LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH hà NAM LÃNH đạo CÔNG tác dân vận từ năm 2005 đến 2015 - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
An ninh nhân dân

Chữ viết tắt
ANND

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Chỉ huy quân sự
Chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Hội đồng nhân dân

CHQSG
CNXH
ĐLDT và CNXH
HĐND

Hệ thống chính trị
Kinh tế - xã hội
Lực lượng vũ trang

HTCT
KT - XH
LLVT

Mặt trận Tổ quốc
Quốc phòng toàn dân


TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Yêu cầu khách quan đối với công tác dân vận của

9

Đảng bộ tỉnh Hà Nam

9

Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác
dân vận

1.3.
Chương 2
2.1.

2.2.

Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác dân
vận
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo
công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015
Một số kinh nghiệm

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


thống chính trị, góp phần tạo động lực đưa đất nước vững bước tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Là một tỉnh có vị trí chiến lược đối với cả nước, trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã quán
triệt chủ trương, chính sách công tác dân vận của Đảng và Nhà nước, từng
bước nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận, tạo sự gắn bó tin tưởng
giữa dân với Đảng và chính quyền, động viên nhân dân ra sức thực hiện thắng
lợi các mục tiêu, nhiệm vụ KT-XH, quốc phòng và an ninh của tỉnh; góp phần
quan trọng đưa Hà Nam trở thành tỉnh trọng điểm của đồng bằng Bắc Bộ có
sự phát triển toàn diện về kinh tế, vững mạnh về QP-AN và ổn định trật tự an
toàn xã hội. Trước năm 2005, công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Nam có
nhiều ưu điểm trong phát triển KT-XH, góp phần giữ vững ổn định an ninh
chính trị của địa phương và cả nước. Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế, yếu kém
trong nhận thức hoạch định chủ trương và chỉ đạo tổ chức thực hiện.
3


Thời kỳ mới đã đặt ra yêu cầu bức thiết đối với công tác dân vận của cả
nước trong xây dựng, phát huy nguồn động lực, đảm bảo đà tăng tưởng nhanh và
phát triển bền vững. Song, những năm (2005-2015), công tác dân vận của tỉnh Hà
Nam vẫn còn một số hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển KT-XH,
tình hình an ninh chính trị. Hiệu quả, hiệu lực công tác dân vận của các cấp ủy
đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có mặt còn
thấp. Lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân có nơi, có thời điểm chưa quan
tâm đúng mức: Chưa tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu kiện kéo dài
trong quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng, ô nhiễm môi trường, giải quyết chế
độ chính sách đối với người có công còn bất cập, chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng
như đề ra các cơ chế, chính sách chưa hợp lý trong đời sống xã hội. Những bất cập,
hạn chế đó đã tác động tiêu cực đến việc phát huy nội lực nhân dân và sự ổn định,
phát triển của địa phương; ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xây dựng Đảng bộ,
chính quyền các cấp và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội ở Hà Nam.

đoàn kết dân tộc phát huy sức mạnh của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Hồng Quân (2010), Đảng lãnh đạo tăng
cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân từ năm 1986 đến năm 1996, luận văn
Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị, Hà Nội; Vũ Oanh (1996), Đổi mới
công tác dân vận của Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội; PGS, TS Đoàn Ngọc Hải (2003), Quán triệt quan điểm của
Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn
mới, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, số 4; Nam Yên (2009), “Tư cách,
cách ứng xử của cán bộ làm công tác dân vận”, Tạp chí Dân vận, số 4; Ban biên
tập (2015), “Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết và các quyết định của Bộ chính trị về
công tác dân vận”, Tạp chí Dân vận, số 3; Vũ Hùng (2005), Dân và mối quan hệ
giữa Đảng cầm quyền với dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, luận án Tiến sĩ Xây
dựng Đảng, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội.
Những công trình trên đã đề cập đến nội dung công tác dân vận của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể một cách khái quát. Chỉ ra sự
cần thiết phải đổi mới công tác vận động nhân dân trong công cuộc đổi mới,
làm rõ phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác dân
vận. Có một số công trình bước đầu tổng kết, đúc rút kinh nghiệm công tác dân
vận đối với hệ thống chính trị.
- Nhóm công trình nghiên cứu về công tác dân vận ở các địa phương
Nguyễn Mậu Linh (2003), Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc lãnh đạo công tác
dân vận (1986 - 2002), luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính
5


trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Nhang (2003), Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo công tác dân vận từ năm 1997 đến năm 2003, luận văn
Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội; Bế Văn Hữu
(2008), Công tác vận động quần chúng của Đảng bộ tỉnh Cao Bằng từ
năm 1996 đến năm 2005, luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện

người dân Hà Nam, cơ sở để tiến hành công tác vận động quần chúng tốt hơn.
Tổng thể những công trình, đề tài, bài viết trên đã đề cập nhiều vấn đề
khác nhau về công tác dân vận của Đảng, của một số địa phương và ở Hà
Nam. Song, chưa có công trình và tác giả nào nghiên cứu một cách toàn diện
và cụ thể dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Đảng về đề tài “Đảng bộ tỉnh
Hà Nam lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015”. Nhưng,
những công trình của các tác giả trên là những tài liệu quý, tác giả có thể
tham khảo kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo công tác dân vận
từ năm 2005 đến năm 2015, qua đó rút ra một số kinh nghiệm để vận dụng
vào công tác vận động nhân dân trong thời gian tới đạt hiệu quả cao hơn.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ yêu cầu khách quan đối với công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh
Hà Nam từ năm 2005 đến năm 2015.
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
về công tác dân vận ( 2005 - 2015). Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân.
- Rút ra nhận xét và một số kinh nghiệm từ qúa trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam
lãnh đạo công tác dân vận trong những năm (2005 - 2015)
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác dân vận.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà
Nam về công tác dân vận, tập trung làm rõ công tác dân vận của các cấp ủy
đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương.
- Về thời gian từ năm 2005 đến năm 2015. Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập
đến một số vấn đề liên quan đến thời gian trước năm 2005 và sau năm 2015.
- Về không gian nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Hà Nam.

CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM
VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
1.1. Yêu cầu khách quan đối với công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà
Nam
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Hà Nam tác động
đến công tác dân vận
Hà Nam, nằm ở phía Tây Nam châu thổ Sông Hồng, cửa ngõ phía Nam Thủ
đô Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, phía Nam
giáp tỉnh Nam Định, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình, có lợi thế
trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ; có hệ thống giao thông thuận lợi,
nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc Nam. Trên địa bàn tỉnh có đường sắt
Bắc - Nam, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 21B và Quốc lộ 38. Do vậy, Hà Nam thuận lợi
trong phát triển, giao lưu kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh
trong vùng và cả nước. Là tỉnh nông nghiệp, địa hình đa dạng, chủ yếu là
vùng đồng bằng chiêm trũng, vùng đồi núi và nửa đồi núi, có nguồn tài
nguyên đá vôi trữ lượng lớn ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm; ngoài
sông Hồng, còn có hai con sông lớn chảy qua là sông Đáy và sông Châu
Giang thường gây ra xói lở, lũ lụt. Yếu tố tự nhiên này đã phân hóa mức
thu nhập các vùng, ảnh hưởng lớn đến tâm lý và đời sống nhân dân trong
phát triển KT-XH và tạo ra nhiều tình huống khó khăn phức tạp cho công
tác dân vận của Đảng bộ, chính quyền các cấp trong giữ vững ổn định
chính trị xã hội, sự đồng thuận, đoàn kết, tương trợ của nhân dân.
Tỉnh Hà Nam được tái lập từ 01.01.1997, có vị trí chiến lược quan
trọng về KT-XH và QP-AN ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ cũng như cả nước.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 860,2 km 2, dân số trung bình 834,1 nghìn
người với 5 huyện và 1 thành phố; mật độ dân số trung bình 961 người/ km 2..
Điểm nổi bật của Hà Nam là hệ thống giao thông thuận lợi; có nhiều khu công
nghiệp, cơ sở đào tạo và công trình phục vụ dân sinh quy mô lớn [65, tr.1]. Diện
tích đất nông nghiệp tương đối lớn phù hợp cho sản xuất nông nghiệp và nuôi
trồng thuỷ sản; ngoài ra Hà Nam còn có trữ lượng đá vôi lớn phù hợp cho việc

nhập bình quân đầu người hiện nay đạt 35,73 triệu đồng, thu ngân sách đạt
2850 tỷ đồng. Đời sống nhân dân được nâng lên, bộ mặt đô thị, nông thôn đổi
mới, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; Chương trình xây dựng
nông thôn mới được triển khai với hiệu quả cao, năm 2014 có 18 xã trong tỉnh
10


