Là một tỉnh
có nhiều dân tộc cùng sinh sống với những tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng.
Trong thời gian qua, quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng,
Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo, thực hiện tốt CTTG, góp phần giữ vững ổn định
chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
trên địa bàn địa phương. Tuy nhiên, CTTG của Tỉnh vẫn còn những hạn chế,
bất cập: Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên quán triệt sâu sắc,
đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về CTTG; phương pháp vận
động đồng bào tôn giáo của các ban, ngành, đoàn thể trong HTCT còn thiếu


cụ thể, tỷ mỉ; đội ngũ làm CTTG ở cơ sở còn thiếu, trình độ chuyên môn,


cập nghiên cứu về một địa phương cụ thể. Tuy nhiên, đây là những tài liệu
tham khảo hết sức quý giúp cho tác giả luận văn có cách nhìn bao quát và
phương pháp tiếp cận nghiên cứu, thực hiện đề tài luận văn.
Một số công trình nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam và chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta như: Đặng Hữu (2001), “Lành mạnh hóa các
hoạt động tín ngưỡng và tâm linh hướng vào các giá trị đạo đức truyền thống
của dân tộc”, Tạp chí Khoa học, số 05; Lương Văn Lan – Phạm Viện (2001),
“Nhân tố dân tộc, tôn giáo và công tác Quốc Phòng - An Ninh”, Tạp chí Khoa
học quân sự, số 08; Nguyễn Văn Ngọc, “Thực hiện tốt chính sách tôn giáo
của Đảng, nhằm cũng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân”, Tạp chí
Quốc phòng toàn dân, số 09; Bùi Thị Kim Qùy, Mối quan hệ giữa dân tộc
tôn giáo và thời đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002; GS Đỗ Quang
Hưng, Hiện tượng tôn giáo mới, mấy vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Vấn đề tôn
giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2002; Nguyễn Mạnh Hưởng (2003), “Giải quyết vấn đề tôn
giáo tăng cường đoàn kết toàn dân - yêu cầu cơ bản của sự nghiệp bảo vệ tổ
quốc hiện nay”, Tạp chí Nghệ thuật quân sự, số 2; Nguyễn Mạnh Hưởng
(2003), “Tăng cường đoàn kết dân tộc - nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo
hiện nay”, Tạp chí Tôn giáo, số 3; Nguyễn Mạnh Hưởng (2003), “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về điểm tương đồng đoàn kết lương giáo và vận dụng tư tưởng
đó hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lí luận chính trị quân sự, số 3; Vũ Trọng
Dung (2003), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề tôn giáo”, Tạp chí Giáo dục
lí luận, số 07; Nguyễn Đức Lữ (2004), “Nguyên nhân phát triển những hiện
tượng tôn giáo mới hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lí luận, số 03; Mạc Đường
(2004), “Đặc điểm tín ngưỡng và tôn giáo ở Nam bộ theo cách tiếp cận dân
tộc học và tôn giáo”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 4; Nguyễn Đức Lữ
(2004), “Quan điểm của Đảng về vấn đề tôn giáo trong Văn kiện Đại hội
Đảng khóa IX”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 5; Ban Tư tưởng Văn hóa Trung

Hưng, đây là công trình nghiên cứu có tính tổng hợp và toàn diện nhất về
quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn
giáo trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, để tìm hiểu thật

4


đầy đủ về CTTG của Đảng ở một giai đoạn cụ thể thì cần có sự đầu tư
nghiên cứu với những công trình cụ thể.
* Những công trình nghiên cứu về tôn giáo ở địa phương
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đã được công bố đề cập vấn
đề tôn giáo, thực hiện CTTG và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta ở
các địa phương với nhiều khía cạnh khác nhau:
Nguyễn Đức Thịnh, Công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo ở
Ninh Bình hiện nay, Luận án tiến sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001; Trần Thị Tuyết Hà, Nâng cao hiệu quả
công tác vận động tín đồ công giáo ở Kon Tum hiện nay, Luận văn thạc sĩ
khoa học Tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001;
Trần Xuân Duy, Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây
Nguyên hiện nay - thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Luận án
tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002; Hồ Xuân
Định, Công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Nam Định từ 1990
đến nay, Luận văn thạc sĩ khoa học Tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2004; Mạc Đường (2004), “Đặc điểm tín ngưỡng và tôn
giáo ở Nam bộ theo cách tiếp cận dân tộc học và tôn giáo”, Tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo, số 4; Lê Ngọc Sanh (Chủ nhiệm), Quân đội tham gia xây dựng
hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên
trong điều kiện mới, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Hà Nội, 2005;
Trương Minh Dục (2005), “Nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và thay đổi niềm tin
tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên hiện nay”, Tạp chí

dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân không
theo quy hoạch, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất
ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự, môi trường
sinh thái, và vấn đề dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những
nét đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê,
M'Nông, Gia Rai… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa
xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông, các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như: các bộ
cồng chiêng, đàn đá, đàn T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên... Các lễ hội

