ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-------------------

ĐỖ THU HÀ

ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA,
TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN
NĂM 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo là giảng viên khoa Lịch sử,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hiểu hơn về
Lịch sử dân tộc nói chung và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.
Nhờ có quá trình tích lũy đó mà tôi hoàn thành được khóa luận này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng –
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin cảm ơn phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Hạ
Hòa, Ban tuyên giáo huyện ủy Hạ Hòa đã cung cấp cho tôi những tư liệu về
vấn đề nghiên cứu để tôi hoàn thành khóa luận.
Do sự hạn chế về thời gian, nguồn tư liệu cũng như trình độ nghiên cứu
nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự

1.1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cư ......................................................... 7
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................... 7
1.1.1.2. Dân cư .................................................................................... 13
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ............................................................ 13
1.1.3. Một vài nét về Đảng bộ huyện Hạ Hòa ........................................ 16
1.2. THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở HẠ HÒA TRƯỚC NĂM 2001 .... 20
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO .......................................................................... 23
Chương 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA (TỈNH PHÚ THỌ) LÃNH
ĐẠOXÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM 2001 – 2010 ...... 27
2.1. GIAI ĐOẠN 2001 - 2005 ..................................................................... 27
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Hạ Hòa......................................... 27
2.1.2. Những thành tựu và hạn chế ........................................................... 28
2.1.2.1. Thành tựu .................................................................................. 28


2.1.2.2. Hạn chế ..................................................................................... 39
2.2. GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 ..................................................................... 40
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Hạ Hòa......................................... 40
2.2.2. Những thành tựu và hạn chế ........................................................... 41
2.2.2.1. Thành tựu .................................................................................. 41
2.2.2.2. Hạn chế ..................................................................................... 55
Chương 3. NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM .............................. 57
3.1. NHẬN XÉT CHUNG ........................................................................... 57
3.1.1. Ưu điểm .......................................................................................... 57
3.1.2. Hạn chế ........................................................................................... 59
3.2. BÀI HỌC KINH NGHIỆM .................................................................. 60
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 64
PHỤ LỤC



hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, chợ, nước) trong đó 2/3 số xã ở miền núi
và 90% số người nghèo sống ở nông thôn [1,tr.23].
Từ khi chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lí điều tiết của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Việt Nam đã cho phép 5 thành phần kinh tế cùng
tồn tại và phát triển. Cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế
khu vực nông thôn, làm cho sự phân hóa giàu nghèo ở khu vực này lại càng
tăng lên.Việc ngăn chặn quá trình đói nghèo tự phát của một bộ phận dân cư
là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường.
Ngày nay, đói nghèo đang là một vấn đề có tác động tiêu cực tới mọi
mặt của xã hội.Nó là một hiện tượng cản trở, gây khó khăn cho sự phát triển
kinh tế xã hội của nước ta. Chiến thắng đói nghèo đã và đang trở thành nội
dung quan trọng trong chương trình, kế hoạch của các cấp ủy Đảng, chính
quyền địa phương; xóa đói giảm nghèo là một chủ trương và quyết sách lớn.
Đảng và Nhà nước ta đã đưa xóa đói giảm nghèo trở thành chương trình, mục
tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước
nhằm hỗ trợ trực tiếp các xã nghèo, hộ nghèo những điều kiện cần thiết phát
triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói
nghèo. Tháng 7 – 1998, thủ tướng chính phủ đã chính thức phê duyệt triển
khai chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo nhằm giảm đói
nghèo và lạc hậu trong cả nước.góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước.
Hạ hòa là một huyện có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí
thấp, việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn kém, thiếu cơ sở vật chất kĩ
thuật, tốc độ gia tăng dân số còn cao... Tất cả những điều này đã làm cho nền
kinh tế chậm phát triển, sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp.
Do vậy, ban lãnh đạo huyện đã xác định công tác xóa đói giảm nghèo là một



3


Tuy nhiên, các tài liệu này chưa đề cập một cách có hệ thống và nổi bật
được sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa trong việc xóa đói giảm nghèo
trong những năm 2001 – 2010. Đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá,
nhận xét và rút ra bài học kinh nghiệm về vấn đề mà đề tài khóa luận đặt ra.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa đối với xóa đói giảm
nghèo những năm 2001 – 2010.
- Đề tài nghiên cứu một cách tổng quan về hiện trạng đói nghèo và xóa
đói giảm nghèo ở Hạ Hòa. Qua đó, đưa ra một số giải pháp để thúc đẩy xóa
đói giảm nghèo ở Hạ Hòa phát triển.
- Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế và rút ra những bài học kinh
nghiệm.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp, xử lí nguồn tài liệu.
- Trình bày, phân tích, đánh giá khách quan về sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện Hạ Hòa đối với xóa đói giảm nghèo. Trên cơ sở đó rút ra những
kinh nghiệm.
3.3.

Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử

Đảng, đề tài tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Hạ Hòa với xóa
đói giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2010.
Phạm vi không gian: Huyện Hạ Hòa (Phú Thọ).

Chương 1. Cơ sở để Đảng bộ huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ lãnh đạo
xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2010.

5


Chương 2. Đảng bộ huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo trong những năm 2001 – 2010.
Chương 3. Nhận xét và bài học kinh nghiệm.

6


Chương 1
CƠ SỞ ĐỂ ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA TỈNH PHÚ THỌ LÃNH
ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN HẠ HÒA
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
 Địa hình
Hạ Hòa là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ. Địa
hình Hạ Hòa thuộc dạng lòng chảo, thoải dần theo hướng Đông Nam, được
tạo nên bởi các triền núi cao như các núi Ông (218 m), núi Văn (387 m), núi
Tiên Phong (125,5 m), núi Kìm (513 m), núi Trưa (221,9 m) nằm ở địa phận
10 xã, có sườn thoải dần về hữu ngạn sông Thao và các núi Gò Ngang (272 m
- Yên Kỳ), núi Buộm (Hương Xạ), núi Sơn Nhiễu (152 m - Đại Phạm), núi
Thanh Hương (Phụ Khánh) sườn thoải dần về tả ngạn sông Thao. Chính dạng
địa hình trên đã tạo ra các vùng sinh thái khác nhau (vùng đất bãi trong đê
sông Thao, vùng đồi đất thấp, vùng đồi cao và đất núi) có nhiều hứa hẹn và
điều kiện để địa phương phát triển toàn diện lâm, nông, ngư nghiệp.

Đơn vị:mm
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

35,5

37,6

57,6

năm, có lẽ do Hạ Hòa nằm giữa lòng chảo khu vực hai hồ lớn thủy điện Hòa
Bình và thủy điện Thác Bà.
Hạ Hòa có độ ẩm trung bình 80 - 85%, trong đó độ ẩm cao nhất đo
được là 96%, thấp nhất là 60%.
Chế độ thuỷ văn của Hạ Hòa khá phong phú. Lưu vực sông Thao bao
trùm toàn bộ địa phương gồm dòng chính sông Thao và các phụ lưu, kéo dài
từ Tây Bắc xuống Đông Nam với chiều dài 33,5 km (trong tổng số 902 km có
332 km thuộc nước ta tính đến Việt Trì và 250 km theo hướng này), toả rộng
sang 9 xã hữu ngạn và 12 xã tả ngạn có chiều rộng hàng chục cây số. Đây
cũng là khu vực chuyển tiếp từ Đông Bắc sang Tây Bắc Bắc Bộ. Địa hình lưu
vực sông Thao cao về phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông và Đông Nam,
tạo điều kiện cho mưa địa hình hình thành. Mưa tăng theo độ cao thể hiện khá
rõ rệt. Vùng có địa hình núi cao thì lượng mưa nhiều. Ngược lại, các thung
lũng thấp, kín gió thì lượng mưa giảm. Trên một bình diện khác ta thấy, vùng
mưa lớn Hoàng Liên Sơn sông suối phát triển, có mật độ từ 1 - 1,75km/km2,
nhưng do Hạ Hòa nằm ở vùng thung lũng nên lượng mưa chỉ đạt
2.000mm/năm, lượng bốc hơi nhiều, độ dốc nhỏ, mạng lưới sông ngòi kém
phát triển hơn, nên mật độ phổ biến chỉ đạt 0,6 - 1km2. Khí hậu Hạ Hòa tương
đối khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra ảnh hưởng đến đời sống của
người dân. Vì vậy, ban lãnh đạo huyện cần đưa ra những niện pháp khắc phục
thiên tai trong thời gian tới để đảm bảo cuộc sống cho người dân.
 Tài nguyên đất
Theo số liệu năm 2008, trong tổng số 33.994,05 ha đất tự nhiên, Hạ
Hòa có 26.654,25 ha đất nông nghiệp (78,4%), 5.987,9 ha đất phi nông
nghiệp, 611 ha đất thổ cư (1,74%) và 1.351,85 ha đất chưa sử dụng (đất hoang

9


hoá, đất đồi - 19,68%). Mạng sông suối, ao hồ chiếm 2.973 ha, còn lại là đất

tích đồi núi của huyện, phân bổ ở 22 xã giáp Yên Bái, Đoan Hùng và các xã
giáp Yên Lập, thường ở độ cao 70 m, độ dốc lớn, tầng đất dày, thành phần cơ
giới thịt nặng, dinh dưỡng khá, dùng trồng rừng và cây công nghiệp.
9)Đất feralít đỏ vàng phát triển trên đá mácma 8.483 ha, phân bố chủ
yếu ở các xã giáp Yên Lập, dùng trồng rừng và cây lâu năm.
10)Đất phù sa xen giữa đồi núi 200 ha (0,59%) ít chua, hơi dốc tụ,
thích hợp trồng hai vụ lúa.
Ngoài ra, ở Hạ Hòa còn có các loại đất phát triển trên nền đá vôi (Quân
Khê), cao lanh (Phương Viên, Yên Luật).
Thiên nhiên phần nào quả đã ưu đãi cho Hạ Hòa những tài nguyên về đất
đai, rừng núi, khí hậu, khoáng sản và nước phong phú và đa dạng. Mỗi người
chúng ta cần bảo vệ, giữ gìn vốn quý ấy cho muôn đời con cháu mai sau.


Tài nguyên nước

Lượng nước mặt của Hạ Hòa tương đối lớn nhờ vào hệ thống sông ngòi
dày đặc:
Sông Thao là tên dành riêng gọi sông Hồng đoạn từ biên giới Việt Trung đến Việt Trì, phát nguyên từ dãy Ngụy Sơn tỉnh Vân Nam (Trung
Quốc) cao trên 2.000 m. Từ phía dưới Yên Bái, lòng sông mở rộng đến 300 400 m, địa hình hai bên bờ hạ thấp xuống dưới mức 25 m và thường bị nước
lũ tràn ngập. Tại đây đã xuất hiện những đoạn đê đầu tiên của Sông Hồng và
vận tải trên sông đã thuận tiện hơn, trừ một vài nơi xuất hiện bãi cạn. Sông
Thao có một số phụ lưu chảy qua đất Hạ Hòa như sau:
Ngòi Lao chảy từ núi Banh (220 m) qua Văn Chấn (Yên Bái), Yên Lập,
chảy vào Hạ Hoà 17 km thuộc xã Vô Tranh và Bằng Giã, lưu vực lòng rộng,
lượng nước dồi dào (ngòi dài 69 km, lưu lượng 20,4 m3/s).

11



Theo thống kê đến năm 2010, dân số toàn huyện là 102.792.000 người,
dân tộc Kinh chiếm chủ yếu, ngoài ra còn một số ít dân tộc như Mán, Mường
sống tập trung ở thôn Tiến Lang xã Quân Khê và một số địa phương khác.
Hiện tại, Hạ Hòa có 308 điểm dân cư tập hợp thành 297 khu dân cư
chiếm một diện tích là 2.597,74 ha. Khu vực nông thôn rộng lớn này cho một
bình quân là 91,54 ha/xã; 13,94 ha/ thôn; 9,51 ha/điểm dân cư; 1.262 m 2/hộ
và 288 m2/khẩu, trong đó Quân Khê bình quân lên tới 2.262 m2/hộ, còn Vụ
Cầu chỉ có 531 m2/hộ. Tuy nhiên, diện tích dành cho thổ cư ở khu vực nông
thôn chỉ chiếm chừng 26% diện tích kể trên, cụ thể là chỉ có 581,40 ha (trong
tổng số 611,4 ha chiếm 1,71% diện tích đất tự nhiên và 2,13% diện tích đất sử
dụng vào các mục đích khác. Diện tích thổ cư bình quân trong toàn huyện là
262 m2/hộ nhưng ở thị trấn và các xã có khu dân cư phát triển dọc hai bên
quốc lộ bình quân chỉ đạt 150 m2/hộ, khiến cho hầu hết các xã khác bình quân
cao hơn mức 300 m2/hộ.
Cư dân Hạ Hòa thuộc loại trẻ, số đang trong độ tuổi lao động cao. Toàn
huyện tính đến năm 2010 có trên 52.000 lao động, chiếm gần một nửa dân số.
Có tới 90% dân cư và lao động sống bằng nghề nông.
Với nguồn lao động phong phú này sẽ tạo nguồn lực quan trọng để phát
triển kinh tế, xã hội của huyện.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Giao thông thực sự là huyết mạch của guồng máy kinh tế của địa
phương. Cả huyện hiện tại đã giành ra 916,88 ha đất cho việc mở mang
đường sá, chiếm tỷ lệ 29,80% diện tích đất chuyên dùng và 2,70 % diện tích
đất tự nhiên. Mạng lưới giao thông của Hạ Hòa phân bố khá đều, nhưng chất
lượng chưa đạt những thông số về kỹ thuật.

