Đảng bộ huyện Quốc Oai- Hà Nội lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh xây dựng, củng cố chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược thời kỳ từ 1945 đến 1954 - Pdf 33

Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên: Nguyễn Thị Tỏ
Lớp: K34a
Khoa: Lịch Sử
Đề tài: Đảng bộ huyện Quốc Oai- Hà Nội lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu
tranh xây dựng, củng cố chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược thời kỳ từ 1945 đến 1954.

1


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống đấu tranh anh dũng và lâu đời.
Truyền thống đó được thể hiện qua hai lần kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ thần thánh của nhân dân ta, mà đặc biệt trong kháng chiến chống Pháp.
Giáo dục và phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng là một
trong những nội dung quan trọng trong công tác chính trị tư tưởng của Đảng.
Với nhận thức đó, việc nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ từng địa
phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), có ý
nghĩa hết sức sâu sắc và quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn đối với lịch
sử địa phương và lịch sử dân tộc. Tiêu biểu trong số đó có sự lãnh đạo của
Đảng bộ quốc Oai trong kháng chiến chống Pháp bảo vệ quê hương.

Khi làm nghiên cứu này, tôi nhân thức được rõ rằng, giờ đây, tôi có thể
sống trong hòa bình, hòa bình củasự hy sinh biết bao xương máu của cha anh
đi trước đã ngã xuống để bảo vệ quê hương, giành độc lập dân tộc. Vì vậy tôi
rất tự hào được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quốc Oai anh hùng.
Rất tự hào với truyền thống lịch sử cách mạng của quê hương và với
mong muốn tìm hiểu sâu hơn nữa sự nghiệp cách mạng của cha anh, tôi đã
chọn đề tài “Đảng bộ huyện Quốc Oai - Hà Nội lãnh đạo nhân dân tiến
hành cuộc đấu tranh xây dựng, củng cố chính quyền và kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược thời kỳ 1945-1954” cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Theo như tôi được biết, cho đến nay đã có những công trình nghiên cứu
về sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Có
thể tổng kết các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề này, tiêu biểu
như sau: “Hà Sơn Bình - lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954)”, 1990 của NXB quân đội nhân dân; “Lịch sử đảng bộ huyện
Quốc Oai (1930-1975) do Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tây phát hành, 1984
3


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

nhưng mới ở dạng sơ thảo; “Lịch sử đảng bộ tỉnh Hà Tây tập II (1945-1954),
1994, của Tỉnh ủy Hà Tây”... Ngoài ra còn một số sách về Lịch sử đảng bộ
các xã trong huyện.
Những công trình nghiên cứu cùng các cuốn sách này cũng chỉ đề cập
đến những vấn đề chung chung, mang tính chất báo cáo hoặc chỉ riêng lẻ
phong trào cách mạng của từng địa phương, từng xã trong huyện. Chưa có

Trong luận văn này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu Đảng bộ Quốc Oai đã
lãnh đạo nhân dân đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1945-1954) và phong trào kháng chiến chống Pháp xâm lược ở huyện Quốc
Oai – Sơn Tây (trước đây)
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: nghiên cứu sự lãnh đạo của đảng bộ trên địa bàn huyện
Quốc Oai.
Về thời gian: trong những năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954).
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã tham khảo và sử dụng những nguồn tư
liệu chủ yếu sau:
-Những nghị quyết của Đại hội đảng bộ tỉnh Hà Tây.
-Những kế hoạch, báo cáo tổng kết tháng, hằng năm của đảng bộ huyện
Quốc Oai.
-Những công trình nghiên cứu đề cập tới phong trào cách mạng ở Hà
Tây và huyện Quốc Oai giai đoạn 1945-1954.
-Lịch sử đảng bộ các xã trong huyện Quốc Oai.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
5


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

Là một đề tài nghiên cứu lịch sử, nên trong việc nghiên cứu tôi đã sử
dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đồng thời chú ý kết
hợp những phương pháp hỗ trợ khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, thống kê, đối chiếu...

- Chương 4: Nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm.

