TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
DƢƠNG THỊ XIÊM
ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HOÀ, TỈNH PHÚ
THỌ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY DỰNG,
BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN VÀ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 – 1954)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LÊ VĂN TÚC
HÀ NỘI, 2012
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 1
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................. 2
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................. 3
5. Kết cấu khóa luận .......................................................................................... 3
NỘI DUNG....................................................................................................... 4
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÒA LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN XÂY
3.1- NHẬN XÉT............................................................................................. 52
3.2- NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM .................................................. 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 69
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo – Tiến sĩ Lê Văn
Túc – đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô trong Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2; Đặc biệt là các thầy, cô trong khoa Lịch sử đã giảng dạy em
trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình, cũng như bạn bè đã tạo điều
kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân, nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo của các thầy,
cô cũng như của các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả khóa luận
Dƣơng Thị Xiêm
SVTH: Dương Thị Xiêm
Từ khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, phát huy truyền thống của mình nhân dân huyện Hạ Hòa đã ra sức đấu
tranh giành độc lập tự do.
Từ khi Đảng bộ Hạ Hòa được thành lập, lãnh đạo trực tiếp nhân dân Hạ
Hòa đứng lên giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiến
hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Vừa làm tốt nhiệm vụ
hậu phương của hai cuộc chiến tranh, vừa xây dựng chế độ mới cùng nhân
dân cả nước làm nên Đại thắng mùa xuân năm 1975. Ngày nay nhân dân Hạ
Hòa đang ra sức phát huy sức mạnh của mình xây dựng và bảo vệ quê hương
đi lên CNXH.
Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Hạ Hòa, tôi luôn tự hào
với truyền thống cách mạng của quê hương, vì thế tôi đã chọn đề tài: “Đảng
bộ huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ lãnh đạo nhân dân xây dựng, bảo vệ
chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)” làm khóa
luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đảng bộ huyện Hạ Hòa ra đời là sự thể hiện cho ý chí, sức mạnh của
nhân dân huyện Hạ Hòa, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhân dân Hạ
Hòa đã ra sức bảo vệ chính quyền cách mạng và cùng với nhân dân cả nước
kháng chiến chống thực dân Pháp và tay sai, làm nên trận Điện Biên Phủ
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
2
(1954), giải phóng quê hương, đất nước. Giai đoạn lịch sử từ (1954 - 1945)
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
3
+ Đảng bộ huyện Hạ Hòa lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ chính
quyền trong những năm (1945 - 1946)
+ Đảng bộ huyện Hạ Hòa lãnh đạo nhân dân huyện tiến hành kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954)
+ Nêu lên một số đặc điểm về Đảng bộ Hạ Hòa trong quá trình lãnh
đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn tài liệu:
+ Thông qua việc nghiên cứu các sách báo của Đảng viết về Đảng bộ
huyện Hạ Hòa
+ Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Các tài liệu điều tra của bản thân
- Phương pháp nghiên cứu:
Đảm bảo phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp
với một số phương pháp chuyên ngành
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, danh mục tham khảo. Khóa luận gồm 3 chương, 6
tiết.
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
5
Cuối thế kỉ XIX, Hạ Hòa sát nhập thêm 2 tổng Yên Kỳ và Vĩnh Chân
thuộc huyện Thanh Ba, đưa huyện lên 10 tổng. Một thời gian sau tổng Văn
Trấn chuyển lên Yên Bái, Hạ Hòa chỉ còn 9 tổng với khoảng 60 xã phường.
Năm 1891, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách huyện Hạ Hòa
khỏi huyện Lâm Thao để cùng một số châu, huyện khác thuộc tỉnh Lào Cai,
Hưng Hóa, Tuyên Quang lập thành Tiểu khu quân sự Yên Bái thuộc Đạo
quan binh thứ ba theo hình thức quân quản, năm 1892 chuyển Hạ Hòa sang
Đạo quan binh thứ tư.
Năm 1893, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách Hạ Hòa khỏi
chế độ quân quản sát nhập trở lại phủ Lâm Thao thuộc tỉnh Hưng Hóa.
