Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Lịch sử trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho
em trong suốt thời gian em học tập tại trƣờng cũng nhƣ trong quá trình thực
hiện khoá luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Thế Vĩnh ngƣời đã tận
tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình em làm khoá luận này.
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những
ngƣời thân đã tạo điều kiện để em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Hạnh
Lê Thị Hạnh
1
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
CHỐNG XÂM LƢỢC VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG TỪ
1946 ĐẾN8/1949...............................................................................................9
2.1. Quá trình thành lập Đảng bộ Vĩnh Tƣờng................................................19
2.2. Công cuộc củng cố chính quyền và lãnh đạo chuẩn bị kháng chiến từ
1946 đến 8/1949..............................................................................................20
2.3. Một số bài học kinh nghiệm.....................................................................36
CHƢƠNG 3: ĐẢNG BỘ VĨNH TƢỜNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TIẾN
HÀNH KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP THẮNG LỢI TỪ
8/1949 ĐẾN 7/1954.........................................................................................38
3.1. Đảng bộ Vĩnh Tƣờng lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống càn quét, chiếm
đóng, bình định của địch.................................................................................38
3.2. Đảng bộ Vĩnh Tƣờng lãnh đạo nhân dân tiến hành chiến tranh du kích
thực hiện giải phóng quê hƣơng......................................................................48
3.3. Một số bài học kinh nghiệm.....................................................................72
KẾT LUẬN.....................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................83
Lê Thị Hạnh
3
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
chiến đó, Đảng bộ huyện Vĩnh Tƣờng tỉnh Vĩnh Phúc đã lãnh đạo nhân dân
tiến hành cuộc chiến tranh tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội chủ lực trên
chiến trƣờng giành thắng lợi.
Từ những làng quê nghèo của 29 xã, thị trấn, qua bao nhiêu đời, trải
qua biết bao thế hệ cha anh đi trƣớc, nhân dân trong huyện đã phát huy những
truyền thống cao đẹp ấy, phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp bảo vệ và
xây dựng quê hƣơng ngày một ấm no hạnh phúc, những làng xóm ngày càng
trở nên giàu đẹp, văn minh. Giờ đây Vĩnh Tƣờng cùng với nhân dân cả nƣớc
đã và đang bƣớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Quê
hƣơng Vĩnh Tƣờng xƣa đang thay da đổi thịt từng ngày. Trong xu thế hội
nhập và phát triển, Vĩnh Tƣờng đang đứng trƣớc những thuận lợi vô cùng to
lớn cần đƣợc khai thác và những thách thức cần phải vƣợt qua. Điều đó đòi
hỏi phải có quyết tâm lớn và sự nhận thức sâu sắc của mọi ngƣời dân Vĩnh
Tƣờng về những tiềm năng, cơ hội cũng nhƣ những hạn chế cần phải khắc
phục.
Ngày nay, Đảng bộ Vĩnh Tƣờng vẫn xác định xây dựng phát triển kinh
tế và bảo vệ vững chắc địa bàn là nhiệm vụ chiến lƣợc. Vĩnh Tƣờng đang
cùng với cả nƣớc ra sức xây dựng phát triển kinh tế, thực hiện Công nghiệp
hoá – Hiện đại hoá góp phần thực hiện mục tiêu chung của đất nƣớc “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Vĩnh Tƣờng là mảnh đất có bề dày lịch sử lâu đời và truyền thống yêu
nƣớc chống giặc ngoại xâm. Tổng kết kinh nghiệm của Đảng trong kháng
chiến nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho việc xây
sử Đảng bộ huyện Vĩnh Tường (1930 – 2003)” do Ban Chấp hành Đảng bộ
huyện Vĩnh Tƣờng – tỉnh Vĩnh Phúc xuất bản năm 2005; “Lịch sử Đảng bộ
Vĩnh Phúc (1930 – 2005)” do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xuất
bản năm 2007; “Lịch sử Đảng bộ Vĩnh Phúc, tập 1 (1928 – 1968)” do Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc xuất bản; “Tổng kết cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học” do Ban chỉ đạo tổng kết chiến
tranh trực thuộc Bộ chính trị tiến hành của Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,
1996; Hay cuốn “Vĩnh Tường trên hành trình đổi mới và phát triển” xuất bản
năm 2005; Lịch sử Đảng bộ các xã trong huyện;.... Những cuốn sách này đã
ghi lại một cách khá đầy đủ công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính
quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân huyện Vĩnh Tƣờng
thời kỳ 1946 – 1954 dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ. Tuy vậy các công trình đó
mới chỉ dừng lại ở mức độ hệ thống hóa, khái quát hóa lịch sử cách mạng địa
Lê Thị Hạnh
6
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
phƣơng Vĩnh Tƣờng dƣới dạng chung nhất. Còn có nhiều vấn đề tỉ mỉ, chi
tiết, cần phải đƣợc làm sáng tỏ hơn.