7


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: QUỐC OAI VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƢỜI
1.1 Điều kiện tự nhiên.
Quốc Oai nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố
khoảng 20 km. Quốc Oai có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên, vị trí địa
lý, tài nguyên và nguồn nhân lực, có hệ thống giao thông thuận tiện tạo tiền
đề cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Với diện tích tựn nhiên 147,01 km2 và
dân số khoảng 156.800 người (2009) [1,tr.6]. Phía Đông giáp huyện Đan
Phượng, huyện Hoài Đức; phía Tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình;
phía Nam giáp huyện Chương Mỹ; phía Bắc giáp huyện Thạch Thất và huyện
Phúc Thọ.
Quốc Oai nằm trong vùng phát triển của thành phố Hà Nội với việc xây
dựng các khu, cụm, điểm công nghiệp, phát triển chuỗi đô thị Miếu Môn,
Xuân Mai, Hòa Lạc và phát triển đô thị dịch vụ, du lịch sinh thái dọc tuyến
đường Láng - Hòa Lạc.
1.1.1 Khí Hậu
Quốc Oai nằm trong đới khí hậu miền Bắc Việt Nam, là khu vực chịu
ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, hình thành hai mùa rõ rệt:
- Mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 10): nóng ẩm, mưa nhiều.
- Mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau): khô, lạnh, ít mưa.
Do đặc điểm của địa hình, Quốc Oai được chia thành hai vùng khác

Vùng nội đồng: Gồm 7 xã Ngọc Mỹ, Thạch Thán, Nghĩa Hương,
Cấn Hữu, Ngọc Liệp,Tuyết Nghĩa, Liệp Tuyết.
Vùng bãi ven sông gồm 9 xã, 1 thị trấn: Sài Sơn,Phượng Cách, Yên
Sơn, Đông Quang, Cộng Hòa, Tân Mai, Tân Phú, Đại Thành và thị trấn Quốc
Oai, có độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Với đặc điểm địa hình
trên cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi song lại khó khăn
cho công tác thủy lợi.
9


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

Quốc Oai có địa hình đa dạng, vùng núi đồi gò ở phía Tây, vùng “núi
sót” trong cụm “núi sót” Thập Lục Kỳ Sơn ở phía Đông Bắc huyện, vùng
đồng bằng phía Đông độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
1.2 Lịch sử hình thành.
Năm 1831, vua Minh Mạng lập phủ Sơn Tây và Quốc Oai là một trong
năm phủ của Sơn Tây. Phủ Quốc Oai chuyển thành huyện Quốc Oai thuộc
tỉnh Sơn Tây.
Ngày 21-4-1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy
ban thường vụ Quốc hội. Theo đó, huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Tây gồm có
23 xã: Phú Mãn, Phú Cát, Hòa Thạch, Tuyết Nghĩa, Đông Yên, Liệp Tuyết,
Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cấn Hữu, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài
Sơn, Yên Sơn, Phượng Cách, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành, Cộng Hòa,
Hoàng Ngô, Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp.
Ngày 27-12-1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 5 thông qua Nghị
quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó
huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.

Ngày 1-8-2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo
Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa 12 ngày 29-5-2008. Theo đó
huyện Quốc Oai thuộc thành phố Hà Nội.
Ngày 1-8-2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ký Quyết
định số 20/QĐ-UBND về việc giao toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số xã
Đông Xuân (trước đây thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình) về hyện Quốc
Oai quản lý từ năm 2008. Sau khi điều chỉnh huyện Quốc Oai có 21 đơn vị
hành chính trực thuộc gồm thị trấn Quốc Oai và 20 xã Phú Mãn, Phú Cát, Hòa
Thạch, Tuyết Nghĩa, Đồng Yên, Liệp Tuyết, Ngọc Liệp, Ngọc Mỹ, Cộng
Hòa, Nghĩa Hương, Thạch Thán, Đồng Quang, Sài Sơn, Yên Sơn, Phượng
Cách, Tân Phú, Đại Thành, Tân Hòa, Cộng Hòa và Đông Xuân.
1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội.
Quốc Oai là huyện có lợi thế về vị trí địa lý, đất đai, giao thông, nguồn
nhân lực. Phát huy những lợi thế đó, huyện Quốc Oai đã tập trung phát triển
kinh tế toàn diện, trong đó chú trọng nghành kinh tế có lợi thế như công
nghiệp, nông nghiệp, xây dựng đô thị ...
Nông nghiệp: Với những lợi thế về đất đai, thủy lợi, nguồn nhân lực
Quốc Oai được đánh giá là huyện giàu tiềm năng để phát triển nông nghiệp.
thực tế cho thấy, từ trước đến nay nông nghiệp luôn là ngành kinh tế giữ vai
trò chủ đạo, đóng góp nhiều nhất trong GDP của Quốc Oai. Cùng với sự đa
dạng về địa hình, bao gồm vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng và vùng ven
sông Đáy, ngành nông nghiệp Quốc Oai có sự phát triển đa dạng. Những năm
qua huyện chủ trương chú trọng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng
hiệu quả bền vững, phá bỏ thế độc canh cây lúa, tiến tới đa canh để phát triển
những mô hình nông nghiệp khác nhau, gắn với thế mạnh của từng vùng, tạo
hiệu quả kinh tế cao nhất. Với quy hoạch cụ thể đó, những năm qua, sản xuất
nông nghiệp toàn huyện đạt kết quả khá cao trên cả hai lĩnh vực trồng trọt và
11



đảng viên đều kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, có tinh thần khắc
phục khó khăn, tận tụy với nhiệm vụ được giao. Đa số đảng viên phát huy
được tính tiên phong gương mẫu và có tín nhiệm đối với nhân dân.
1.4 Truyền thống văn hóa - lịch sử.
1.4.1 Truyền thống văn hóa.
Về văn hóa, phủ Quốc Oai có những di tích thắng cảnh nổi tiếng như 18
ngọn núi đá vôi mọc giữa các xã Hoàng Xá, Yên Sơn, Phượng Cách, Sài Sơn
12


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

giống như những hòn non bộ nổi lên giữa những biển lúa màu xanh rờn hay
màu vàng bát ngát. Núi đá có nhiều hang động, tạo thành những cảnh đẹp
không những được khách trong và ngoài nước thường đến tham quan, vãn
cảnh, còn là những di tích lịch sử và cách mạng. Chùa Thầy, đình Cấn, đình
Ngọc Than...là những công trình văn hóa được nhà nước xếp hạng bảo tồn.
Trong nhân dân đã có câu “đẹp nhất đình So, to nhất đình Cấn” để nói lên cái
đẹp và công sức của quần chúng nhân dân đã xây dựng nên nơi thờ phụng
những người có công đánh giặc cứu nước. Không những thế, Quốc Oai còn là
nơi có nhiều đặc sản quí. Trong “Sơn Tây địa chí” có nói đến “Sơn Tây tứ dị”
tức là Sơn Tây có 4 vật lạ. Trong bốn vật lạ thì ba cái ở phủ Quốc Oai có, đó
là:
“Cấn Xá chi lý ngư
Sài Sơn chi biển bức
Khánh Hiệp chi kỳ bành
Linh Chiểu chi úng thái”
Dịch là:

mà thực chất là để tuyên truyền vận động, tổ chức nhân dân trong vùng đứng
lân chống triều đình nhà Nguyễn. Tự So quê ở làng Sơn Lộ đã cùng với vợ là
Đào Thị Nhu đứng lên dựng cờ khởi nghĩa chống lại triều đình Tự Đức. Đầu
thế kỷ, ở các làng Hoàng Xá, Đa Phúc, Thụy Khê một số nhà nho yêu nước đã
tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1905-1907) và đã có những hoạt
động phong phú sôi nổi. Chùa Cả (Sài Sơn) động Hoàng Xá là nơi diễn ra
nhiều cuộc họp, nhiều buổi thơ ca lôi cuốn được đông đảo người tham dự. Có
nhà nho đã bị thực dân Pháp cầm tù. Đó là những người con của quê hương
Quốc Oai anh hùng bất khuất đứng lên chống giặc, chống chế độ thống trị của
thực dân và phong kiến để bảo vệ quyền sống cho nhân dân.
Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Quốc Oai gắn với nhiều sự kiện
quan trọng không chỉ đối với mảnh đất Hà Tây cũ mà còn đối với cả nước.
Tháng 8-1936, tại làng Đa Phúc, xã Sài Sơn, tổ chức cách mạng mang tên “Tổ
14


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

cộng sản Đa Phúc” được thành lập. Đây là hạt nhân cơ sở của quá trình hình
thành Đảng bộ Sơn Tây sau này. Trong năm 1947, Bác Hồ đã hai lần về thăm
Quốc Oai. Tại nơi đây, Bác Hồ đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp trong
một thời gian dài. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân
Quốc Oai đã không tiếc sức người, sức của hết lòng chi viện cho miền Nam
ruột thịt, góp phần vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tự hào được sinh dưỡng trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, nhân
dân Quốc Oai ngày nay đang nỗ lực phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng
tươi đẹp, xứng danh với lịch sử oai hùng của quê hương.


1945 đã để lại hậu quả nặng nề về người và của, dẫn tới nạn đói trầm trọng
khiến cho 30 trong huyện bị chết, nhiều người sống trong cảnh dật dờ.

16


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

Về chính quyền: ở cấp xã, trừ những nơi có cơ sở cách mạng, còn đa số
Mặt trận Việt Minh mới được thành lập trong những ngày khởi nghĩa thì chưa
được củng cố, lực lượng cán bộ thì rất mỏng. Về phía chính quyền cũ, trước
uy thế của cách mạng và khí thế áp đảo của quần chúng thì từ các lý cơ ở phủ
đến hào lý duới tổng – xã đều đã quy thuận và tuân thủ mọi mệnh lệnh của
Mặt trận Việt Minh. Nhưng với quyền lợi giai cấp đã từng gắn bó với chế độ
thực dân phong kiến, với lực lượng không nhỏ, lại cắm sâu từ lâu trên cả 10
tổng, 50 xã trong huyện, nêm nay tuy bị tan rã nhưng vẫn tìm cách cấu kết với
nhau để chống đối cách mạng.
Nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng cả nước cũng như Quốc Oai lúc này
là bảo vệ vững chắc nền độc lập mới giành được. Thường vụ Trung ương
Đảng đã vạch ra phương hướng nhằm xây dựng, bảo vệ chế độ mới, đối phó
với âm mưu của các thế lực đế quốc và tay sai, ổn định đời sống nhân dân.
Theo phương hướng đó, ngay sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chủ tọa phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời vào ngày 3-91945, đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ta: “Một, nhân dân đang đói,
phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất; hai, nạn dốt, mở chiến dịch để
chốn nạn mù chữ; ba, tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế
độ phổ thông đầu phiếu; bốn, mở một chiến dịch giáo dục tinh thần nhân dân
bằng cách thực hiện cần-kiệm-liêm-chính; năm, bỏ ngay ba thứ thuế: thuế
thân, thuế chợ, thuế đò; sáu, tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn

góp vào “ Quỹ độc lập”.
Trong ngày đầu tiên hưởng ứng “Tuần lễ vàng”, ngày 18-9-1945 đã có
50 gia đình trong phố huyện tham gia quyên góp được 3 đôi khuyên tai vàng
bạc và 23 đồng bạc. Ở các địa phương khác như Đại Thành, Tân Phú, Sài
Sơn, Ngọc Liệp nhân dân không có vàng bạc thì cũng hưởng ứng bằng cách
đóng góp thóc gạo. Ngoài ra ở những phiên chợ Phủ, cán bộ Việt Minh còn đi
tuyên truyền khắp chợ, hô hào đồng bào quyên góp. Đặc biệt trong phiên chợ
ngày 24-9-1945, nhân dân đã đóng góp được 3 tạ thóc, 3 con trâu bò cùng
nhiều vật dụng khác. Kết quả của cuộc vận động “Tuần lễ vàng” nhân dân các
xã trong huyện Quốc Oai đã đóng góp về mặt tài chín kinh tế của đất nước
được 25 đồng bạc, 40 tạ thóc, 2 kg vàng bạc, nhiều gia súc và gia cầm[18,
18


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

tr.335-357] . Tuy đây chỉ là những đóng góp ít ỏi nhưng nó có ý nghĩa vô
cùng to lớn trong hoàn cảnh ngân khố quốc gia trống rỗng.
2.2.2 Xây dựng lực lượng vũ trang
Trước hành động trở lại xâm lược của thực dân pháp, hưởng ứng lời kêu
gọi của Hồ chủ tịch: “Hy sinh hết thảy vì kháng chiến, hy sinh hết thảy vì mặt
trận miền Nam” [14, tr.245] , nhân dân Quốc Oai đã sôi nổi tham gia phong
trào “Ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”. Việc xây dựng lực lượng vũ trang rất
được quan tâm từ ngày giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám, thì
nay đã giành được chính quyền, để giữ được chính quyền địa phương càng
phải vũ trang. Ngay từ 17-8-1945, cùng với bầu UBND lâm thời huyện, đã
thành lập ngay bộ phận chỉ huy về quân sự. Về vũ khí, ngoài số trang bị cho
lực lượng cảnh vệ, còn dành một số súng trường, súng ngắn cho các đồng chí

