“Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm
2005 đến năm 2015”,
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đã và đang có những thay đổi quan
trọng: sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức; xu
thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế nhưng cũng xuất hiện không ít những vấn đề
gay gắt, mang tính toàn cầu. Một trong những vấn đề đó là đói, nghèo. Nó tồn
tại như một thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của các chế độ xã
hội, của mỗi quốc gia, dân tộc. Cuộc chiến chống đói, nghèo luôn là vấn đề được
quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới, đặc biệt là trong giai đoạn hiện
nay, khi toàn cầu hóa nền kinh tế đang là xu hướng chủ đạo, chi phối sự phát
triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nghèo, đói không chỉ là vấn đề xã hội mà còn là
vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước. Chính sách XĐ, GN đã trở thành một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước và là một trong ba mục tiêu thiên nhiên kỷ đã
hoàn thành trước thời hạn năm 2015. Đây là kết quả Việt Nam thu được nhờ
những chính sách đúng đắn về phát triển kinh tế - xã hội và XĐ, GN trong thời
gian qua. Tuy nhiên, cuộc chiến chống đói, nghèo một cách bền vững đã và đang
đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm giải quyết
trong thời gian tiếp theo.
Trong xu thế đó, với quyết tâm xây dựng tỉnh Khánh Hòa ngày càng
phát triển giàu mạnh từ những lợi thế sẵn có của mình, bằng những chủ trương
và giải pháp thiết thực, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Khánh Hòa đã tập trung
mọi nỗ lực phát triển kinh tế đi đôi với XĐ, GN và đã thu được nhiều kết quả
đáng khích lệ. Đời sống của đại bộ phận người nghèo được cải thiện rõ nét,
không chỉ đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm mà còn đáp ứng được
các nhu cầu cơ bản khác về đời sống và văn hóa. Tỉnh Khánh Hòa đã nhận thức
rõ việc thực hiện tốt XĐ, GN là một trong những điểm mấu chốt, góp phần bảo
đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ
dành hầu như toàn bộ cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần
tích lũy hầu như không có.
Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu, thu nhập không đủ đáp ứng nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
Sự nghèo khổ, bần cùng được biểu hiện là đói, là tình trạng con người không
có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống
hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động.
Đói và nghèo là hai khái niệm khác nhau, phản ánh cấp độ và mức độ
khác nhau về tình trạng nghèo khổ của một bộ phận dân cư. Tuy nhiên, giữa
đói và nghèo lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì đã đói thì đương nhiên
là nghèo, ngược lại nghèo là một dạng tiềm tàng của đói. Nếu nghèo không
được giải quyết, cứ để kéo dài chỉ cần gặp phải rủi ro trong cuộc sống như:
ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hoả hoạn... sẽ lập tức rơi xuống đói; điều này cũng
cho thấy việc phân biệt giữa đói và nghèo cũng chỉ là tương đối.
Xóa đói là làm cho một bộ phận dân cư đói nâng cao mức thu nhập, nâng
cao mức sống, từ đó mà vượt qua tiêu chí đói. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số
lượng người đói giảm xuống bằng không trong một khoảng thời gian xác định.
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao thu nhập, nâng
cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần
trăm và số lượng người nghèo giảm xuống theo thời gian.
Đói và nghèo có quan hệ mật thiết với nhau, do đó XĐ, GN có quan hệ
với nhau. Góc độ chung nhất, XĐ, GN chính là quá trình Nhà nước, địa
phương, cộng đồng hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng đói, nghèo
vươn lên trong sản xuất, cuộc sống từ đó mà thoát khỏi đói, nghèo. Nói một
cách khác, XĐ, GN chính là quá trình chuyển một bộ phận dân cư đói, nghèo
lên một mức sống cao hơn.
3
hóa tốt đẹp của dân tộc. Thực hiện XĐ, GN chính là nhằm khắc phục mặt trái
4
của nền kinh tế thị trường nhằm bảo đảm cho nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy vai trò to lớn của XĐ, GN đối với
toàn xã hội, chiếm vị trí quan trọng trong chính sách của Đảng và Nhà nước.