Hơn nữa trong tình hình, nhiệm vụ hiện nay vấn đề xây dựng và bảo vệ
chính quyền ở từng địa phƣơng là một vấn đề quan trọng cần đƣợc tiếp tục
nghiên cứu một cách có hệ thống, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
thống lao động sản xuất, ngành nghề và sản vật; những nét về truyền thống
văn hoá và các danh thắng; và tiêu biểu nhất là truyền thống đấu tranh chống
giặc ngoại xâm. Đồng thời, trong luận văn tốt nghiệp của mình tôi còn đề cập
tới quá trình thành lập Đảng bộ nói chung và sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng
bộ Vĩnh Tƣờng nói riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ của đề tài đặt ra.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ sƣu tầm, tập hợp các nguồn tƣ liệu, các công trình
nghiên cứu, hệ thống hoá các sự kiện, nội dung, đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo
của Đảng bộ huyện Vĩnh Tƣờng trong công cuộc xây dựng chính quyền và
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc thời kỳ 1946 – 1954.
Nhiệm vụ cụ thể là:
- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Vĩnh Tƣờng trong công cuộc
xây dựng chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954)
trên cơ sở quán triệt, thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ƣơng Đảng bộ
địa phƣơng.
- Nêu ra đƣợc một số ƣu điểm và một số hạn chế trong khi lãnh đạo, chỉ
đạo kháng chiến chống Pháp của Đảng bộ địa phƣơng.
- Nêu lên đƣợc những kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng chính quyền
và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc thời kỳ 1946 – 1954 của Đảng
bộ Vĩnh Tƣờng, góp phần phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chính quyền
thời kỳ hiện đại.
Trong đó, tôi tập trung vào nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện Vĩnh Tƣờng trong công cuộc xây dựng chính quyền và kháng chiến
chống thực dân Pháp (1946 – 1954).
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
- Chƣơng 2: Đảng bộ Vĩnh Tƣờng với công tác lãnh đạo chống xâm
lƣợc và củng cố chính quyền cách mạng từ 1946 đến 8/1949.
- Chƣơng 3: Đảng bộ Vĩnh Tƣờng lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng
chiến chống thực dân Pháp thắng lợi từ 8/1949 đến 7/1954.
Lê Thị Hạnh
9
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA PHƢƠNG VĨNH TƢỜNG VÀ
TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ VĨNH TƢỜNG
1.1. MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT
Vĩnh Tƣờng là huyện nằm ở đỉnh tam giác đồng bằng Bắc Bộ, thuộc
nền văn minh lúa nƣớc, nằm bên tả ngạn sông Hồng ở phía Tây Nam của tỉnh
Vĩnh Phúc. Phía Bắc giáp hai huyện Lập Thạch và Tam Dƣơng; phía Tây bắc
giáp thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; phía Tây giáp huyện Ba Vì, thị xã Sơn
Tây, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội); phía Đông nam giáp huyện Yên Lạc và
huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Bao bọc một phần phía Bắc,
kéo dài suốt một dải phía Tây và một phần lớn phía Nam của huyện là hai con
sông lớn: sông Phó Đáy và sông Hồng làm ranh giới với các huyện, tỉnh lân
cận.