13


Điều này có thể nhận biết ngay ở hai đường quốc lộ chạy qua địa bàn

cảng được mở ra ở Vĩnh Chân, Ấm Thượng và bến phà Ấm Thượng sang
Chuế Lưu. Nếu kể cả các bến đò ngang, diện tích dành cho bến cảng, bến phà
và bến đò chiếm 28.214 m2.
Hạ Hoà phải khắc phục tình trạng thiếu các bến bãi cố định, xúc tiến
trải nhựa một số tuyến đường; nâng cấp cải tạo các tuyến Vĩnh Chân - Hương
Xạ, Đan Thương - Đại Phạm, Phương Viên - Tây Cốc, Xuân Áng - Quân
Khê; dành hàng triệu m2 cho đất giao thông để mở rộng các quốc lộ, tỉnh lộ,
huyện lộ và đường liên xã, liên thôn cùng các đường ở thị trấn, thị tứ và các
công trình giao thông (bến xe (Bến xe khách Ấm Thượng, Bến xe khách Hiền
Lương); cung và hạt giao thông).
Về thông tin liên lạc, hiện tại ngoài bưu điện thị trấn Hạ Hòa, còn có 4
trạm bưu cục khu vực ở các xã Bằng Giã, Xuân Áng, Đan Thượng, Hương
Xạ; 33 xã, thị trấn đã có điểm bưu điện - văn hoá xã, đã có đài truyền thanh
cấp huyện và 33 xã, thị trấn.
Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hạ
Hòa tập trung vào sản xuất chè, giấy, vôi, gạch, cát, sỏi, gỗ thành phẩm và
xay xát lương thực được thị trường ưa chuộng và chấp nhận.
Ngoài Công ty cổ phần giấy Lửa Việt sản xuất và cung cấp cho nhu cầu
trong và ngoài tỉnh nhiều sản phẩm giấy có chất lượng, trong huyện còn có
nhiều cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng ở Phụ Khánh, Y Sơn, Chuế Lưu, Minh
Hạc. Khai thác cao lanh, trường thạch ở Yên Luật, Phương Viên, Yên Kỳ.
Toàn huyện tính đến năm 2010 có 30 trạm biến thế điện, công suất
6.500 KW với 64,28 km đường điện cao thế và 94,50 km đường điện hạ thế.
Tiềm năng du lịch ở khu vực đầm Ao Châu, Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Chu
Hưng và hồ Ngòi Vần, Ao Giời - Suối Tiên cho nhiều hứa hẹn để phát triển
nhiều loại hình du lịch thiên nhiên kết hợp với các sinh hoạt văn hoá cộng đồng.

15




quá trình lựa chọn con đường cứu nước và chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và
tổ chức của một tập thể cách mạng, người có công to lớn là Nguyễn Ái Quốc.
Ngay từ khi ra đời Đảng đã có cương lĩnh đúng đắn, sáng tạo theo học thuyết
Mac –Lênin, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc ta tiến lên đấu tranh vì độc lập, tự do,
mở đường đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Lúc này ở các địa phương chưa có tổ chức Đảng, có chăng chỉ là những
cơ sở hay chi bộ nhỏ bé. Hạ Hòa (tỉnh Phú Thọ) là nơi có đền Quốc Mẫu Âu
Cơ, nhân dân Hạ Hòa cần cù gan dạ, anh dũng. Khi có Đảng Cộng sản ra đời
các thế hệ quân dân Hạ Hòa sớm giác ngộ theo Đảng, cùng nhân dân cả nước
đánh giặc giành chính quyền và kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và tự do
cho chính mình.
Vào những năm cuối thế kỉ XIX nhân dân Hạ Hòa cùng nhân dân tỉnh
Phú Thọ bị thực dân Pháp và bọn phong kiến bóc lột hết sức nặng nề. Mâu
thuẫn giữa nhân dân với bọn đế quốc Pháp và phong kiến nhà Nguyễn ngày
càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh đã diễn ra.
Năm 1939 – 1940, các đồng chí Trần Thị Minh Châu, Nguyễn Văn
Trạch là cán bộ xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Đào Duy Ký cán bộ của Ban cán sự
tỉnh Phú Thọ đã về Hạ Hòa hoạt động lập cơ sở ở Na Sang – Vần (Hiền
Lương), sau đó lan nhanh ra các xã Đan Thượng, Nhật Tân, Ấm Thượng, Gia
Điền. Phong trào không chỉ phát triển trong địa phận huyện Hạ Hòa mà còn
lan sang một số địa phương khác thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Do
điều kiện, vị trí địa lí thuận lợi, phong trào quần chúng mạnh nên Trung ương
Đảng, xứ ủy Bắc Kỳ và Ban cán sự tỉnh Phú Thọ - Yên Bái đã chọn Vần –
Hiền Lương, để xây dựng căn cứ địa cách mạng chuẩn bị lực lượng cho công
cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Phú Thọ, Yên Bái, Nghĩa Lộ.
Năm 1943, Chiến khu Vần – Hiền Lương được thành lập do các đồng
chí Hoàng Quốc Việt, Ngô Minh Loan, Bình Phương trực tiếp chỉ đạo. Tại

17

18


Tám 1945 thành công. Sau khi giành được chính quyền, nhân dân Hạ Hòa
cũng như nhân dân trên cả nước đứng trước những khó khăn và thử thách lớn.
Hậu quả của chế độ cũ để lai, nạn mù chữ, tệ nạn xã hội, nạn đói... Trước tình
hình đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, huyện đã thực hiện nhiệm vụ cấp bách
là phát động các phong trào tăng gia sản xuất, chống giặc đói, giặc dốt, bài trừ
các tệ nạn xã hội, chia lại ruộng đất cho dân thiếu ruộng, tiến hành giảm tô
cho nông dân và tá điền. Vận động quần chúng ủng hộ chính phủ như: “tuần
lễ vàng” xây dựng “quỹ độc lập”. Phát động phong trào bộ đội cách mạng
như: lập quỹ “vệ quốc đoàn”, quỹ “mùa đông binh sĩ”... đồng thời thực hiện
phòng gian, bảo vệ và giữ vững thành quả cách mạng.
Sau hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, quân Tưởng rút về nước. Triển khai
chủ trương của tỉnh ủy Phú Thọ, lực lượng tự vệ trong huyện đã khẩn trương
cùng với bộ đội chủ lực truy quét bọn Quốc dân Đảng phát động tại thị xã Yên
Bái, Nghĩa Lộ. Đêm ngày 2/6/1946 đã diễn ra trận đánh lớn vây bắt Vũ Hồng
Khanh tại thị xã Yên Kì, quân dân Hạ Hòa đã tiêu diệt hàng chục tên giặc, giải
thoát cho các chiến sĩ cách mạng bị chúng bắt như: Đồng chí Trần Đăng Ninh,
Đặng Việt Châu, kĩ sư Lê Dung, cùng nhiều đồng bào bị chúng bắt theo, đập
tan âm mưu tụ tập lại lực lượng của bọn Quốc dân Đảng phản động.
Càng chiến đấu xây dựng càng trưởng thành, tổ chức chi bộ phát triển ở
nhiều xã. Thực hiện chủ trương của tỉnh ủy Phú Thọ tách các chi bộ ghép.
Đầu tháng 1/1947, Đại hội Đảng bộ lần thứ nhất của tỉnh Phú Thọ họp tại xã
Cát Trù (huyện Cẩm Khê). Đại hội tiến hành kiểm điểm lại những ngày đầu
của cuộc kháng chiến chống Pháp, đề ra những nhiệm vụ cấp bách về quân
sự, chính trị và các mặt công tác khác. Đặc biệt Đại hội đã nhấn mạnh những
khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng và cần phải khắc phục ngay. Chủ
trương của Tỉnh ủy là “tích cực củng cố và phát triển Đảng làm cho Đảng có
tính chất cách mạng mạnh mẽ, có cơ sở vững chắc ở các địa bàn quan trọng

hiện rõ trong cơ cấu GDP, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm gầm 45%, công
nghiệp, dịch vụ còn kém phân tầng, tỷ lệ đói nghèo cao hơn bình quân cả
nước và so với các huyện khác trong cùng tỉnh.

20


Trích đoạn Những thành tựu và hạn chế NHẬN XÉT CHUNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status