XĐ, GN trở thành một trong những chương trình mục tiêu quốc gia được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đã đi vào thực tiễn cuộc sống, từng bước tháo gỡ
những khó khăn cho người nghèo, tạo cho người nghèo có một động lực mới,
niềm tin và ý chí quyết tâm vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cùng xã hội.
Về nhiệm vụ, giải pháp:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã xác định
những nhiệm vụ trọng tâm để XĐ, GN là: “Đẩy mạnh việc thực hiện chính
sách đặc biệt về trợ giúp đầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất sản xuất; trợ
giúp đất ở, nhà ở, nước sạch, đào tạo nghề và tạo việc làm... phát huy hơn nữa
vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân tham gia
công cuộc xóa đói, giảm nghèo” [26, tr.217]. Nhiệm vụ XĐ, GN mà Đại hội
X xác định đã bảo đảm tính xã hội hóa cao làm cho người nghèo tiếp cận
được đa dạng các nguồn lực để vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên, công cuộc
XĐ, GN không chỉ đáp ứng ngay mục tiêu trước mắt, mà quan trọng là người
nghèo phải thoát nghèo một cách bền vững.
Giải pháp XĐ, GN:
Thứ nhất, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn và thực hiện lồng ghép các chương trình dự án KT - XH để XĐ, GN.
Chủ trương của Đảng là đẩy mạnh việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng
ở nông thôn như trường học, trạm y tế, điện, nước sạch, chợ và đường giao
thông cùng với các chương trình KT- XH khác như Chương trình việc làm,
nước sạch và vệ sinh môi trường, chương trình giáo dục, y tế... nhằm tập trung
Nhà nước là hướng vào phát triển con người, tạo ra động lực để tăng trưởng
kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy
bản sắc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Thực hiện XĐ, GN chính
là nhằm khắc phục mặt trái của nền kinh tế thị trường nhằm bảo đảm cho nền
6
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy vai trò
to lớn của XĐ, GN đối với toàn xã hội, chiếm vị trí quan trọng trong chính
sách của Đảng và Nhà nước.
* Khái quát về điều kiện tự nhiên và KT - XH của tỉnh Khánh Hòa tác
động đến công tác XĐ, GN
Về điều kiện tự nhiên
Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.217,6 km 2, phần đất liền của Tỉnh
nằm ở tọa độ địa lý từ vĩ độ11055’00’N đến vĩ độ 12054’00’B, có vùng biển
đảo rộng lớn với khoảng 200 đảo lớn nhỏ ven bờ và các đảo san hô của huyện
đảo Trường Sa. Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi
trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh. Đây cũng là điểm cực Đông trên đất
liền của Việt Nam. Bờ biển tỉnh Khánh Hòa kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối
vịnh Cam Ranh, có độ dài 385 km (tính theo mép nước) với nhiều cửa lạch,
đầm vịnh. Khánh Hòa có 2 thành phố trực thuộc tỉnh: Nha Trang, Cam Ranh;
thị xã Ninh Hòa và 6 huyện: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh,
Vạn Ninh, Trường Sa. Các huyện, thị xã, thành phố lại được chia thành 35
phường 6 thị trấn và 99 xã. Trong đó có hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh
Vĩnh có các xã đặc biệt khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo đói cao. Huyện đảo Trường Sa
nơi chịu nhiều điều kiện khắc nghiệt của thời tiết đồng thời vị trí địa lý cách xa
đất liền nên cũng có nhiều khó khăn trong công tác XĐ, GN của Tỉnh.