Năm 1903, tỉnh lỵ Hưng Hóa chuyển về làng Phú Thọ, Hạ Hòa nằm
trong tỉnh Phú Thọ.
Năm 1968 theo Nghị quyết số 504 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sát
nhập hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú.
Năm 1977 Hội đồng Chính Phủ ra Nghị quyết số 178/CP giải thể Hạ
Hòa, sát nhập với Thanh Ba, Đoan Hùng thành huyện Thanh Hòa.
Năm 1995 Chính Phủ ra Nghị quyết số 63/CP tái lập lại một số huyện.
Kể từ ngày 1/1/1996 Hạ Hòa chính thức trở lại đơn vị hành chính như cũ.
* Dân cư
Cách đây khoảng trên dưới 3 vạn năm, trên nhiều khu vực huyện Hạ
Hoà con người đã cư trú và sinh sống trên các triền đồi gò, ven song. Họ đã
biết chế tạo ra các loại phương tiện để che mưa che nắng, các công cụ lao
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng chiếm các tỉnh
Sơn - Hưng - Tuyên rộng lớn. Đây là khu vực có núi rừng hiểm trở, sông suối
nhiều, Thực dân Pháp phải thực hiện chế độ quân quản. Năm 1886, Pháp đánh
chiếm Hạ Hòa, nhân dân Hạ Hòa chiến đấu anh dũng, hình thành nên những
trung tâm kháng chiến như: Trung tâm kháng chiến của Đề Ngân ở Ấm
Thượng, trung tâm Lãnh Đa, Đề Mạc, Lãnh Hạc ở Xuân Áng, trung tâm do
Lãnh Vĩnh lãnh đạo ở Vĩnh Chân…Phong trào rào làng đắp lũy ở Lang Sơn.
Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hạ Hòa kéo dài tới năm 1893 khi
nghĩa quân của Đốc Ngữ, Tán Dật bị Pháp tiêu diệt. Nhiều người đã hi sinh,
nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng như Đốc Ngữ, Đốc Ngữ đã chiến đấu
đến cùng, trước lúc mất Ông đã nói: Ta hàng vì triều đình đã hàng chứ nhất
định không chịu nhìn mặt thằng Tây.
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
7
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đời sống của nhân dân Hạ Hòa
vô cùng cực khổ. Thực dân Pháp đã cho đầu tư khai thác tài nguyên thiên
nhiên và bóc lột nhân công rẻ mạt của Hạ Hòa. Hạ Hòa huyện có nhiều chủ
đồn điền nhất tỉnh, 15 đồn điền trên tổng số 27 đồn điền của tỉnh Phú Thọ.
Mật độ đồn điền khá cao chiếm khoảng 41% diện tích toàn huyện. Hầu hết
các đồn điền đều trồng lúa, ngô và nhiều nhất là trồng chè. Làm việc trong các
đồn điền là các tá điền thuê tại chỗ, ngoài ra Pháp còn chiêu mộ người thuộc
các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hưng Yên. Việc trả công vẫn theo
lối cũ là địa tô và lao dịch. Các đồn điền ở Hạ Hòa khá năng động đang dần
Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Trước những diễn
biến nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước, Trung ương Đảng đã
họp Hội Nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ VI (Khóa 1 tháng 11/1939),
kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, giương cao ngọn cờ
giải phóng dân tộc. Năm 1940, Ban cán sự Đảng Khu D (Phúc Yên, Vĩnh
Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang) và Ban cán sự
Đảng Phú Thọ đã chú trọng cử cán bộ về xây dựng và phát triển các cơ sở
cách mạng và căn cứ địa cách mạng.