đạt tiêu chí nông thôn mới. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế ở Hà Nam tính ổn
định chưa đảm bảo, chưa khai thác hiệu quả các nguồn lực để tạo bước đột
phá kinh tế, sự phân hoá giàu nghèo và chênh lệch trình độ dân cư còn cao.
Dân số Hà Nam phân bố không đều trên địa bàn. Tỷ lệ tăng dân số của
tỉnh tương đối nhanh; sự di dân tập trung nhiều ở các thành phố, thị trấn, khu công
nghiệp nên gây phức tạp tình hình. Trong tỉnh có 3 tôn giáo: Công giáo, Tin lành,
Phật giáo; tính đến ngày 31.12.2014 toàn tỉnh có trên 20 vạn tín đồ tôn giáo,
chiếm 26 % tổng dân số; có 379 chức sắc các tôn giáo, 762 cơ sở thờ tự tôn giáo
(530 chùa, 224 nhà thờ, 07 nhà nguyện, 09 nhà dòng đạo công giáo, 01 nhà thờ
đạo tin lành) [14, tr.1], tín đồ Công giáo đang gia tăng, nguyên nhân một số nhà
thờ bị hư hỏng trong chiến tranh nay được xây dựng lại và sự chuyển về của tín
đồ từ các địa phương khác. Hoạt động tôn giáo, nhìn chung tuân thủ pháp luật;
quan hệ giữa tổ chức, cá nhân tôn giáo đối với hệ thống chính trị ở các cấp tiếp
tục thay đổi theo hướng tích cực. Song, trong các sinh hoạt tôn giáo của các tôn
giáo ở một số nơi trên địa bàn còn có biểu hiện vi phạm, có thời điểm phức tạp
gây khó khăn cho tỉnh trên phương diện thực hiện chính sách tôn giáo, an ninh,
chính trị. Đó là việc gây sức ép đòi xây dựng lại nhà thờ, đòi đất cho nhà chùa,
truyền đạo trái quy định, có chức sắc tôn giáo tư tưởng cực đoan bảo thủ xúi
giục tín đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Vì vậy, vận động đồng bào có
đạo là một khâu rất quan trọng trong công tác dân vận của tỉnh Hà Nam.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH tích cực chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, nền văn hoá của tỉnh Hà Nam càng phong phú đa dạng và được phát huy
theo hướng tích cực nằm trong tính thống nhất của văn hoá Việt Nam. Những giá

giờ cũng được mọi ngành, mọi cấp, mọi cán bộ đảng viên quan tâm đúng mức. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: “Vấn đề dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ
nhưng vì nhiều địa phương, nhiều cán bộ hiểu chưa thấu, làm chưa đúng, cho nên
cần phải nhắc lại” [56, tr.698]. Người đã kịch liệt phê phán thái độ coi thường công
tác dân vận. Công tác dân vận làm không tốt sẽ không tạo được sự đồng thuận cao
trong nhân dân, hạn chế trong huy động nội lực thực hiện nhiệm vụ chính trị, mất
ổn định an ninh, chính trị, xã hội ở cơ sở trong một thời gian nhất định. Không làm
tốt công tác dân vận, thì không thể phát triển KT-XH và giữ vững ổn định tình hình
chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là không đảm bảo chắc chắn sự lãnh đạo của
Đảng trong sự nghiệp Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc.
Trước năm 2005, công tác dân vận ở Hà Nam có những ưu điểm, hạn
chế như sau:
12


Về ưu điểm:
Đánh giá khái quát, trước năm 2005 các chủ thể dân vận trong HTCT,
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đã đạt được ưu điểm: “Hệ thống dân vận
của Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở
được củng cố, kiện toàn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia”
[50, tr.43]. Trong đó:
Công tác dân vận của các cấp ủy đảng có hiệu ứng lan tỏa cao, góp
phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, thúc
đẩy phát triển KT-XH, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng
với nhân dân.
Công tác dân vận của các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang có
những bước chuyển biến và đạt được những kết quả tích cực nhất định. LLVT
trong tỉnh tích cực tham gia giúp dân phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo;
xây dựng HTCT ở cơ sở; làm nòng cốt trong phòng chống và giúp dân khắc
phục hậu quả thiên tai; giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