Khánh Hòa có quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo
địa phận tỉnh, nối Khánh Hòa với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Quốc lộ
tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh trong các bản làng
(palây). Dân tộc Hoa chiếm 0,86% sống chủ yếu ở Nha Trang, Diên Khánh và
Ninh Hòa Các nhóm chính khác gồm Cơ-ho chiếm 0,34%, Ê-đê chiếm
0,25%... Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm... Người
Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa. Tuy nhiên do những điều kiện lịch sử, từ
giữa thế kỷ XVII về sau này, người Chăm ở Khánh Hòa lần lượt di chuyển vào
các tỉnh phía Nam. Vì vậy mà ngày nay, người Chăm ở Khánh Hòa còn lại số
8
lượng không đáng kể. Dân số Khánh Hòa phân bố không đều. Dân cư tập trung
đông nhất ở thành phố Nha Trang (chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh), trung tâm chính
trị, kinh tế, văn hóa của Tỉnh. Huyện Diên Khánh và thành phố Cam Ranh cũng
có mật độ dân số khá cao (Xấp xỉ 400 người/km²). Thị xã Ninh Hòa và các
huyện còn lại ở đồng bằng có mật độ dân cư không chênh lệch lớn và gần bằng
mức trung bình toàn tỉnh (khoảng 200 người/km²). Các huyện miền núi có mật
độ dân số tương đối thấp là Khánh Sơn (62 người/km²) và Khánh Vĩnh (29
người/km²). Nơi có mật độ dân số thấp nhất tỉnh là huyện đảo Trường Sa (0.39
người/km²). Đây cũng là một trong những huyện của Tỉnh có nhiều điều kiện
đặc biệt khó khăn ảnh hưởng không nhỏ đến chính sách phát triển KT - XH của
Tỉnh.
Với điều kiện tự nhiên, xã hội của một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
có tiềm năng phong phú về hải sản, khoáng sản cùng với vị trí chiến lược về
hàng hải và quốc phòng - an ninh đang là lợi thế to lớn để phát triển KT - XH
của tỉnh Khánh Hòa. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tỉnh cũng còn gặp
nhiều khó khăn trong công tác XĐ, GN. Đời sống của một bộ phận nhân dân,
nhất là vùng miền núi, dân đi biển, dân tộc thiểu số, lao động thuần nông có
nhiều khó khăn. Số lao động không có việc làm và thiếu việc làm còn nhiều.
Mức sống giữa thành thị và nông thôn còn chênh lệch lớn, tệ nạn xã hội phát
thiện. Từ năm 2001 đến năm 2005, toàn Tỉnh đã giảm được 15.501 hộ nghèo, tỷ
lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 11,14% đầu năm 2001 xuống còn 3,31% đầu năm
2005. Đời sống của những vùng nghèo, hộ nghèo được cải thiện bớt khó khăn
hơn, hạ tầng cơ sở các vùng đặc biệt khó khăn được đầu tư, đổi mới đáng kể.
Thứ hai, tập trung huy động được nguồn vốn lớn cho các chương trình,
dự án liên quan đến mục tiêu Quốc gia XĐ, GN của Tỉnh. Trong 5 năm (2000
- 2005) tổng nguồn vốn huy động cho các chương trình, dự án liên quan đến
mục tiêu Quốc gia XĐ, GN và giải quyết việc làm khoảng “trên 720 tỷ đồng,
riêng trong 2 năm 2004 - 2005 là 392 tỷ đồng” [7, tr.4]; Các dự án thuộc
Chương trình mục tiêu Quốc gia XĐ, GN theo quyết định số 143/2001/QĐTTg ngày 27 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ: Dự án Đầu tư cơ sở
hạ tầng; Dự án tín dụng; Dự án Hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn; Dự
án Định canh, định cư, ổn định dân cư, kinh tế mới; Dự án Hướng dẫn cách
10
làm ăn và khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho người nghèo... đều đạt
được những kết quả quan trọng. Đồng thời, qua thực hiện chương trình XĐ,
GN, sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, điều hành của chính quyền và vai trò
của các tổ chức đoàn thể có sự đổi mới, gắn bó hơn với cơ sở, với nhân dân.
Thứ ba, giải quyết tốt vấn đề việc làm góp phần tích cực trong công tác
XĐ, GN ở địa phương. Về giải quyết việc làm, trong 5 năm (2000 - 2005) gần
“55.000 người được giải quyết việc làm mới và có thêm việc làm, đã đào tạo
nghề và dạy nghề gắn với việc làm cho gần 11.000 người, trong số đó có gần
70% số người được đào tạo đã có việc làm, Trung tâm dịch vụ việc làm đã tư
vấn giới thiệu việc làm cho 3.542 người” [7, tr.5], gửi học sinh đi học tại các
trường công nhân kỹ thuật trung ương. Những kết quả đó đã góp phần vào
tăng trưởng kinh tế cao và thực hiện công bằng xã hội trên địa bàn của Tỉnh.