Các cơ sở cách mạng lần lượt được thành lập như: Hội Phản đế ở Nang
Sa, Hiền Lương. Năm 1943, đồng chí Nguyễn Ngọc Kỳ đã thành lập tổ Thanh
niên cách mạng. Tháng 2/1943, Ban Thường vụ Trung ương họp ở Võng La
(Đông Anh - Hà Nội) khẳng: “Phong trào cách mạng Đông Dương có thể
bỗng chốc tiến lên bằng những bước nhảy cao” và quyết định khẩn trương
hơn nữa về việc chuẩn bị khởi nghĩa theo tinh thần của Hội Nghị Trung ương
lần thứ VIII (5/1941). Mặt trận Việt Minh ra đời đã lãnh đạo nhân dân chuẩn
bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Ở Phú Thọ, phong trào
phát triển mạnh, qua theo dõi và kiểm tra năm 1943 đồng chí Hoàng Quốc
Việt ủy viên Ban Thường vụ Trung ương đã nhận định khu vực giáp giới hai
tỉnh Phú Thọ và Yên Bái là nơi Nhật - Pháp có nhiều sơ hở ít có điều kiện để
kiểm soát chặt chẽ. Hơn nữa nơi đây có vị trí địa lí thuận lợi cho việc phát
triển chiến tranh du kích. Quần chúng đã từng tham gia phong trào Cần
Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX. Nay dưới ách thống trị của Nhật - Pháp
với đời sống cực khổ lòng căm thù cao độ sẽ là một điều kiện thuận lợi cho
việc tuyên truyền giác ngộ chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng. Đồng
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
10
theo học thuyết Mác - Lênin, là ngọn cờ dẫn dắt dân tộc ta tiến lên đấu tranh
vì độc lập, tự do, mở đường đi lên CNXH.
Lúc này ở các địa phương chưa có tổ chức Đảng, có chăng chỉ là những
cơ sở hay các chi bộ nhỏ bé. Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là nơi có đền thờ Quốc
Mẫu Âu Cơ, nhân dân Hạ Hòa cần cù, gan dạ, anh dũng. Khi Đảng Cộng sản
ra đời các thế hệ quân dân Hạ Hòa sớm giác ngộ theo Đảng, cùng nhân dân cả
nước đánh giặc giành chính quyền và kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và
tự do cho chính mình.
Vào những năm cuối thế kỉ XIX nhân dân Hạ Hòa cũng như nhân dân
tỉnh Phú Thọ bị thực dân Pháp và bọn phong kiến bóc lột hết sức nặng nề.
Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn đế quốc Pháp và phong kiến nhà Nguyễn
ngày càng gay gắt, nhiều cuộc đấu tranh đã diễn ra.
Năm 1939 - 1940, các đồng chí Trần Thị Minh Châu, Nguyễn Văn
Trạch là cán bộ xứ ủy Bắc Kỳ; đồng chí Đào Duy Kỳ cán bộ của Ban cán sự
tỉnh Phú Thọ đã về Hạ Hòa hoạt động, lập cơ sở ở Nang Sa - Vần (Hiền
Lương), sau đó lan nhanh ra các xã Đan Thượng, Nhật Tân, Ấm Thượng, Gia
Điền. Phong trào không chỉ phát triển trong địa phận Hạ Hòa mà còn lan sang
một số địa phương khác thuộc tỉnh Phú Thọ và Yên Bái. Do điều kiện, vị trí
địa lí thuận lợi, phong trào quần chúng mạnh nên Trung ương Đảng, Xứ ủy
Bắc Kỳ và Ban cán sự Đảng Phú - Yên đã chọn Vần - Hiền Lương để xây
dựng căn cứ địa cách mạng chuẩn bị lực lượng cho công cuộc khởi nghĩa vũ
trang giành chính quyền ở Phú Thọ, Yên Bái, Nghĩa Lộ.
đánh thắng Nhật đầu tiên khi Nhật hất cẳng Pháp (9/3/1945).
Với sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang và tinh thần rực lửa cách mạng
của quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 2/8/1945, toàn
huyện đã tấn công khởi nghĩa giành chính quyền tại huyện lỵ Hạ Hòa. Đây là
nơi giành chính quyền sớm nhất tỉnh Phú Thọ. Sau đó lực lượng vũ trang tiếp
tục tham gia giành chính quyền ở Yên Bái (17/8/1945), ở tỉnh lỵ Phú Thọ
(23/8/1945). Sự kiện ngày 2/8/1945 là một sự kiện trọng đại của Đảng bộ,
quân và dân huyện Hạ Hòa, đã góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên cách
mạng tháng Tám năm 1945 thành công.