7


đáng chú ý gồm: Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến
nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê… được tổ chức
đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk
như: Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột,
Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk
Tur và Tháp Yang Prong,... là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể
quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ
chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể
của nhân loại. Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc đã tạo
nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk. Công tác bảo tồn, phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa của các DTTS
luôn được quan tâm chú trọng, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn
hóa của đất nước, địa phương.
* Đặc điểm tình hình hoạt động tôn giáo ở tỉnh Đắk Lắk
Trên địa bàn tỉnh có 12 tôn giáo, hiện có 4 tôn giáo lớn hoạt động: Công
giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài, với tổng số tín đồ khoảng 500.000
người, chiếm khoảng 26% dân số của Tỉnh. Cụ thể như sau:

gạo, cứu tế, thăm viếng những đồng bào khó khăn, tặng quà cho đồng bào chính
sách, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật, mồ côi, trại dưỡng lão,... nhân dịp
đại lễ Phật đản, lễ Vu Lan, Tết Trung thu, ngày Thương binh - Liệt sỹ, Tết cổ
truyền của dân tộc… Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số trường hợp lợi dụng
uy tín của nhà Phật để đi quyên góp từ thiện mà không có giấy tờ, sổ sách làm
ảnh hưởng đến uy tín của Phật giáo đồng thời gây khó khăn trong CTTG .
Đạo Cao Đài: Số lượng tín đồ gồm 5.199 người, 82 chức sắc, 7 thánh
thất và 1 điểm sinh hoạt đạo. Các hệ phái Cao Đài duy trì sinh hoạt tôn giáo bình
thường; hàng ngũ chức sắc, chức việc và đại bộ phận tín đồ đều chấp hành
nghiêm pháp luật, tin tưởng vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước,
chăm lo đời sống gia đình và thực hiện tốt nghĩa vụ công dân tại địa phương.
Tuy nhiên, một số hoạt động của đạo Cao Đài chưa đi vào khuôn khổ và theo
một trật tự thống nhất, việc thu nhận tín đồ, tổ chức các ngày lễ, tổ chức hoạt

9


động từ thiện…chưa có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Đạo Tin Lành: Với tổng số tín đồ khoảng 162.389 người (trong đó có
130.081 tín đồ là đồng bào DTTS), có 28 mục sư (9 người Kinh, 19 người
DTTS), 28 mục sư nhiệm chức, 112 truyền đạo, 131 truyền đạo tình nguyện.
Toàn tỉnh có 42 chi hội thuộc hệ phái Cơ đốc Phục Lâm; 252 điểm nhóm đã
đăng ký sinh hoạt, còn 151 điểm chưa đăng kí sinh hoạt (trong đó: 91 điểm
thuộc các hệ phái Tin Lành đã được đăng kí sinh hoạt, 60 điểm thuộc các hệ
phái chưa được đăng kí sinh hoạt). Nhìn chung, sinh hoạt và hoạt động của
Ban đại diện Tin Lành tỉnh và các chi hội, điểm, nhóm, cơ bản diễn ra đúng
theo nội dung, chương trình đã đăng kí, bà con tín đồ chấp hành nghiêm pháp
luật, nâng cao ý thức công dân. Tuy nhiên, hoạt động của đạo Tin Lành trên địa
bàn tỉnh vẫn đang tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạo như: Tiếp tục các hoạt động
truyền đạo, truyền chức, cơi nới, xây dựng cơ sở thờ tự trái phép xảy ra ở nhiều

SuKbông đã gửi quyết định về Tây Nguyên bổ nhiệm ban lãnh đạo, từ đó
“Tin Lành Đề ga” bắt đầu hình thành hoạt động và tồn tại ở Tây Nguyên.
Chúng đã tuyên truyền, móc nối, lôi kéo thành lập khung tổ chức “ Tin Lành Đề
ga” tại tỉnh Gia Lai rồi thông qua các đối tượng này phát triển vào tỉnh Đắk Lắk
để tập hợp lực lượng thành lập khung tổ chức “Nhà nước Đề ga độc lập” tại địa
bàn.
Các đối tượng đầu tiên tại Đắk Lắk được móc nối lôi kéo tham gia là
Ksor Wy ( A Ma Trương), Ksor Liêm ( A Ma Oanh), A ma Hơr ( tất cả đều
trú tại thị trấn Ea Đrăng, huyện Ea Hleo). Tháng 02 năm 2001, chúng đã hình
thành được khung tổ chức “Tin Lành Đề ga” cấp huyện, 28 chi hội cơ sở tại
28 buôn thuộc 3 huyện Ea Hleo, Ea Súp, Buôn Đôn, có 4 truyền đạo tình
nguyện, 96 cốt cán trong ban chấp sự và 3630 tín đồ tham gia ( trong đó có
351 tín đồ có đơn xin ra khỏi Hội thánh Tin Lành Việt Nam để theo “Tin
Lành Đề ga” ). Sau vụ bạo loạn tháng 2 năm 2001, tới cuối năm 2002, các lực
lượng chức năng đã tổ chức đấu tranh cơ bản xóa bỏ được “Tin Lành Đề ga”
tại tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên bọn phản động FULRO lưu vong và các đối
tượng cầm đầu, cốt cán bên trong vẫn nuôi dưỡng âm mưu phục hồi hoạt động
cụ thể là:
Đầu năm 2003 Ama Lâm và Ama Huer ở Plei Buôt, xã IaLe, huyện
Chư Sê, tỉnh Gia Lai câu móc với Y Tach Siu ( trú tại buôn Ea Mtha, xã Ea
Rook, huyện Ea Súp) hoạt động phục hồi, lôi kéo được 15 đối tượng tham gia.
Năm 2004 cũng với hình thức hoạt động như năm 2001, Ksor Kok và các

11


thế lực phản động tiếp tục kích động đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói chung và
Đắk Lắk nói riêng và cái gọi là tín đồ “Tin Lành Đề ga”, xuống đường, biểu tình
kéo về trung tâm thị trấn, khu trung tâm một số huyện, thành phố như Ea H’Leo,
Buôn Đôn, Ea Súp, Krông Na…trong đó số người tham gia đông và quy mô lớn

Fulrô chống phá chính quyền các cấp. Tà đạo Thanh Hải Vô Thượng Sư tại
thành phố Buôn Ma Thuột, Krông Ana, Cư Mgar, trên gần 100 tín đồ, tà đạo
Amí Sa Ra tại thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Cư Kuin, Krông Ana trên
100 người. Hiện tượng tôn giáo mới Tâm linh Hồ Chí Minh gần 60 người theo
thuộc các huyện Krông Ana, Cư Kuin, Cư Mgar... Chính quyền các cấp đã tổ
chức tuyên truyền vận động, giải thích, giải tán nhưng còn một số người vẫn
đang hoạt động. Pháp môn Diệu âm du nhập vào Đắk Lắk từ năm 2004, hiện
có khoảng 40 tín đồ. Pháp luân công xâm nhập vào địa bàn tỉnh từ năm 2008,
hiện có 28 người tham gia. Thiên đạo xuất hiện từ năm 2011 và hiện còn 16
tín đồ hành đạo.
1.1.2. Thực trạng công tác tôn giáo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk trước
năm 2005
Trước năm 2005, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng bộ và
UBND, tình hình tôn giáo đã có nhiều chuyển biến quan trọng, góp phần ổn
định chính trị, phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng - an ninh trên địa
bàn. Có thể khái quát một số kết quả cụ thể, đó là:
Thứ nhất, trong thời kì đổi mới đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH, trên cơ
sở quán triệt chủ trương của Đảng và nhận rõ tầm quan trọng của vấn đề tôn
giáo và CTTG, Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk đã ban hành nhiều nghị quyết, chương
trình, kế hoạch, nhất là các nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hằng năm,
đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện khá tốt CTTG. Tiếp tục quán triệt và
cụ thể hóa CTTG của Đảng gắn với tình hình nhiệm vụ và yêu cầu CTTG trên
địa bàn. Các nghị quyết đều thực hiện nhất quán chính sách của Đảng và Nhà
nước ta, phát huy tinh thần đoàn kết lương - giáo, tất cả vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Nhà nước bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của mọi công dân. Đồng