Thứ tư, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, đoàn thể
trong công tác XĐ, GN. Được sự chỉ đạo và triển khai thực hiện tích cực của cấp
chưa thực sự thoát nghèo.
Hai là, ý chí quyết tâm vượt đói nghèo của nhiều hộ chưa cao, còn tồn
tại tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của nhà nước và cộng đồng xã hội;
chưa phát huy và khai thác được thế mạnh của địa phương, lực lượng lao
động nông nghiệp và phi nông nghiệp còn lớn nhưng lại thiếu kỹ thuật, thiếu
trình độ tay nghề.
Ba là, chương trình XĐ, GN là chương trình KT - XH tổng hợp, diễn ra
trên phạm vi rộng, đòi hỏi phải có một nguồn lực lớn cũng như một chính sách
đồng bộ linh hoạt thì quá trình triển khai mới được thuận lợi. Tuy nhiên, trong
thực tế nguồn lực đầu tư cho XĐ, GN và giải quyết việc làm còn hạn hẹp, tiến
độ giải ngân các nguồn vốn còn chậm bởi nhiều thủ tục rườm rà.
Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với Đảng bộ tỉnh và
các ban, ngành liên quan phải luôn chú ý quan tâm, rà soát để có chủ trương,
chính sách XĐ, GN phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn. Đặc biệt, cần có
nhiều nỗ lực và giải pháp thiết thực, đúng đắn hơn nữa để đạt được những
thành quả lớn hơn trong công tác XĐ, GN những năm tiếp theo.
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xóa đói, giảm
nghèo (2005 - 2010)
12
Xuất phát từ đặc điểm, điều kiện tự nhiên, KT - XH của Tỉnh và yêu
cầu của tình hình phát triển của đất nước. Quán triệt sâu sắc chủ trương của
Đảng và chính sách của Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa luôn coi việc lãnh
đạo thực hiện XĐ, GN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng
bộ. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về XĐ, GN giai đoạn 2005 - 2010
được thể hiện trong các văn bản: Nghị quyết số 06/NQ-TU, ngày 23 tháng 3
năm 2005, Về chương trình mục tiêu giảm nghèo tỉnh Khánh Hòa giai đoạn
2005 - 2010. Thông báo số 462/TB-TU ngày 27 tháng 4 năm 2005, Thông báo
định: “Tạo môi trường và cơ chế thuận lợi cho người nghèo tiếp cận với các
dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội một cách toàn diện; nâng cao mức sống, tăng
thu nhập, thu hẹp gia tăng khoảng cách giàu nghèo” [60, tr.10].
Mục tiêu cụ thể được xác định:
“Mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 15,32% xuống
còn 2,4% theo chuẩn nghèo quốc gia và từ 17,83% xuống còn 4% theo chuẩn
nghèo riêng của tỉnh” [4, tr.40]. Trên cơ sở mục tiêu của Tỉnh đề ra, các văn
kiện, nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND, HĐND xác định các mục tiêu cụ thể:
Về thu nhập, phát triển cơ sở hạ tầng: Đến cuối năm 2010, thu nhập của
nhóm hộ nghèo tăng gấp 1,5 lần so với năm 2005; Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng
cho 31 xã đặc biệt khó khăn, xã nghèo trọng điểm, đảm bảo đến năm 2010, các xã
này có hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh.
Về vay vốn tín dụng và y tế: đảm bảo cho khoảng 104.000 lượt hộ
nghèo, cận nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi từ ngân hàng Chính sách xã
hội; 876.000 lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế để được khám chữa
bệnh miễn phí; 155.000 lượt học sinh nghèo, học sinh đồng bào dân tộc thiểu
số được miễn, giảm học phí và hỗ trợ đi học.
Về chính sách nhà ở và dạy nghề: “Hỗ trợ ít nhất 8.000 nhà ở cho hộ
nghèo không có nhà hoặc ở nhà tạm (nhà tranh, tre, nứa, xiêu vẹo, dột nát, nhà ổ
chuột không đảm bảo an toàn trong khi mưa bão, lũ); Ít nhất 49.000 lượt người
nghèo được tập huấn về khuyến nông - lâm - ngư, chuyển giao kỹ thuật, hướng
14
dẫn cách làm ăn; Ít nhất 8.000 lượt người nghèo được hỗ trợ dạy nghề tạo việc
làm” [60, tr.10]. Dạy nghề phục vụ chuyển dịch cơ cấu lao động ở các khu vực
chuyển đổi mục đích sử dụng đất, dạy nghề phục vụ cho xuất khẩu lao động.