Sau khi giành được chính quyền, nhân dân Hạ Hòa cũng như nhân dân
cả nước đứng trước những khó khăn và thử thách lớn. Hậu quả của chế độ cũ
để lại, nạn mù chữ, tệ nạn xã hội, nạn đói…Trước tình hình đó, dưới sự lãnh
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
12
đạo của Tỉnh Ủy, huyện đã thực hiện nhiệm vụ cấp bách là phát động các
phong trào tăng gia sản xuất, chống giặc đói, giặc dốt, bài trừ các tệ nạn xã
hội, chia ruộng đất cho dân thiếu ruộng, tiến hành giảm tô cho nông dân và tá
điền. Vận động quần chúng ủng hộ chính phủ như: “Tuần lễ vàng”, xây dựng
“Quĩ độc lập”. Phát động phong trào bộ đội cách mạng như lập quĩ “Vệ quốc
đoàn”, quĩ “Mùa đông binh sĩ”… đồng thời thực hiện phòng gian, bảo mật và
giữ vững thành quả cách mạng.
Sau hiệp định Sơ bộ (6/3/1946), quân Tưởng rút về nước. Triển khai
chủ trương của Tỉnh ủy Phú Thọ, lực lượng tự vệ trong huyện đã khẩn trương
đồng chí Ma Quang Lâm làm Bí thư. Ngày 19/5/1947, Đảng bộ Hạ Hòa chính
thức được thành lập. Ban cán sự được đổi tên thành Ban chấp hành huyện,
Đảng bộ huyện Hạ Hòa do đồng chí Ma Quang Lâm làm Bí thư. Tháng
9/1947, đồng chí Ma Quang Lâm được điều động đi công tác ở nơi khác,
đồng chí Vũ Thiện được cử làm Bí thư.
Sự kiện ngày 19/5/1947 vào đúng ngày sinh nhật Bác Hồ, Đảng bộ
huyện Hạ Hòa ra đời, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng và chất của
phong trào cách mạng ở huyện Hạ Hòa. Và cũng từ đây, dưới sự lãnh đạo trực
tiếp của Huyện ủy Hạ Hòa, nhân dân trong huyện có thêm sức mạnh mới,
quyết tâm mới liên tiếp tiến lên giành nhiều thành tích trên các lĩnh vực lao
động sản xuất, xây dựng đời sống mới và động viên sức người, sức của phục
vụ cho cuộc kháng chiến của dân tộc.
Công tác xây dựng Đảng tiếp tục được đẩy mạnh đáp ứng với yêu cầu
và nhiệm vụ của công cuộc kháng chiến. Thực hiện chủ trương của Tỉnh Ủy
Phú Thọ, Đảng bộ đã hướng vào sự phát triển Đảng trong giai cấp công nhân,
cán bộ Việt Minh, lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ, đặc biệt hướng vào các
cán bộ chính quyền trong phong trào cách mạng. Năm 1948, huyện đã xây
dựng được 11 chi bộ ở các thôn xã, các cơ quan và trong lực lượng vũ trang.
Đến cuối năm 1948, toàn huyện có 200 đảng viên, đến năm 1950 có 500 đảng
viên. Đây được xem là thời kỳ Đảng bộ Hạ Hòa phát triển mạnh nhất trong
những năm kháng chiến chống Pháp. Hầu hết các xã đều có chi bộ Đảng.
Sinh ra và trưởng thành trong chiến đấu, Đảng bộ Hạ Hòa đã ngày càng
phát triển mạnh, đảm đương và làm tốt nhiệm vụ là tổ chức lãnh đạo nhân dân
đấu tranh cải thiện đời sống, chống thù trong giặc ngoài. Và cùng nhân dân cả
nước làm nên những chiến công vang dội, viết nên những trang sử vẻ vang mà
đẫm máu, mồ hôi, nước mắt của hàng triệu người con của dân tộc Việt Nam.