ủy viên phụ trách tuyên truyền văn hóa – tuyên truyền lên làm phó chủ tịch
UBND huyện.
- Chọn trường tư thục Minh Đức làm trụ sở Việt Minh huyện. Đồng chí
Nguyễn Thị Thảo cùng một số hội viên cứu quốc vào làm việc. Huyện bộ
Việt Minh – cơ quan lãnh đạo công khai của Đảng ở cấp huyện đã được thành
lập. Đồng chí Nguyễn Thị Thảo, Tỉnh ủy viên lâm thời trực tiếp làm Bí thư
huyện bộ cùng các đồng chí Lê Đình Nghĩa, Đỗ Đức Vượng, Nguyễn Văn
Phương, Nguyễn Công Thát là những thành viên đầu tiên trong Huyện bộ.
2.2.3 Diệt giặc đói
Để chống đói một cách cơ bản, Mặt trận Việt minh và chính quyền các
cấp đã động viên, tổ chức nhân dân toàn huyện tiến công mạnh mẽ vào mặt
trận sản xuất, thực hiện lời kêu gọi diệt giặc đói của Hồ chủ tịch và chiến dịch
tăng gia sản xuất do người phát động. Đầu tiên là ở Cấn Xá, Cấn Hạ lập “Bùi
gia trang” – trang trại của gia đình họ Bùi. Ở Đa Phúc vào cuối tháng 9-1945
sau khi chia lại công điền, công thổ, chi bộ xã đã đã đề nghị với ủy ban xã để
lại cho nhân dân hơn 30 mẫu Bắc Bộ để thành lập một Hợp tác xã nông
nghiệp và để nhân dân có diện tích canh tác tập thể. Ở Nghĩa Hương, Việt
Yên, Hòa Thạch đều có hợp tác xã nông nghiệp. Nhân dân toàn huyện vừa
tích cực chăm bón, bảo vệ lúa mùa, vừa ra sức khai phá ruộng, bãi, đồi gò
hoang hóa...Thực hiện khẩu hiệu: “Tấc đất, tấc vàng, không để một tấc đất bỏ
20


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

hoang”, nhiều đoàn thể cứu quốc ở nhiều xã còn tổ chức phá hoang, tăng gia
sản xuất chung để giáo dục ý thức tập thể và lấy sản phẩm giúp đỡ đoàn viên,
hội viên túng đói hoặc bán lấy tiền gây quỹ.


Để ổn định đời sống nhân dân một cách lâu dài và xây dựng chế độ mới,
cuộc sống mới, UBND các cấp đã thực hiện tốt những cải cách dân chủ. Thuế
thân, một thứ thuế vô lý và hết sức dã man đánh vào đàn ông từ 18 tuổi trở lên
được bãi bỏ. Ruộng đất của thực dân pháp ở đồn điền Phú Mãn bị tịch thu
chia cho dân nghèo. Ruộng đất của địa chủ phát canh phải giảm tô 25% cho tá
điền. Phe giáp được giải tán; các loại công điền bãi công được chia lại theo
nguyên tắc dân chủ, công khai, công bằng; lần đầu tiên phụ nữ được hưởng
quyền chia công điền như nam giới. Đi đôi với bảo đảm các quyền lợi về kinh
tế nói trên, Mặt trận Việt Minh và chính quyền các cấp trong huyện còn rất
quan tâm hướng dẫn và thực hiện đời sống mới ở nông thôn. Mọi tập tục lạc
hậu ở chốn đình chung, nơi phe giáp như khao vọng, cơm xôi gạo lượt, lềnh
lợn, lềnh chay đều được bãi bỏ, các tệ mê tín dị đoan cũng bị bài trừ, ma xin,
cưới chay cũng không tốn kém như trước nữa.
Mặc dù cuối năm 1945, đầu năm 1946 tình hình cách mạng vẫn hết sức
khó khăn, phức tạp nhưng với niềm tin tưởng sâu sắc vào nhân dân và nhằm
thực sự tôn trọng quyền làm chủ cũng như đem lại quyền lợi chính trị cao
nhất cho nhân dân, Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức cuộc Tổng
tuyển cử đầu tiên trong cả nước để bầu ra quốc hội khóa I.
Ngày 6-1-1946, trong niềm vui sướng vô hạn lần đầu tiên được hưởng
quyền công dân của một nước độc lập, người dân đã tự mình được cầm lá
phiếu lựa chọn người đại biểu chân chính của mình. Ngày bầu cử đã diễn ra
như một ngày hội của quần chúng. Biểu thị lòng kính yêu vô hạn và tín nhiệm
tuyệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuy Người không ra ứng cử ở Quốc Oai,
nhưng cử tri ở nhiều nơi trong huyện vẫn đề nghị được bầu Người vào quốc
hội. Kết quả, cuộc bầu cử đã được tiến hành nhanh gọn, an toàn, nhiều nơi có
tới 100% cử tri đi bỏ phiếu.
Để tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng các cấp, Tỉnh ủy và Ủy ban
nhân dân huyện Quốc Oai đã quyết định tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân
22