các loại hình doanh nghiệp luôn phát triển trên tất cả các ngành, công-nông
nghiệp, lâm nghiệp và thương mại, dịch vụ. Kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hóa, thuế từ công nghiệp đóng góp hơn 60% ngân sách của
tỉnh hàng năm. Các khu công nghiệp như Đồng Văn, Hoàng Đông, Tân Tạo, khu
đô thị Hòa Mạc và đào tạo nguồn nhân lực Hà Hoa Tiên, Phú Cường được đầu tư
xây dựng và bước đầu hoạt động có hiệu quả nhất định. Bộ mặt văn hóa xã hội có
sự khởi sắc đáng kể, nhân dân tích cực xây dựng nếp sống văn hoá, đẩy mạnh
hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Thông qua đó tình thương yêu trách nhiệm trong các
tầng lớp nhân dân được nâng lên, các tệ nạn xã hội dần được ngăn chặn, đẩy lùi.
Các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc xây
dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Nhờ sự cố gắng tích cực của
nhân dân, sự phối kết hợp giữa chính quyền, các đoàn thể với LLVT tình hình
chính trị, QP-AN, trật tự xã hội luôn được giữ vững.
Nhìn chung công tác dân vận của các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn
thể trước năm 2005 đã có nhiều chuyển biến, nhưng có mặt chưa thực sự đáp
ứng được nhiệm vụ phát triển KT-XH, QP-AN của tỉnh, phương thức vận
động quần chúng ở một số địa phương chưa thật thích hợp, sức thu hút quần
chúng vào các phong trào hoạt động thực tiễn chưa thực sâu, mạnh mẽ. Bên
cạnh những ưu điểm về công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh trước năm 2005
công tác dân vận tại tỉnh Hà Nam còn có những hạn chế như sau:
14


Về hạn chế:
Thứ nhất, nhận thức về công tác dân vận của một số cấp uỷ đảng, chính
quyền, MTTQ và các đoàn thể xã hội chưa thực sự sâu sắc, còn coi công tác
dân vận là công tác vận động quần chúng; trong tổ chức thực hiện ở một số
đơn vị cơ sở còn thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Một bộ phận cán bộ,
đảng viên còn xem nhẹ, thậm chí coi thường công tác dân vận. Có cấp uỷ chưa
quan tâm đổi mới sự lãnh đạo đối với công tác dân vận, chậm củng cố kiện toàn

Một là, chưa nhanh nhạy trong nắm bắt đánh giá tình hình, nhận thức
chưa đầy đủ, sâu sắc tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng, sắp
xếp, bố trí đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận chưa phù hợp.
Hai là, sự phối hợp giữa chính quyền và Mặt trận, đoàn thể ở cơ sở chưa thực
sự đồng bộ, hiệu quả hạn chế. Vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị
của một số cấp uỷ đảng, chính quyền còn máy móc, dập khuôn; thiếu tính sáng tạo,
chưa sát thực tế. Việc thực hiện theo chức năng các thành tố trong HTCT ở cơ sở có
thời điểm chưa đúng với quy chế, quy định.
Những hạn chế trên đây là những vấn đề cấp thiết đặt ra đòi hỏi Đảng bộ
tỉnh Hà Nam có sự đổi mới hơn nữa công tác dân vận những năm (2005-2015)
nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đẩy mạnh
CNH, HĐH, hội nhập và phát triển sâu rộng đất nước.
1.1.3. Điều kiện mới và chủ trương của Đảng về công tác dân vận
những năm (2005 - 2015)
- Tình hình thế giới, trong nước
Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn trên thế giới,
nhưng xung đột dân tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và lãnh thổ, nạn
khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia gia tăng. Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục
phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích
cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp. Nền kinh tế tri thức
phát triển mạnh làm cho con người và tri thức càng trở thành nhân tố quyết
định sự phát triển của mỗi quốc gia. Do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính kéo
dài, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng lớn đòi hỏi
các quốc gia, các tổ chức quốc tế phải phối hợp giải quyết. Cuộc đấu tranh
của nhân dân các nước trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân sinh, dân
chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển. Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc
vẫn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn
16