13





chính đáng của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà
nước, tạo được tinh thần phấn khởi trong đồng bào tín đồ và nhà tu hành các
tôn giáo. CTTG của Đảng bộ ngày càng được coi trọng, làm cho việc lãnh đạo
CTTG ngày càng có hiệu quả, nhiều Văn kiện và Nghị quyết của Đảng bộ ra
đời đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.
Nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở địa phương được tiến hành bình
thường, ổn định trong khuôn khổ của pháp luật; nhiều hoạt động tôn giáo lớn diễn
ra thường niên như: Lễ Noel, Lễ Phật Đản. Một số tổ chức tôn giáo cũng như các
hệ phái trong từng tổ chức tôn giáo được Nhà nước và pháp luật công nhận.
Nhìn chung, các chức sắc tôn giáo hành đạo gắn bó với dân tộc, phù hợp
với dân tộc, phù hợp với hoàn cảnh của đất nước. Trong quá trình hành đạo,
các chức sắc không chỉ chăm lo đến phần đạo mà còn quan tâm đến phần đời
của các tín đồ. Nhiều chức sắc đứng về phía dân tộc chống lại sự lợi dụng tôn
giáo và tín ngưỡng của các thế lực phản động, giữ gìn sự trong sáng của đạo
mình. Các chức sắc còn hướng tôn giáo của mình theo đúng hướng đồng hành
cùng dân tộc như: “đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của đạo Phật;
“kính chúa yêu nước, sống phúc âm trong lòng dân tộc” của Công giáo; “nước
vinh đạo sáng” của đạo Cao Đài.
Tín đồ các tôn giáo ngày càng yên tâm, tin tưởng và hăng hái thực hiện các
chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần vào công cuộc đổi mới, cũng cố khối
đại đoàn kết toàn dân, nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước, không chỉ đáp
ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào, mà còn chăm lo đến phần
đời của người có đạo, nên đã làm cho đồng bào tin tưởng vào Đảng và Nhà nước,
gắn bó với đời, hòa mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Nguyên nhân của những ưu điểm
Một là, luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của BCH trung ương,
Bộ Chính trị, Chính phủ và sự giúp đỡ các bộ ngành, cơ quan Trung ương, đã


hợp với tình hình, chậm đổi mới đối với CTTG từ đó đã làm bức xúc một số
bà con tín đồ.

16


Ba là, công tác QLNN về tôn giáo chưa có nhiều biện pháp vừa cơ bản
vừa cụ thể, thiết thực, hiệu quả. Do đó, tình trạng truyền đạo trái phép vẫn còn
diễn ra ở một số nơi, gây rối trật tự ở các địa phương. Đội ngũ làm CTTG còn
hạn chế, bất cập cả về phẩm chất, năng lực chuyên môn và tác phong công
tác, chưa đáp ứng đòi hỏi của tình hình, nhất là ở những địa phương diễn ra
các điểm nóng về tôn giáo.
Nguyên nhân của những hạn chế
Một là, Đắk Lắk là địa phương có tình hình tôn giáo phức tạp, là địa bàn
có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh. Dân trí thấp,
cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, đời sống tín đồ tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn,
công tác tuyên truyền giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và
địa phương đến với đồng bào vùng dân tộc chưa đầy đủ, kịp thời. Do đó
thường bị các thế lực thù địch tập trung lợi dụng tôn giáo.
Hai là, một số bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên quán triệt
sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh ủy. Một số
đảng viên còn có thành kiến với tôn giáo. Chưa hiểu đúng, đầy đủ về đặc
điểm điều kiện tự nhiên, KT - XH của miền núi cũng như tập quán, tâm lý,
trình độ của từng DTTS, của từng vùng, nên xác định chủ trương, chính sách
và những hình thức, bước đi cách làm chưa phù hợp.
Ba là, sự phối hợp giữa các cơ quan trong HTCT còn hạn chế trong việc
thực hiện CTTG. Hệ thống tổ chức cán bộ đoàn thể còn thiếu và yếu về kinh
nghiệm công tác. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh chưa có sự đầu tư tích
cực, thiếu tập trung dứt điểm, cụ thể, hiệu lực điều hành thấp, các cơ quan,
ban ngành cấp tỉnh có vai trò, trách nhiệm chưa cao, còn quan liêu, ỷ lại.

phần dân tộc, tôn giáo cùng sinh sống; bọn phản động FULRO lưu vong sẽ
tiếp tục chỉ đạo, cấu kết với những phần tử xấu trong nước tìm mọi cách
chống phá; an ninh trong vùng đồng bào DTTS, an ninh trên các lĩnh vực
chính trị nội bộ, kinh tế, tôn giáo, an ninh nông thôn tiềm ẩn yếu tố phức tạp;
hoạt động của các loại tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội và tình hình
trật tự an toàn giao thông tiếp tục diễn biến phức tạp.

18


Các tôn giáo sẽ tiếp tục phát triển nhiều hơn về số lượng tín đồ, cơ sở
thờ tự, đẩy mạnh việc cũng cố, kiện toàn tổ chức; phục hồi lại một số hội
đoàn, ủy ban phục vụ truyền giáo và bảo vệ lợi ích của giáo hội. Một số đối
tượng tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để hành ngề mê tín dị đoan; một số
phần tử cực đoan của Phật giáo Thống Nhất đang có ý đồ phục hồi hoạt
động trở lại. Địa bàn và đối tượng truyền giáo của đạo Tin lành và Công
giáo mở rộng sẽ xuất hiện nhiều cơ sở tôn giáo, các nhóm, hệ phái xâm
nhập, lén lút đến hoạt động và xây dựng cơ sở trái phép, gây ảnh hưởng, lôi
kéo quần chúng nhất là vùng sâu, vùng xa gây khó khăn cho công tác
QLNN về tôn giáo.
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tôn giáo
Trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những
thành tựu đã đạt được về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, vẫn
còn những mặt hạn chế về thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo. Vì thế, công
tác tôn giáo trong thời kỳ này đặt ra những yêu cầu mới nhằm nâng cao hơn
nữa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác này.
Thứ nhất: Quan điểm về công tác tôn giáo
Chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo từ năm 2005 đến năm 2015
được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, kế thừa quan điểm của Hồ Chí

quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo
đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình
đẳng trước pháp luật.
Hai là, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết,
phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo
tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị tích
cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ
quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín

20


ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà
nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an
ninh quốc gia.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng
Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh” là điểm tương đồng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc,
gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung của đất nước. Mọi công
dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động
viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống
nhất Tổ quốc. Thông qua việc thực hiện tốt các chính sách về kinh tế - xã hội,
an ninh, quốc phòng, nhằm bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân
nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
Bốn là, CTTG là trách nhiệm của cả HTCT
Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội,

nghiệp đổi mới, đồng bào các tôn giáo là một trong những lực lượng hưởng
ứng tích cực phong trào thi đua yêu nước, các tổ chức, cá nhân tôn giáo đã
tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội thông qua việc thăm và tặng
quà cho các hộ nghèo nhân dịp lễ, tết, xây dựng nhà tình nghĩa, khám, chữa
bệnh từ thiện, cấp thuốc miễn phí, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt..
Trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
nhân dân, kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo
chống phá cách mạng. Tôn trọng và phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa,
đạo đức của các tôn giáo, bồi đắp và làm phong phú kho tàng văn hóa của dân
tộc Việt Nam trong thời kỳ mới.
Thứ ba: Về nhiệm vụ và giải pháp
Nhiệm vụ chủ yếu
Một là, thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình

22


phát triển KT - XH nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, trong
đó có đồng bào các tôn giáo.
Đây là trách nhiệm của cả HTCT của các thành phần kinh tế, của toàn xã
hội nhằm tạo niềm tin vào con đường xây dựng thành công CNXH có cuộc
sống ấm no hạnh phúc ngay trên trần thế.
Hai là, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng
chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Đây chính là nhằm bảo vệ quyền lợi, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của mọi người dân, bảo vệ các hoạt động hợp pháp, ngăn chặn các hành động
lợi dụng tôn giáo nhằm chống lại lợi ích chính đáng của tín đồ và xã hội, bôi
nhọ thanh danh của tôn giáo.
Ba là, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt
đời đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở, hướng

chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhân
dân, nhất là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo.
Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ
quốc, làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và CNXH, hăng
hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ
cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và
nhân dân; tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và
đồng bào có đạo, thông qua đó tăng cường sự đồng thuận giữa những người
có tín ngưỡng, tôn giáo và những người không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa
những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; đồng thời, tạo cơ sở để
đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín dị đoan, lợi dụng tôn
giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.
Hai là, tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng HTCT ở cơ
sở vững mạnh.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; đổi mới nội dung, phương thức
công tác vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo, phù hợp với đặc điểm của
đồng bào có nhu cầu luôn gắn bó với sinh hoạt tôn giáo và tổ chức tôn giáo.

24


Tăng cường hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân
dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với chức sắc, chức
việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo.
Ba là, tăng cường QLNN đối với các hoạt động tôn giáo.
Tăng cường đầu tư và thực hiện có hiệu qủa các dự án, chương trình mục
tiêu quốc gia, đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân các vùng khó khăn, đặc biệt
quan tâm các vùng đông tín đồ tôn giáo và vùng dân tộc miền núi còn nhiều
khó khăn. Sớm ban hành Pháp lệnh về tôn giáo và các văn bản hướng dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status