tình hình trong huyện lúc này ngoài Đa Phúc và cơ quan huyện ra vẫn chưa xã
nào có đảng viên. Vì vậy tiếp thu ý kiến của Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí tỉnh ủy

23


Luận Văn Tốt Nghiệp

GVHD: Trần Thế Vĩnh

viên phụ trách huyện đã những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện để phát triển
Đảng.
Với chi bộ Đa Phúc, từ cuối năm 1945 và đầu năm 1946 đã phát triển
thêm một số đảng viên mới, phân công đảng viên làm công tác phát triển
Đảng nên khi hợp nhất xã, trừ các xã đã xuống huyện công tác chi bộ Sài Sơn
đã có 11 đảng viên. Chi bộ cơ quan Việt Minh huyện cũng kết nạp được thêm
một số đảng viên mới là cán bộ huyện và hội cứu quốc các xã lân cận sinh
hoạt ghép vào chi bộ này. Đáng chú ý là ba vùng chính trong huyện: vùng
Hiệp, vùng Yên Quán, vùng Bương, Cấn nơi có những cơ sở cách mạng từ
trước, các ủy viên Ban cán sự đã kết nạp được đảng viên địa phương. Vì số
đảng viên mới ở từng xã còn ít, lại đang ở trong thời kỳ dự bị, Ban cán sự chủ
trương lập các chi bộ ghép và phân công các đồng chí trong Ban cán sự hoặc
đảng viên chính thức về làm bí thư chi bộ. Theo hướng đó ngày 12-2-1946,
chi bộ ghép khu Thượng - Hạ Hiệp được thành lập, đặt tên là chi bộ Tiền
Phong. Tiếp đó ở phía nam huyện, tháng 3-1946 một chi bộ ghép nữa gồm 4
đảng viên mới ở Yên Quán, Phú Hạng, Đại Tảo cũng đã ra đời. Ở Nghĩa
Hương, từ tháng 1-1946 đã có 8 đảng viên và chi bộ nghĩa hương ra đời vào
10-5-1946.
Đến cuối tháng 5, đầu tháng 6 năm 1946 toàn huyện đã có 5 chi bộ cơ
sở với khoảng gần bốn chục đảng viên. Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy lâm thời đã

viết thạo, biết làm bốn phép tính gốc. Đặc biệt trên mặt trận chống giặc ngoại
xâm, để đề phòng sự bội ước của thực dân pháp, chuẩn bị cho cuộc kháng
chiến lâu dài, việc xây dựng quân đội và lực lượng bán vũ trang của địa
phương rất được coi trọng. Thêm nhiều tahnh niên trong huyện xung phong
vào Vệ quốc đoàn, Tự vệ cứu quốc một số lớn được chuyển thành tự vệ chiến
đấu.
Phong trào tự trang bị, tự tạo, tự chế vũ khí và luyện tập quân sự rất sôi
nổi. Nhiều xã đã trích quỹ hoặc vận động nhân dân ủng hộ tiền bạc nên đã
mua được súng trường và các loại khí tài khác cho tự vệ. Ngày ngày trên sân
đình làng, trên các gò đống, bãi tha ma ở ngoài đồng anh chị em tự vệ, với ít
khẩu súng trường, còn là dao găm, kiếm, mã tấu, gậy tre đã say sưa học tập
các động tác cơ bản về đội ngũ, về lăn lê bò toài, tháo lắp súng, ngắm bắn...
Được Chính phủ cho phép, mỗi đội viên tự vệ chiến đấu còn được gắn lên mũ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status