xúc trong xã hội chưa được giải quyết tốt; dân chủ XHCN, sức mạnh khối đại
17


đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ; một số mặt công tác của Đảng,
Nhà nước, MTTQ còn chuyển biến chậm; còn tiềm ẩn những yếu tố gây mất
ổn định chính trị xã hội. Lĩnh vực văn hoá, xã hội còn một số yếu kém chậm
được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; môi trường nhiều nơi
đang bị ô nhiễm nặng. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực,
kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển; nguy cơ tụt hậu
về kinh tế; suy thoái và chệch hướng; quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng
vẫn là những nguy cơ không thể xem nhẹ; một bộ phận nhân dân chưa thật sự
yên tâm, tin tưởng vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tình hình thế giới, trong nước với những thuận lợi, khó khăn liên quan
trực tiếp đến công tác dân vận, vì vậy Đảng đã có chủ trương về công tác dân
vận trong những năm (2005-2015) như sau:
- Chủ trương của Đảng về công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015
Trong thời kỳ hội nhập, phát triển sâu rộng, bên cạnh những thành tựu
đã đạt được về kinh tế, văn hóa xã hội vẫn còn những hạn chế mà có nguyên
nhân từ mối quan hệ giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng. Do vậy công tác
dân vận trong thời kỳ này luôn mang tính cấp thiết và đặt ra những yêu cầu
mới. Chủ trương của Đảng về công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015
được thể hiện trong Văn kiện các Đại hội Đảng lần thứ IX, X, XI và các Nghị
quyết của BCH Trung ương; bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ giải pháp công tác dân vận (Đặc biệt là NQTW 25,
ngày 03/6/2013 của Hội nghị BCHTW 7, Khóa XI về “Tăng cường và đổi
mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, đã
thể hiện sâu sắc chủ trương của Đảng về công tác dân vận)
Thứ nhất, quan điểm chỉ đạo công tác dân vận.

hợp: Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền
làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng
sáng tạo và bảo đảm đồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triển
xã hội đất nước.
Quan điểm của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới, được
thể hiện cụ thể, sâu sắc trong NQTW-25 (Hội nghị BCHTW 7, khóa XI),
đánh giá toàn diện chủ thể, khách thể của công tác dân vận. Mối quan hệ giữa
nhân dân và cách mạng được làm rõ hơn “cách mạng là sự nghiệp của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ”. Công tác
19


dân vận chỉ đạt hiệu quả khi có động lực đúng đắn và chú trọng lợi ích trực
tiếp của người dân “phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của
nhân dân...”. Tiếp tục khẳng định, công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị và đặt ra yêu cầu cao đối với chính quyền trong tổ chức, thực
hiện. Đảng phải có phương thức lãnh đạo công tác dân vận phù hợp, gắn liền
với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh.
Thứ hai, phương hướng, mục tiêu; nhiệm vụ giải pháp về công tác dân
vận của Đảng trong thời kỳ mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X xác định: Phát huy dân chủ là
mục tiêu, phương hướng của công tác dân vận. Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ
công tác dân vận của Đảng. Trong thời kỳ mới, công tác dân vận được xác
định theo phương hướng:
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm
tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích;
cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao,
tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân”. [49, tr. 238-239]

Trên cơ sở quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận, căn
cứ vào thực tiễn địa phương, vào nhiệm vụ phát triển KT-XH, Đảng bộ tỉnh
Hà Nam đã đề ra những chủ trương về công tác dân vận ở địa phương.
1.2.1. Quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về công tác dân vận
Từ những định hướng chỉ đạo của các nghị quyết Trung ương và Bộ
Chính trị, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã xác định tính chất, tầm quan trọng của
công tác dân vận trong thời kỳ mới (đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc
tế sâu rộng). Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ Hà Nam tại Đại hội lần thứ
XVII, trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển KT-XH, nêu rõ quan điểm về
công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh từ năm 2005 đến năm 2010:
Tiếp tục đổi mới công tác dân vận của các cấp uỷ, tổ chức đảng. Tăng
cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng và sự phối hợp chặt chẽ giữa
chính quyền đối với Mặt trận và các đoàn thể nhân dân..., tăng cường
mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân. Quan tâm, chăm lo xây dựng
tổ chức đoàn thể vững mạnh; đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, đi sâu, đi sát cơ sở, bám dân tuyên truyền,
vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt đường lối chủ trương của
21


Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, cuộc vận động xây dựng
đời sống văn hoá ở khu dân cư; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở;
phát huy quyền làm chủ, tinh thần năng động, sáng tạo của nhân dân,
tích cực tham gia đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Phát
huy tốt vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
[50, tr.75-76]
Công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Hà Nam những năm (2005-2010)
thể hiện tập trung trên các nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, nâng cao sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng của các cấp ủy đảng
về công tác dân vận. Vì vậy, tiếp tục đổi mới, tìm phương thức hoạt động phù hợp

của MTTQ và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền
và thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội; xây dựng các tổ chức, đoàn
thể vững mạnh; chú trọng phát triển tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên
trong các doanh nghiệp; phát động sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước
trong các tầng lớp nhân dân [51, tr.70 - 71]. Quan điểm công tác dân vận của
Đảng bộ tỉnh những năm (2011- 2015) được thể hiện như sau:
Thứ nhất, phát huy vai trò của các chủ thể làm công tác dân vận, công
tác dân vận được hợp thành bởi nhiều chủ thể, như dân vận của cấp ủy đảng,
dân vận của chính quyền và dân vận của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã
hội. Do vậy, hiệu quả công tác dân vận phải được nhìn nhận từ các quan hệ
chủ thể - đối tượng, đối tượng - chủ thể; thực chất là quan hệ giữa Đảng với
dân, Nhà nước với dân, Mặt trận đoàn thể với dân, quan hệ trong nội bộ dân
với dân. Hiệu quả công tác dân vận được thể hiện trong tất cả các mối quan hệ
đó, trong các hoạt động, các phong trào, các cuộc vận động đòi hỏi phải thiết
thực, cụ thể, lâu bền, tiết kiệm và tiến bộ.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính
trị - xã hội. Điều đó có nghĩa là đảm bảo bề rộng, chiều sâu các hoạt động
dân vận của MTTQ, các tổ chức đoàn thể và đánh giá chất lượng hoạt động
bằng tiêu chí thực tế, thông qua thành quả cụ thể. Có sự bổ sung, phát triển
chủ trương dân vận, xác định rõ hơn vai trò của chủ thể công tác dân vận;
vai trò phản biện, giám sát của MTTQ và các đoàn thể xã hội trong xây
dựng Đảng, chính quyền, nhằm đưa lại hiệu quả thiết thực phù hợp với
thực tiễn, khắc phục khuyết điểm trong công tác dân vận. Đảm bảo quyền
lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động, phải chú trọng phát triển tổ
23


chức Công đoàn, Đoàn thanh niên trong các doanh nghiệp và quan tâm đến
nhu cầu chính đáng hợp pháp của đồng bào có đạo nhằm thực hiện tốt
chính sách tôn giáo, tín ngưỡng. Đã đánh giá đúng và phát huy vai trò của


Mục tiêu, phương hướng chủ yếu của công tác dân vận trong những năm
(2006-2010) là: Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng đối với công tác
dân vận, tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động của cán bộ đảng viên và
quần chúng nhân dân về công tác dân vận. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các
tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT-XH của địa
phương. Tập hợp và tạo sự đồng thuận, đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong nội
bộ nhân dân.
Quán triệt sâu sắc những mục tiêu, phương hướng về công tác dân vận
của Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII và qua hiệu quả hoạt động dân vận của
HTCT, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII bổ sung, phát triển thêm một số
nội dung như “tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp
ủy, tổ chức đảng”, “tập trung phát triển hạ tầng kinh tế xã hội” và “đẩy
mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng lãng phí”. Trong cải
cách hành chính, lấy cải cách thủ tục hành chính làm trọng tâm. Tổng thể
sự kế thừa và phát triển đó nhằm tăng cường đoàn kết các tầng lớp nhân
dân, phát huy thế mạnh của địa phương phấn đấu thực hiện thắng lợi các
mục tiêu KT-XH, QP-AN mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra nhằm
nâng cao đời sống nhân dân, vận động nhân dân để tạo và huy động có hiệu
quả các nguồn lực; đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH, đảm bảo kinh tế
tăng trưởng cao, bền vững hiệu quả. Động viên mọi tiềm năng sáng tạo,
phát huy vai trò làm chủ của nhân dân đẩy mạnh CNH, HĐH địa phương,
tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở;
nâng cao trình độ dân trí, trình độ hưởng thụ văn hoá xã hội cho nhân dân,
tạo công việc phù hợp cho nhân dân. Ổn định và cải thiện đời sống nhân
dân, thực hiện mục tiêu nâng cao dân sinh, dân trí và thực hành dân chủ
của nhân dân. Chăm lo xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững
mạnh. Củng cố mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Phát
huy quyền làm chủ và trí tuệ của nhân dân tham gia xây dựng Hà Nam giàu
mạnh, văn minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status