Vĩnh Tƣờng có 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: thị
trấn Vĩnh Tƣờng, thị trấn Thổ Tang, thị trấn Tứ Trƣng và 26 xã: Vĩnh Ninh,
tỉnh; Là điều kiện thuận lợi rất cơ bản để nhân dân Vĩnh Tƣờng tiếp cận, giao
lƣu, trao đổi hàng hoá, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với các vùng lân
cận.
Là huyện đất chật, ngƣời đông, diện tích tự nhiên của Vĩnh Tƣờng có
141,8 km2 [1, tr.9], diện tích đất canh tác là 8.829 ha [31, tr.12]. Dân số tính
đến tháng 6 năm 2005 là 191.948 ngƣời [31, tr.12]; bình quân 1.354 ngƣời/
km2 [31, tr.12]. Đảng bộ huyện Vĩnh Tƣờng hiện nay có 63 tổ chức cơ sở
Đảng; trong đó có 29 Đảng bộ xã, thị trấn và 34 Chi bộ, Đảng bộ cơ quan với
6.349 đảng viên; trong đó, đảng viên sinh hoạt ở khu vực nông thôn là 5.744
đồng chí, chiếm 90,7% tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ [31, tr.12].
Địa giới Vĩnh Tƣờng đƣợc hình thành và thay đổi qua nhiều thời kỳ
lịch sử. Vĩnh Tƣờng xƣa thuộc đất Châu Phong, với nghĩa là đỉnh vùng đất
bãi, vào thời đại Đồng Thau thuộc Quốc gia Văn Lang là một trong 15 bộ là
đơn vị hành chính đầu tiên của Việt Nam. Di chỉ khảo cổ học Lũng Hoà thuộc
niên đại Hùng Vƣơng chỉ cách đền Hùng chƣa tới 10 km đƣờng chim bay.
Đầu công nguyên, Vĩnh Tƣờng thuộc quận Giao Chỉ gần sát với kinh đô Mê
Linh của Hai Bà Trƣng. Từ thế kỷ XV, Vĩnh Tƣờng thuộc phủ Tam Đái. Từ
năm 1821 đổi phủ Tam Đái thành phủ Tam Đa. Đến đầu thế kỷ XIX, năm
Minh Mạng thứ 3, phủ Tam Đa đƣợc đổi thành phủ Vĩnh Tƣờng, bao gồm các
huyện: Bạch Hạc, Yên Lãng, Yên Lạc, Lập Thạch và Tam Dƣơng.
Sau khi thực dân Pháp xâm lƣợc nƣớc ta, chúng lập hàng loạt các tỉnh
mới. Tỉnh Vĩnh Yên đƣợc lập năm 1899, Vĩnh Tƣờng là một huyện độc lập
Lê Thị Hạnh
11
K34 – Khoa Lịch sử
nƣớc ngọt nổi tiếng với sản lƣợng lớn, không những vậy đây còn là vùng nuôi
Lê Thị Hạnh
12
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
trồng sen lấy hạt. Một số vực nƣớc sâu và những dải đất cao, dấu vết những
con đê còn lại ở phía trong bờ sông.... đã nói lên công sức của bao thế hệ
ngƣời dân trên mảnh đất này. Các thế hệ con cháu của Lang Liêu đã trồng,
cấy nhiều loại lúa nhƣ: nếp cái hoa vàng, tám thơm, lúa hiến, lúa dảnh, ba
giăng, chiêm bầu,...; các loại cây hoa màu khác nhƣ: ngô nếp, ngô tẻ, ngô
răng cƣa, ngô đỏ; các loại khoai nhƣ: khoai lang, khoai sọ, khoai nƣớc, khoai
môn,..., cùng nhiều loại đậu đỗ....; vùng bãi bồi ven sông trồng mía, trồng
dâu. Trên những cánh đồng mùa nào thức ấy, các loại rau quả thực phẩm nhƣ:
su hào, cải bắp, xúp lơ, cà chua, cải bẹ, cải xanh, cải trắng, xà lách, dƣa chuột,
dƣa hấu,... các loại rau gia vị nhƣ: hành, tỏi, thì là, tía tô, rau húng,... Ngƣời
dân Vĩnh Tƣờng đã tạo lập nên một vựa lúa, chọn lọc và lƣu truyền đƣợc
nhiều giống cây lƣơng thực, cây rau quả thực phẩm phong phú, đa dạng.