Quan điểm, mục tiêu trên có tính chiến lược, vừa cơ bản, vừa lâu dài, có ý
nghĩa chỉ đạo mọi hoạt động nhằm tháo gỡ khó khăn cho người nghèo, hộ
cao nhận thức về XĐ, GN.
Như vậy, chủ trương XĐ, GN của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chính là sự
cụ thể hóa quan điểm của Đảng và Chính phủ về vấn đề XĐ, GN thể hiện sự
vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng vào điều kiện thực tiễn ở địa phương.
Chủ trương trên không chỉ có ý nghĩa định hướng, là cơ sở cho việc chỉ đạo tổ
chức thực hiện mà còn là nền tảng tạo nên sự thống nhất về ý chí và hành
động của toàn Đảng, toàn dân trên địa bàn Tỉnh nhằm thực hiện thắng lợi
những mục tiêu, nhiệm vụ XĐ, GN mà Đảng bộ Tỉnh đã đề ra.
1.2. Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo thực hiện xóa
đói, giảm nghèo
1.2.1. Chỉ đạo thực hiện các chính sách hỗ trợ cho người nghèo
Khi đánh giá nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, các cơ quan chuyên trách
đã khẳng định ngoài những nguyên nhân cơ bản như điều kiện tự nhiên, thiếu
vốn làm ăn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, còn những nguyên nhân bất thường
như gặp thiên tai, rủi ro, tai nạn… nên những hộ gia đình này thường gặp
những khó khăn chồng chất trong việc khám, chữa bệnh, cho con đến trường
hay những nhu cầu cần thiết như: nhà ở, nước sạch sinh hoạt… họ bị đẩy vào
cái vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Việc thực hiện các chính sách hỗ trợ
người nghèo những vấn đề trên, không chỉ thể hiện tấm lòng nhân ái, truyền
thống “lá lành đùm lá rách” mà còn là một trong những việc làm giúp người
nghèo có được những nền tảng thuận lợi để vươn lên thoát nghèo. Do vậy,
Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, HĐND, UBND và các cơ quan hữu quan đã rất chú
trọng tập trung thực hiện những chính sách hỗ trợ người nghèo và đạt những
kết quả đáng kể, tập trung trên các nội dung:
16
Về thực hiện chính sách hỗ trợ y tế: Chủ trương hỗ trợ về y tế đã được
xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XV
số 11/2007/NQ-HĐND ngày 02/02/2007 của HĐND tỉnh thông qua chế độ học
bổng cho học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Khánh Sơn,
Khánh Vĩnh, các xã miền núi, các thôn miền núi và con em đồng bào dân tộc
thiểu số thuộc diện hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Tỉnh sống rải rác ở địa bàn
các xã, phường, thị trấn không thuộc các xã miền núi trên địa bàn tỉnh Khánh
Hoà; Quyết định số 20/2007/QĐ-UBND ngày 03/6/2007 của UBND tỉnh về
việc bổ sung, sửa đổi Quyết định số 83/2005/QĐ-UBND ngày 29/9/2005 của
UBND tỉnh, Quy định chế độ học bổng và khen thưởng học sinh. Trong quá
trình chỉ đạo thực hiện, Tỉnh đã thực hiện miễn giảm học phí; hỗ trợ vở, viết,
sách giáo khoa, trợ cấp xã hội và học bổng. Thực hiện hỗ trợ học bổng cho
3.352 lượt học sinh đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo chính sách của Tỉnh.
Về chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở
Thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
20/7/2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt
cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (nhà 134); Chỉ thị số
29-CT/TU ngày 5 tháng 4 năm 2005, Về việc tập trung chỉ đạo xóa nhà tranh tre,
nhà dột nát cho người nghèo trong tỉnh, HĐND đã thông qua Nghị quyết số
12/2007/NQ-HĐND ngày 02/02/2007 chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, đời
sống khó khăn cư trú lâu năm trên địa bàn miền núi giai đoạn 2007 - 2010;
Quyết định số 15/2007/QĐ-UBND về chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo,
đời sống khó khăn cư trú lâu năm trên địa bàn miền núi giai đoạn 2007 - 2010.