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
mạng đặt Việt Nam thành thuộc quốc của Tưởng. Tại miền Nam, hơn 1 vạn
quân đội Anh, chúng giúp thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
15
Trong khi đó trên thế giới chưa có nước nào công nhận nền độc lập của ta và
chính phủ của Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, nhân dân cả
nước đã phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng đã ra sức chống thù
trong giặc ngoài, vừa xây dựng đời sống mới vừa bảo vệ chính quyền, giữ
vững nền độc lập của dân tộc mới giành được.
Trong bối cảnh chung của cả nước, nhân dân Hạ Hòa sau khi giành
được chính quyền cũng gặp không ít khó khăn. Mượn cớ tước vũ khí quân đội
Nhật, quân đội Tưởng theo đường sông Hồng và đường sắt Lào Cai - Hà Nội
chúng ồ ạt tràn sang. Qua vùng Hạ Hòa chúng và bọn tay sai Quốc dân Đảng
cướp phá nhằm xóa bỏ chính quyền cách mạng của nhân dân ta. Hậu quả nạn
đói năm 1945 cùng với trận lụt lớn làm cho nhiều đoạn đê bị vỡ, hàng trăm
mẫu lúa bị mất. Đặc biệt hơn 90% dân trong huyện mù chữ, các tệ nạn xã hội
như: Trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mê tín, do chế độ cũ để lại còn tràn lan
trong các thôn xã. Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập còn non trẻ,
trứng nước chưa có kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo chính quyền. Đội ngũ cán
bộ, đảng viên còn mỏng, chưa được đào tạo về chuyên môn, quản lí kinh tế và
xã hội. Thực tế tình hình hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi cán bộ và
nhân dân Hạ Hòa phải vươn lên mạnh mẽ, tập trung mọi lực lượng, bằng
đã vận động tích cực cùng nhau thi đua sản xuất theo khẩu hiệu: “Tấc đất, tấc
vàng”, không bỏ ruộng hoang. Phong trào lan rộng khắp các cơ quan,
xí nghiệp, nhà máy, đơn vị quân đội, dân quân du kích và các gia đình
thương nhân.
Đi đôi với phong trào thi đua sản xuất, chính quyền huyện còn ra lệnh
cấm đầu cơ tích trữ lương thực, cấm nấu rượu bằng gạo. Các đoàn thể đã tích
cực vận động lạc quyên và tổ chức “lọ gạo cứu đói”, giáo dục cho nhân dân
lòng yêu thương, đùm bọc lẫn nhau theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”. Một
số xã trong huyện như xã Gia Điền đã phân công cho Hội nông dân Cứu quốc
chịu trách nhiệm theo dõi, tập hợp toàn dân tham gia sản xuất. Từ đó, chất
lượng công việc ngày càng thu được kết quả. Huyện đã huy động nhân dân
trong huyện đắp lại những đoạn đê bị vỡ và yếu như các đoạn đê ở Cầu Lao.
Nhờ những cố gắng trên, nên năm 1946 nạn đói được đẩy lùi, đời sống của
nhân dân trong huyện dần đi vào ổn định. Đây là thắng lợi bước đầu nhưng rất
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
17
cơ bản làm cho nhân dân trong huyện tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin
vào chính quyền và Chính phủ Hồ Chí Minh. Thắng lợi này đã giúp cho nhân
dân trong huyện đoàn kết, tăng cường lực lượng để chống thù trong giặc
ngoài giữ vững thành quả cách mạng.
Dưới chế độ cũ, hơn 90% nhân dân trong huyện mù chữ. Sau khi cách
mạng thành công, dưới sự lãnh đạo của chính quyền lâm thời huyện, nhân dân
trong huyện đã tham gia phong trào “Bình dân học vụ”. Huyện đã mở các lớp
dựng cuộc sống mới.
Phong trào văn hóa văn nghệ được phát triển khá rộng. Hầu hết các xã
đều thành lập đội văn nghệ, tổ thông tin tuyên truyền. Điển hình xã Lang Sơn
có 3 đội văn nghệ của dân quân tự vệ, thanh niên và thiếu nhi. Phong trào văn
hóa, văn nghệ được nhân dân hưởng ứng, nhiều vở kịch, bài hát, thơ, hò, vè
sáng tác động viên nhân dân thi đua sản xuất và chiến đấu.