Bên cạnh những cánh đồng bờ xôi, ruộng mật, mùa tiếp mùa trù phú,
tốt tƣơi ngƣời dân nơi đây còn có nghề nuôi cá ở các đầm, hồ, ao, nuôi vịt
đàn, nuôi trâu bò lấy sức kéo và lấy thịt, nuôi lợn lấy thịt, nuôi gà. Trong đó,
chúng ta không thể không nhắc tới nghề nuôi rắn từ bao đời nay và đang phát
triển mạnh mẽ ở xã Vĩnh Sơn và một số xã lân cận khác. Thể hiện sự thông
trung tâm thƣơng mại, dịch vụ khá phát triển. Là cầu nối phát triển kinh tế
giữa các miền thƣợng du Bắc Bộ với vùng đồng bằng sông Hồng trù phú, giàu
có và nhiều nơi khác trong cả nƣớc.
1.3. TRUYỀN THỐNG VĂN HOÁ
Vĩnh Tƣờng nằm ở đỉnh chóp của tam giác đồng bằng Bắc Bộ, là vùng
đệm vững chắc, lâu dài mà tổ tiên từ miền núi, trung du đi khai phá lập ấp
sinh sống, Di chỉ khảo cổ học ở Lũng Hoà – Hoà Loan có các hiện vật đã nói
lên nơi đây đã có cƣ dân sinh sống từ thời đại Hùng Vƣơng. Ở Việt Xuân,
Yên Lập còn có đền thờ các con của Vua Hùng, các lạc hầu, lạc tƣớng đã giúp
dân làng đắp đê quai bảo vệ làng, chống lũ lụt. Những cảnh đẹp tự nhiên của
vùng đầm Rƣng, đầm Kiên Cƣơng, vực Xanh; những làng quê trù phú của
Sơn Tang, Đại Đồng, Kiệu, Thƣợng Lạp, Dẫn Tự, Rùa Táo, Phù Lập. Tứ
Trƣng, Ngũ Kiên, Vũ Di,.... tạo nên bức tranh nhiều màu sắc. Nơi đây ẩn
chứa nhiều tiềm năng về du lịch sinh thái.
Vĩnh Tƣờng là vùng đất mang đậm bản sắc văn hoá dân gian của cƣ
dân Việt cổ, là nơi bảo tồn các làn điệu dân ca nhƣ hát chèo, hát văn, ca trù,....
Một số làng xã còn lƣu truyền hát xoan, hát ghẹo. Lễ hội văn hoá truyền
thống đƣợc tổ chức ở hầu hết các xã. Tập tục giã bánh dầy cùng nhiều tập tục
Lê Thị Hạnh
14
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Song song với những nét đẹp trong những nét văn hóa truyền thống,
Vĩnh Tƣờng còn là vùng đất nổi tiếng về khoa bảng, tinh thần hiếu học, có
nhiều ngƣời đỗ đạt cao. Theo các tài liệu ghi chép lại thì chỉ tính từ thế kỷ XV
đến thế kỷ XIX, Vĩnh Tƣờng đã có hơn 250 cử nhân nho học. Tiêu biểu, là xã
Tứ Trƣng đứng đầu có 78 vị, tiếp sau đó là xã Thƣợng Trƣng với 38 vị, Cao
Đại với 28 vị và Bồ Sao có 16 vị. Ngoài ra, các danh hiệu tú tài làng, xã nào
trong huyện Vĩnh Tƣờng cũng có.
Riêng bậc Đại Khoa, tức là danh hiệu tiến sĩ nho học, huyện Vĩnh
Tƣờng có tới 22 ngƣời. Trải qua các triều đại từ Lê Mạc, Lê Trung Hƣng đến
triều Nguyễn – Một truyền thống văn hóa phát triển liên tục trong suốt 443
năm, không bị mai một. Dẫn đầu về số ngƣời đỗ Đại Khoa là xã Vũ Di có 6
vị. Ngƣời đỗ tiến sĩ nho học đầu tiên của huyện là Nguyễn Văn Chất (ngƣời
thôn Vũ Di, xã Vũ Di) – đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn, đời
vua Lê Nhân Tông (1448), ông làm quan tới chức Thƣợng thƣ bộ Hộ. Phí Văn
Thuật quê xã Thƣợng Trƣng – đỗ đình nguyên Hoàng giáp khoa Canh Thìn,
đời vua Lê Thần Tông (1640). Ông nổi tiếng là thần đồng, đi thi Hƣơng đỗ
giải nguyên, thi Hội đỗ Hội nguyên, thi Đình đỗ Hoàng giáp danh sách thứ
nhất. Ngƣời đời gọi ông là “Tứ Nguyên” (tức là bốn kỳ đỗ đầu).
Và trên quê hƣơng Vĩnh Tƣờng, nữ sĩ Hồ Xuân Hƣơng đã sống, sáng
tác những bài thơ nổi tiếng đi cùng với thời gian.
Truyền thống văn hoá là nét đẹp tinh thần trong tiềm thức ngƣời dân
Vĩnh Tƣờng nói riêng và ngƣời Việt Nam nói chung. Những truyền thống văn
Xã Tam Phúc có bà Ả Lã, xã Tân Tiến có ông Đổng Vịnh, xã Yên Lập có
Long Nga là tƣớng quân giỏi của hai Bà. Xã Đại Đồng có ông Cả Lợi và ông
Hai Lợi là những tƣớng chỉ huy chiến đấu kiên cƣờng, bất khuất. Thời kỳ đầu
công nguyên, khi nhà Hán ở phƣơng Bắc trở lại xâm lƣợc nƣớc ta để hƣởng
ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, các ông đã tham gia cuộc chiến đấu quyết tử
ấy ở Cấm Khê (thuộc Cẩm Viên – Đại Tự - Yên Lạc ngày nay). Ở đây còn có
mộ các “ông Voi” tƣơng truyền là nơi chôn các voi chiến của nghĩa quân của
Hai Bà. Tiếp theo đó, xã Ngũ Kiên ở xứ đồng Mả Mô, theo tƣơng truyền đó là
nơi chôn cất các chiến binh đã hy sinh. Ngày nay, tại xã Tứ trƣng có Miếu Bà
là nơi thờ cúng tƣớng của Hai Bà Trƣng.
Dƣới triều Lý, nhân dân Bạch Hạc tham gia kháng chiến chống quân
Tống từ Vân Nam sang và tham gia phòng tuyến sông Cầu. Dƣới triều vua Lý
Cao Tông có Nguyễn Văn Nhƣợng, ngƣời thôn Văn Trƣng, xã Tứ Trƣng có
Lê Thị Hạnh
17
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
công chiến đấu chống quân Chiêm Thành đƣợc phong làm thành Hoàng làng.
Thời Trần, nhân dân đã giúp Trần Hƣng Đạo luyện quân ở ngã ba Bach Hạc.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, lần thứ ba,
nhân dân đã giúp Trần Nhật Duật tổ chức chiến đấu bảo toàn lực lƣợng và
đánh thắng quân giặc ở khu vực Bạch Hạc. Trong cuộc kháng chiến chống
Khoá luận tốt nghiệp
hƣơng Vĩnh Tƣờng và một số huyện lân cận. Ông chiến đấu với một tinh thần
dũng cảm, quyết liệt làm cho giặc Pháp hoang mang, lo sợ; nhân dân đã có
câu ca về ông “Nam Kỳ Trương Định, Bắc Kỳ Bùi Sâm”.
Không cam chịu cuộc sống nô lệ của thực dân Pháp xâm lƣợc, tiếp nối
truyền thống đánh giặc cứu nƣớc của ông. Năm 1917, dƣới sự lãnh đạo của
Trịnh Văn Cấn, ngƣời con xã Vũ Di giàu truyền thống yêu nƣớc cùng với
Lƣơng Ngọc Quyến cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đã nổ ra. Có lòng yêu
nƣớc, căm thù giặc sâu sắc thêm vào đó là ý chí quyết tâm đánh giặc cứu
nƣớc, cứu nhà. Sau nhiều lần bàn bạc, xây dựng kế hoạch, các ông đã quyết
định nổi dậy chiếm tỉnh lỵ Thái Nguyên làm căn cứ cách mạng. Ngay trong
đêm ngày 30/8/1917, Ban chỉ huy khởi nghĩa đã hạ lệnh quyết định tấn công
địch. Nghĩa quân đã lần lƣợt chiếm toàn bộ hệ thống cơ quan đầu não của
Pháp ở Thái Nguyên, nghĩa quân quyết định lấy cờ có năm ngôi sao lớn đề
bốn chữ “Nam binh phục quốc” làm quân kỳ treo ở cửa thành Thái Nguyên,
rồi phát lệnh tuyên bố “Thái Nguyên độc lập”, đặt quốc hiệu là Đại Hùng. Có
thể nói, lần đầu tiên trong trang sử dân tộc, khởi nghĩa Thái Nguyên đã đánh
một mốc son chói lọi. Song do lực lƣợng của nghĩa quân mỏng lại thiếu sự
chuẩn bị về tổ chức, trong khi đó lực lƣợng của thực dân Pháp mạnh, đông lại
đƣợc trang bị vũ khí hiện đại. Sau một thời gian ngắn chiến đấu, nghĩa quân
buộc phải rút khỏi tỉnh lỵ Thái Nguyên. Vừa chiến đấu, vừa hành quân qua
các tỉnh ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ, dựa vào địa thế hiểm trở của vùng
núi Tam Đảo và vùng đất phía Bắc huyện Vĩnh Tƣờng, nghĩa quân tiếp tục
chiến đấu với tinh thần dũng cảm làm lung lay ý chí chiến đấu của thực dân
Pháp. Cho đến tháng 1/1918, lực lƣợng chỉ còn lại 10 ngƣời nhƣng các ông
vẫn kiên cƣờng chiến đấu. Tuy nhiên, do thế cùng lực kiệt trong vòng vây của
địch, ngƣời Anh hùng Trịnh Văn Cấn đã từng tuyên bố “Thái Nguyên độc
lập”, sau đó đã tự sát để không bị rơi vào tay giặc. Hành động đó đã nêu lên
to lớn trong cả nƣớc, thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống
thực dân Pháp xâm lƣợc. Nguyễn Thái Học với Việt Nam Quốc dân Đảng đã
đi vào lịch sử dân tộc cùng tên tuổi và câu nói bất hủ: “không thành công
cũng thành nhân” còn sống mãi với non sông đất nƣớc. Công lao ấy đƣợc
Đảng và Nhà nƣớc truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công và danh hiệu liệt sĩ.
Ngoài ra, chúng ta còn phải ghi nhận công lao của các vị anh hùng nhƣ:
Nguyễn Kiến (1902 – 1944) – sinh ra tại làng Dẫn Tự, tổng Đồng Phú, phủ
Vĩnh Tƣờng trong một gia đình nông dân nghèo, ông đã có công tuyên truyền
hƣớng dẫn phong trào cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và
Lê Thị Hạnh
20
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
xây dựng cơ sở cách mạng ở Vĩnh Tƣờng. Đồng chí Lê Xoay, sinh năm 1912,
làng Yên Nhiên, xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tƣờng – sinh ra trong một gia đình
nông dân nghèo nhƣng đƣợc ăn học đầy đủ, ông đã có công củng cố tổ chức
Đảng, các đoàn thể cứu quốc, ổn định tƣ tƣởng quần chúng và củng cố phong
trào cách mạng,....
Chƣa dừng lại ở đó, trong sự nghiệp kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc,
tiếp tục truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, Đảng bộ và nhân dân
Vĩnh Tƣờng luôn đi đầu để đóng góp sức ngƣời, sức của làm nhiệm vụ tiền
tuyến chi viện cho miền Nam chống ngoại xâm. Với khẩu hiệu “Thóc không
2.1. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ VĨNH TƢỜNG
Vĩnh Tƣờng là huyện có cơ sở và phong trào cách mạng mạnh mẽ, sớm
của tỉnh Vĩnh Yên. Trong các phong trào cách mạng của cả nƣớc từ khi Đảng
ra đời và lãnh - đạo phong trào (1930 – 1931 và 1936 – 1939), Vĩnh Tƣờng
đều có phong trào khá sôi nổi, một số cuộc đấu tranh đã đƣợc báo chí bí mật
và công khai của Đảng đƣa tin. Vì vậy, Xứ uỷ thƣờng quan tâm theo dõi và
chỉ đạo phong trào cách mạng huyện Vĩnh Tƣờng.
Năm 1938, dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thƣ
Nguyễn Văn Cừ, lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1/5 đƣợc tổ chức tại khu
Đấu Xảo – Hà Nội (nay là Cung văn hoá Hữu Nghị). Đây là cuộc biểu dƣơng
lực lƣợng lớn nhất, hùng hậu nhất, thu hút đƣợc đông đảo quần chúng tham
gia và cuộc Mít tinh là đỉnh cao trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ ở Hà Nội.
Phong trào đấu tranh của nhân dân trong huyện Vĩnh Tƣờng cùng hoà nhịp và
đã góp phần làm nên một sự kiện lịch sử đầy ý nghĩa. Trong thời gian này,
Vĩnh Tƣờng còn tổ chức xây dựng cơ sở và tổ chức phong trào hoạt động bí
mật. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Xứ uỷ Bắc Kỳ họp giữa năm 1938 đã đề
ra chủ trƣơng: “những chỗ hiện giờ đã có sẵn mối liên lạc phải lập tức gây
thành cơ sở của Đảng” [21, tr.310].
Cơ sở Dẫn Tự, Hoà Lạc do đồng chí Nguyễn Kiến gây dựng trong
những năm từ 1933 đến 1935, đã phát triển sang Vũ Di. Đồng chí Nguyễn
Kiến đã gây dựng đƣợc tổ chức Đoàn thanh niên Dân chủ, giáo dục giác ngộ
đoàn viên và củng cố tổ chức vững mạnh, bắt liên lạc với Xứ uỷ. Tháng
8/1938, đồng chí Hoàng Văn Thụ (bí danh là Vân), Uỷ viên Ban thƣờng vụ
Xứ uỷ đã về trực tiếp kiểm tra cơ sở và phong trào ở Vĩnh Tƣờng. Đồng chí
Lê Thị Hạnh
22
K34 – Khoa Lịch sử
2.2.1. Chính quyền cách mạng với những nhiệm vụ cấp bách về kinh tế xã hội
Lê Thị Hạnh
23
K34 – Khoa Lịch sử
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Cách mạng tháng Tám thành công, nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà
vừa ra đời đã đứng trƣớc tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”: nạn đói cũ chƣa
chấm dứt – nạn đói mới lại tiếp diễn, lũ lụt thƣờng xuyên sảy ra, sản xuất
đìmh trệ, tài chính trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ do chính sách ngu dân
của thực dân Pháp để lại. Ở miền Nam, quân Pháp đƣợc quân Anh giúp sức
đã thƣờng xuyên gây hấn, trở lại xâm lƣợc nƣớc ta. Ở miền Bắc, 20 vạn quân
Tƣởng núp dƣới danh nghĩa quân Đồng minh vào tƣớc vũ khí phát xít Nhật
nhƣng mang âm mƣu chống phá cách mạng, lật đổ Nhà nƣớc cộng hoà còn
non trẻ.
Trƣớc tình hình khó khăn chung của cả nƣớc, Vĩnh Tƣờng cũng gặp
muôn vàn khó khăn, thử thách: vỡ đê ở Quảng Cƣ và Diệm Xuân làm cho
toàn huyện bị thiệt hại vô cùng nặng nề. Nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm
1945 lại càng trở nên trầm trọng hơn. Dựa vào sức mạnh quân sự của Tƣởng,
bọn Việt Nam Quốc dân Đảng phản động đã chiếm đóng và dựng lên chính
quyền tay sai ở Bồ Sao, Bạch Hạc, Diệm Xuân và lập ra các tổ chức, lôi kéo
thanh niên, phụ nữ làm tay sai cho chúng. Mặc dù, trong điều kiện khó khăn,
thiếu thốn nhƣng nhân dân Vĩnh Tƣờng vẫn phải cung cấp lƣơng thực, thực
quyền cách mạng huyện. Nhiệm vụ trọng tâm, cần thiết đƣợc chỉ đạo thực
hiện lúc đó là cứu đói và hàn khẩu hai quãng đê vỡ ở Quảng Cƣ và Diệm
Xuân. Trong những ngày nƣớc lụt lội, phong trào vận động tƣơng trợ giúp đỡ
những nhà bị nƣớc lũ cuốn mất chỗ ăn chỗ ở đƣợc nhân dân hƣởng ứng đông
đảo. Chƣa dừng lại ở đó, để tự cứu đói, chính quyền ở các xã đã vận động bà
con nƣớc rút đến đâu, tranh thủ cấy lúa, trồng khoai và các cây rau màu khác
đến đó. Huyện đã chỉ đạo tập chung hàn khẩu quãng đê Quảng Cƣ và Diệm
Xuân là hai công trƣờng lớn đầu tiên dƣới sự chỉ đạo của chính quyền cách
mạng. Tại các địa phƣơng trong Huyện đã huy động lực lƣợng tham gia đắp
đê phục hồi sản xuất. Bình quân mỗi xã có từ 150 đến 200 ngƣời. Ở một số xã
nhƣ: Thƣợng Trƣng, Đại Đồng, Tuân Chính có số ngƣời huy động lên tới 300
ngƣời. Với sự nỗ lực cao của nhân dân trong huyện, Vĩnh Tƣờng đã nhận
đƣợc sự hỗ trợ, giúp sức của các huyện bạn trong tỉnh nên việc đắp đê, hàn
khẩu đƣợc hoàn thành một cách nhanh chóng, trƣớc thời hạn đề ra. Đại diện
của chính phủ đi thăm và trực tiếp kiểm tra công việc hàn khẩu đê đã biểu
dƣơng thành tích có ý nghĩa to lớn này. Trên báo “Cứu quốc”, số ra ngày
13/11/1945, trên trang nhất “Dân ta đắp đê ta” đã cổ vũ tinh thần đắp đê,
phục hồi sản xuất của nhân dân tỉnh Vĩnh Yên. Bài báo có đoạn viết: “Tỉnh
Vĩnh Yên đã tự đắp được con đê Quảng Cư quan hệ cho cả ba tỉnh Vĩnh Yên,
Lê Thị Hạnh
25
K34 – Khoa Lịch sử