Quan đó, tỉnh Khánh Hòa đã hỗ trợ nhà ở với tổng kinh phí là 66.765,4 triệu
đồng (2005 - 2010).
Như vậy, trên cơ sở nắm bắt rõ nhu cầu, nguyện vọng của người nghèo,
Đảng bộ Tỉnh đã triển khai chỉ đạo thực hiện các chính sách hỗ trợ trên nhiều
phương diện, thông qua đó, giải quyết được những vấn đề thiết yếu, cấp bách
để người nghèo ổn định cuộc sống, có điều kiện nhất định vươn lên thoát
nghèo. Đồng thời, với việc thực hiện những chính sách trên, Tỉnh ủy đã làm
18
nghề miễn phí cho 969 người nghèo với kinh phí 2.448,2 triệu đồng. Ngoài ra,
19
các trường nghề, trung tâm dạy nghề thực hiện miễn 100% các khoản đóng
góp và giảm 50% học phí cho học sinh nghèo. Công tác hỗ trợ dạy nghề cho
người nghèo đã trợ giúp cho người nghèo có tay nghề cần thiết để tự tạo việc
làm hoặc tìm việc làm tại các doanh nghiệp giúp giảm nghèo nhanh, hiệu quả.
Về công tác cán bộ: Bên cạnh việc nhận thức được tầm quan trọng của
vấn đề nâng cao chất lượng lao động, giải quyết việc làm. Tỉnh cũng đã rất chú
trọng công tác đào tạo cán bộ làm công tác XĐ, GN: “Đào tạo cán bộ làm công
tác XĐ, GN; Bổ sung và hoàn thiện hệ thống tài liệu đào tạo cán bộ XĐ, GN,
tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ… hoạt động ngày càng chất lượng và hiệu
quả hơn, tăng cường đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ sở xã,
phường” [72, tr.1]. Từ năm 2006 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội của
Tỉnh đã tiến hành tổ chức các đợt tập huấn, phát hành tài liệu nhằm đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ làm công tác XĐ, GN ở tất cả các cấp tỉnh, huyện, xã với mục
đích là nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ này biết cách tổ
chức, quản lý triển khai thực hiện chương trình.
Nhận thức rõ yêu cầu tăng cường cán bộ cho các cơ sở, ngày
07/05/2007 Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa đã ra Quyết định số 1047/QĐ TC - UB giao nhiệm vụ cho các sở, ban, ngành, các công ty, xí nghiệp và lực
lượng vũ trang đóng trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm huy động mọi nguồn lực
của các ngành, đơn vị và tăng cường cán bộ xuống cơ sở để giúp xã nghèo,
khó khăn thực hiện chương trình XĐ, GN. Trách nhiệm của ngành, đơn vị
được phân công giúp đỡ xã nào, phối hợp với việc cùng địa phương hoàn
thành mục tiêu XĐ, GN ở xã đó trong từng năm.
Để cụ thể hóa nhiệm vụ này, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số
2630/QĐ-TC-UB, Về việc giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị tăng cường
cán bộ tham gia chương trình XĐ, GN và chương trình phát triển KT - XH
trồng trọt và chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, còn phụ thuộc nhiều vào điều
kiện thiên nhiên, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và
còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ chưa
phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc còn nhiều
21
khó khăn, nhất là đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo,
vùng đồng bào dân tộc ít người. Ở những xã này cơ sở hạ tầng còn thiếu và
yếu cả về điện, đường, trường, trạm, nhiều hộ gia đình còn ở nhà tranh
vách đất, nhà dột nát, xiêu vẹo, không đảm bảo an toàn cũng như những
nhu cầu tối thiểu về nhà ở. Những xã khó khăn, chính quyền địa phương
không có đủ nguồn lực và điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng cho địa
phương mình, sự tham gia đóng góp của người dân cũng rất hạn chế.
Nhận thức rõ vấn đề này, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa
lần thứ XV (2005) đã chỉ rõ: “Thu hút mọi nguồn vốn đầu tư cho phát triển.
Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
- hiện đại hóa, nhất là giao thông, thủy lợi, điện, nước sinh hoạt, bưu điện,
trường học” [4, tr.46]. Đặc biệt, đối với các địa phương khó khăn, Đảng bộ
Tỉnh đã có chỉ đạo cụ thể: Huy động, bố trí nguồn lực tập trung cho địa bàn
trọng điểm là các xã đặc biệt khó khăn khu vực, cần tập trung giải quyết các
công trình phù hợp với nhu cầu thiết yếu của nhân dân để đảm bảo điều kiện
thuận lợi phát triển kinh tế và ổn định đời sống.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Tỉnh đã huy động tập trung mọi
nguồn lực cho việc thực hiện chương trình XĐ, GN bao gồm từ ngân sách
nhà nước cấp, nguồn do nhân dân gây quỹ XĐ, GN, nguồn tài trợ của các
cơ quan, tổ chức đoàn thể trong và ngoài tỉnh, tài trợ quốc tế để thực hiện
chủ trương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo, xã nghèo, bảo
đảm sử dụng có hiệu quả. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy
1.2.4. Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và phát huy vai trò của các tổ
chức xã hội cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo
Xây dựng nông thôn mới: Nhận thức được tầm quan trọng của phong
trào xây dựng nông thôn mới với công cuộc XĐ, GN; trên cơ sở Tỉnh Ủy quán
triệt sâu sắc các Nghị quyết, chỉ thị của Trung ương; thực trạng công tác xây
dựng nông thôn trong những năm trước đó, Tỉnh ủy Khánh Hòa đã ban hành
Chương trình hành động số 26-Tr/TU ngày 31/10/2008 thực hiện Nghị quyết
23
Hội nghị Trung ương 7 (Khoá X), Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn. Để thực hiện chỉ đạo của Tỉnh, ngày 17 tháng 11 năm 2008, UBND tỉnh
Khánh Hòa đã ra công văn số 6994/UBND, Về triển khai thực hiện Nghị quyết
số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong
đó giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, tham mưu
văn bản chỉ đạo của UBND giao nhiệm vụ cho các ngành, đơn vị liên quan xây
dựng chương trình, đề án, dự án chuyên ngành cụ thể, hướng dẫn giúp đỡ nhân
dân phát triển sản xuất, tổ chức các loại hình sản xuất ở nông thôn có năng
suất và hiệu quả cao để tăng thu nhập - giảm nghèo, thông qua các hình thức
như: chuyển dịch cơ cấu ngành nghề ở nông thôn từ nông lâm ngư nghiệp
thủy sản sang công nghiệp xây dựng dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, đẩy mạnh công tác khuyến nông, thông tin khoa học kỹ thuật, đào
tạo nghề và tín chấp cho nông dân vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh,
đồng thời giúp đỡ các hộ nghèo.
Sau gần 2 năm (từ năm 2008) triển khai xây dựng nông thôn mới, bộ
mặt nông thôn của Tỉnh đã có sự thay đổi rõ rệt: cơ sở hạ tầng nông thôn ngày
càng khang trang, hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
phát triển phù hợp; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị được
viên tổ chức, vận động nhân dân đẩy mạnh sản xuất, mạnh dạn ứng dụng các
thành tựu khoa học - kỹ thuật trong lao động sản xuất. Hội Nông dân triển
khai phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp
nhau XĐ, GN và làm giàu chính đáng”. Các cấp hội còn tập trung tuyên
truyền, vận động hội viên, phối hợp với trạm Khuyến nông - khuyến lâm khuyến ngư, trạm Bảo vệ thực vật, các ngân hàng hỗ trợ về giống, vốn, phân
bón, chuyển giao khoa học kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt cho hội viên, tổ
chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật thu hút nhiều hội viên
tham gia. Hội Phụ nữ các cấp thực hiện tổ chức các lớp tập huấn khoa học
kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, hạch toán sử dụng
vốn vay, tư vấn sản xuất kinh doanh sản phẩm phù hợp, tham gia các lớp
25