Hưởng ứng các phong trào thi đua do đảng phát động, chính quyền và
nhân dân huyện Hạ Hòa phát huy mọi nỗ lực đóng góp cho công cuộc kháng
chiến kiến quốc. Phong trào “Tuần lễ vàng”, “Quỹ độc lập”, “Quỹ Vệ quốc
đoàn”, “Quỹ mùa đông binh sỹ” là những cuộc vận động lớn ở Hạ Hòa.
Với tinh thần yêu nước, quyết tâm xây dựng chế độ mới, đồng bào
nhân dân trong huyện đã nhiệt tình tham gia các phong trào trên. Hàng nghìn
người đã dự lễ mít tinh tại đình Đan Thượng, nhiều chị em đã tự nguyện đóng
góp vòng, nhẫn, khuyên vàng cùng các đồ dung quý giá bằng vàng bạc và
đồng. Nhiều người không có vàng, bạc thì ủng hộ tiền, gạo. Sau 1 tuần vận
động toàn huyện đã thu được 4 lạng vàng, gần 1kg bạc, 9 tạ gạo, 20.000 đồng,
80 áo trấn thủ, giúp Chính phủ giải quyết khó khăn về tài chính.
Từ tháng 12/1945 đến năm 1946 thi hành chủ trương của Trung ương
Đảng và Chính phủ về việc tổ chức Tổng tuyển cử, huyện đã tổ chức các đợt
cổ động, tuyên truyền. Từng xã Ủy ban lâm thời đã tổ chức hội nghị với các
ngành và các đoàn thể nói rõ ý nghĩa, mục đích, thể lệ, nội quy bầu cử,
phương thức bỏ phiếu…Huyện đã chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để cuộc
bầu cử đạt kết quả cao nhất, đây thực sự là cuộc vận động chính trị trong
toàn dân.
Ngày 6/1/1946, nhân dân Hạ Hòa nô nức đi bầu cử. Hơn 90% cử tri đã
đi bầu, tự do lựa chọn người thay mặt mình tham gia vào cơ quan quyền lực
cao nhất của nhà nước.
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
hề độc lập giả hiệu và chính sách thuế má nặng nề đối với dân ta.
Nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị, phát xít Nhật đã chồng chất lên vai,
lên cổ nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Hạ Hòa nói riêng đủ các thứ
SVTH: Dương Thị Xiêm
Lớp K34A – CN Lịch sử
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
20
thuế: Thuế đinh, thuế chợ, thuế điền. Bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, thầu
dầu. Hàng ngàn ha lúa đang xanh tốt phải nhổ bỏ để phục vụ cho nền công
nghiệp chiến tranh của phát xít Nhật. Chính sách thuế khóa, vơ vét lúa gạo,
bắt nông dân nhổ lúa trồng đay đã làm cho nông dân nhiều tỉnh ở Bắc Bộ lâm
vào nạn đói nghiêm trọng vào cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, trong đó có
nhân dân Hạ Hòa.
Những người nông dân bao năm gắn bó với mảnh ruộng thước vườn
khi quyền lợi họ bị động chạm, thì lòng căm phẫn cũng dâng lên tột độ. Tại
Hạ Hòa, các cán bộ chủ chốt đã nhận thấy khí thế cách mạng của quần chúng
đang sôi sục, kịp thời đề ra các biện pháp ngăn chặn tình trạng thu thuế của
giặc Nhật, xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, huấn luyện du kích.
Trong bối cảnh đói, và chính sách thu thuế của Nhật, Trung ương Đảng đã ra
“Hịch” đánh Nhật cứu nước, phát động phong trào “Phá kho thóc, giải quyết
nạn đói”. Chủ trương của Đảng đã đáp ứng được yêu cầu cấp bách của quần
chúng tạo nên một phong trào chống Nhật khắp cả nước. Phong trào phá kho
thóc để giải quyết nạn đói không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn mang
nội dung chính trị sâu sắc, là hình thức thích hợp nhất lúc bấy giờ để phát
động quần chúng, đưa hàng triệu quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp