ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------NGUYỄN THỊ THU
ĐẢNG BỘ HUYỆN VĨNH TƢỜNG (TỈNH VĨNH
PHÚC) LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------NGUYỄN THỊ THU
ĐẢNG BỘ HUYỆN VĨNH TƢỜNG (TỈNH VĨNH
PHÚC) LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đặng Kim Oanh
Hà Nội, 2014
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................... 1
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... 2
MỤC LỤC ..................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... 5
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT......................................................................... 6
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 7
1. Lý do chọn đề tài....................................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................... 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................... 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu........................................................................ 12
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu .............................. 13
6. Đóng góp của luận văn .......................................................................................... 14
7. Kết cấu của luận văn.............................................................................................. 14
NỘI DUNG .................................................................................................................. 16
Chƣơng 1. QÚA TRÌNH ĐẢNG BỘ HUYỆN VĨNH TƢỜNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (1996 – 2000) ................................. 16
1.1. Những yếu tố tác động đến quá trình xây dựng chủ trƣơng của Đảng bộ
huyện về phát triển kinh tế nông nghiệp ................................................................ 16
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội................................................................. 16
1.2. Đảng bộ huyện Vĩnh Tƣờng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp những năm 1996 - 2000 ................................................................................ 28
1.2.1. Chủ trương của Đảng....................................................................................... 28
1.2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc...................................................... 36
1.2.3. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường về phát triển
kinh tế nông nghiệp (1996-2000) ............................................................................... 40
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng nông nghiệp qua các
năm 1996 - 2000 ........................................................................................................... 40
Bảng 1.2: Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 1996 - 2000 ....................... .41
Bảng 2.1: Tổng diện tích các loại cây qua các năm 2001 - 2010..............................58
Bảng 2.2: Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm 2001- 2010..........................58
5
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
KTNN
Kinh tế nông nghiệp
NXB
Nhà xuất bản
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và là lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định
chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước” [19, tr. 26].
7
Trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế nông nghiệp (KTNN) nông
thôn là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, trước mắt cũng như lâu
dài, sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn được coi là mặt trận hàng đầu và công
cuộc CNH - HĐH được bắt đầu từ CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Chính vì thế, vấn đề phát triển nông nghiệp và CNH - HĐH nông nghiệp,
nông thôn đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tranh luận.
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã tạo ra
một giai đoạn phát triển mới trong nông nghiệp, nông thôn nước ta.
Vĩnh Tường là một huyện mới được tái lập năm 1996 nhưng có vị trí
địa lý thuận lợi, có điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực dồi dào rất thích hợp
cho việc phát triển nền KTNN, đặc biệt là đẩy mạnh thâm canh cây lúa nước.
Vĩnh Tường đã vươn lên trở thành huyện có khả năng sản xuất nông nghiệp
trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực của miền Bắc. Hoà nhập trong
công cuộc đổi mới đất nước, huyện Vĩnh Tường hơn 10 năm qua đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng góp lớn
của KTNN. Vĩnh Tường đã và đang phấn đấu trở thành một huyện tạo ra
bước chuyển mạnh trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Văn kiện Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá, tạo bước chuyến mạnh hơn trong cơ cấu sản xuất
nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [8, tr. 51]. Cùng với sự lớn mạnh của
Đảng bộ Vĩnh Tường, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã trở thành một
nhân tố có ý nghĩa quyết định với sự phát triển KTNN, tạo nên bộ mặt mới
cho nông nghiệp nông thôn của huyện trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH
hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại, của PGS, TS. Nguyễn Văn Bích,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, của TS. Lê Quang Phi,
9
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
đổi mới 1986-2002, của PGS, TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nhà xuất bản Thống kê,
Hà Nội, 2003; Nông nghiệp nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát
triển, của TS. Đặng Kim Sơn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006;
Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng (1986-2005) của Tô Huy
Rứa - Hoàng Chí Bảo - Lê Ngọc Tòng, tập 1, Nhà xuất bản Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2005; Một số vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn nước ta, thông tin chuyên đề của Văn phòng Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam, số 23 tháng 7-2000; Đường lối phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2011) của
TS. Nguyễn Ngọc Hà, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội 2011.
Hai là, các bài báo, công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa
học như của Trần Văn Phòng: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế
nông nghiệp", Tạp chí Giáo dục lý luận, số 11, tr. 3-6, 2005; Đặng Kim Oanh,
“Quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới”, Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 8, tr. 26-30, 48, 2009; Nguyễn Sinh Cúc: “Tổng quan
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Lao động và xã
hội, số 197, tr. 26-28, 2002; bài “Vĩnh Tường về việc tuyên truyền và chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp” của Đào Mạnh – Báo
Vĩnh Tường ngày 28/11/2008; bài “Một số giải pháp chủ yếu để thực hiện
thắng lợi chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn và thuỷ
sản” của Trần Xuân Giai – Báo Vĩnh Tường ngày 9/11/2007.
Ba là, một số luận án, luận văn, đáng chú ý là các luận văn, luận án của
các tác giả: Nguyễn Xuân Ớt, Đảng lãnh đạo thực hiện cơ chế đổi mới trong
kết một cách có hệ thống những thành tựu, hạn chế và một số bài học kinh
nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 1996 đến năm 2010.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
11
Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài góp phần làm rõ quá trình Đảng bộ huyện
Vĩnh Tường lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2010.
Từ đó rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ trong lãnh đạo, chỉ đạo phát
triển KTNN có giá trị phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Trình bày có hệ thống đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển KTNN; phân tích, đánh giá quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường trong việc vận dụng sáng tạo đường lối của
Đảng trong phát triển KTNN những năm 1996 - 2010.
- Làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường
trong phát triển KTNN Vĩnh Tường những năm 1996 - 2010.
- Làm rõ thành tựu phát triển của KTNN huyện Vĩnh Tường những
năm 1996 - 2010.
- Nêu lên những kết quả và hạn chế; bài học kinh nghiệm từ quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện
trong phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2010 dưới ánh sáng chủ trương,
đường lối chính sách phát triển KTNN của Đảng và Nhà nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận văn tìm hiểu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện
của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển KTNN. Số liệu điều tra, khảo sát
thực tế ở một số địa phương trong huyện Vĩnh Tường.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgich. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác
như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh số liệu để làm rõ nội
dung cần nghiên cứu.
13
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Giá trị về mặt lý luận
- Góp phần hệ thống hóa quan điểm chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, quan điểm của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường về
phát triển KTNN. Tạo dựng lại quá trình Đảng bộ huyện Vĩnh Tường lãnh đạo,
chỉ đạo phát triển KTNN từ năm 1996 đến năm 2010.
- Góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
việc thực hiện triển khai đường lối của Đảng về phát triển KTNN vào hoàn
cảnh, điều kiện cụ thể của huyện Vĩnh Tường.
6.2. Giá trị về mặt thực tiễn
- Việc nắm vững và quán triệt sâu sắc đường lối phát triển KTNN của
huyện Vĩnh Tường là cần thiết để các nhà sản xuất kinh doanh, các thành
phần kinh tế… có thể hiểu được đường lối, chủ trương của Đảng bộ huyện để
có chương trình, kế hoạch phát triển nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân. Luận văn góp phần tuyên truyền, phổ biến để nhân dân
thấy được đường lối đúng đắn của Đảng bộ huyện Vĩnh Tường trong lĩnh vực
phát triển KTNN.
- Nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện Vĩnh
Tường lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KTNN làm bài học kinh nghiệm quý báu
cho quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện trong những năm
Vĩnh Tường và Yên Lạc. Địa giới huyện Vĩnh Tường:
Phía Đông giáp huyện Yên Lạc;
Phía Tây giáp thành phố Việt Trì và tỉnh Hà Tây (huyện Ba Vì);
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tây (huyện Ba Vì và thành phố Sơn Tây);
Phía Bắc giáp thành phố Vĩnh Yên và huyện Lập Thạch.
Huyện Vĩnh Tường nằm trong tọa độ địa lý 2124 ' vĩ độ Bắc, 10536 '
kinh độ Đông.
Vĩnh Tường là huyện tiếp giáp với thành phố công nghiệp Việt Trì, thị
xã Sơn Tây, cận kề với thị xã Tỉnh Lỵ Vĩnh Yên - trung tâm chính trị, văn
hóa, xã hội, vùng kinh tế năng động đang phát triển mạnh và chỉ cách thủ đô
Hà Nội hơn 60km đường chim bay.
- Địa hình và đất đai: địa hình tương đối bằng phẳng và hướng dốc dần
từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Địa hình được chia thành ba khu vực: Vùng
đồng bằng phù sa cổ gồm các xã phía Bắc và một phần phía Tây Bắc; Vùng
đồng bằng phù sa có nhiều đầm hồ tạo nên những thắng cảnh đẹp; Vùng đất
bãi trù phú phía ngoài đê sông Hồng và sông Phó Đáy. Địa hình của huyện
16
khá thuận lợi cho phát triển thâm canh cây trồng và chăn nuôi đa dạng với
việc tạo ra các mô hình trang trại khác nhau. Như vậy, Vĩnh Tường là vùng
quê với những xóm làng đông đúc, cây lá xanh tươi bốn mùa, với nhiều cảnh
sắc tự nhiên tươi đẹp. Về đất đai, tổng số diện tích đất tự nhiên là 14.182ha
(con số thống kê năm 2003), Vĩnh Tường là huyện có tỉ trọng đất nông nghiệp
khá cao chiếm 70,03% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất bình quân theo đầu
người 543 m 2 /người:
Diện tích đất nông nghiệp: 10.064,56ha.
Diện tích đất trồng cây hàng năm: 8.782,32ha.
Diện tích đất trồng lúa + màu – lúa: 7.718,49ha.
Diện tích đất chuyên màu: 988,39ha.
Điều kiện kinh tế, xã hội
- Quá trình hình thành: : Tên đất Vĩnh Tường đã có từ xa xưa. Đầu
tiên, đất Vĩnh Tường thuộc Bộ Văn Lang, sau đó thuộc về Phong Châu thừa
hoá quận, đời nhà Đường (621- 939), từ 1225- 1400, thuộc Triều Trần, Vĩnh
Tường thuộc lộ Tam Giang. Thời thuộc Minh, Vĩnh Tường thuộc lộ Đông Đô
(nằm trong châu Tam Đới). Đời vua Lê Thánh Tông, đất này đổi gọi châu
Tam Đới thành phủ Tam Đái (1469), bao gồm Yên Lạc, Yên Lãng, Tiên
Phong, Phù Khang, Lập Thạch, Bạch Hạc. Đây là vùng đất trù phú, dân cư
đông đúc. Đến đời nhà Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ hai (1821), Phủ Tam
Đái được đổi tên thành phủ Tam Đa. Một năm sau đó (1822) lại đổi tên gọi là
phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Sơn Tây...Cho tới năm 1832, phủ Vĩnh Tường
chỉ còn lại 3 huyện là Bạch Hạc, Lập Thạch và Tam Dương. Gần sáu chục
năm sau, vào năm 1890, phủ Vĩnh Tường lại bao gồm 5 huyện: Bạch Hạc,
Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc và Yên Lãng. Năm 1899, chính quyền Pháp
thành lập tỉnh Vĩnh Yên và phủ Vĩnh Tường thành một đơn vị độc lập, không
bao gồm các huyện nữa. Tới năm 1927, phủ Vĩnh Tường lại gồm 10 tổng là:
Đồng Phú, Đồng Vệ, Hưng Lục, Kiên Cương, Lương Điền, Mộ Chu, Nghĩa
18
Yên, Tăng Đố, Thượng Trưng và Tuân Lộ. Lỵ sở phủ Vĩnh Tường trước kia ở
xã Văn Trưng. Năm 1831 dời đến địa phận 3 làng Bồ Điền, Huy Ngạc, Yên
Nhân. Thành phủ hiện còn di tích ở xã Vũ Di.
- Đơn vị hành chính: Huyện có 29 đơn vị hành chính trực thuộc, bao
gồm 3 thị trấn: Thị trấn Vĩnh Tường, thị trấn Thổ Tang, thị trấn Tứ Trưng và
26 xã: Vĩnh Ninh, Phú Đa, Lũng Hòa, Tân Cương, Đại Đồng, Cao Đại, Tuân
Chính, Bồ Sao, Vĩnh Sơn, Bình Dương, Vân Xuân, Tam Phúc, Phú Thịnh, Lý
Nhân, An Tường, Vĩnh Thịnh, Yên Bình, Tân Tiến, Vũ Di, Thượng Trưng,
Chấn Hưng, Ngũ Kiên, Kim Xá, Yên Lập, Việt Xuân, Nghĩa Hưng.
- Hệ thống giao thông: Vĩnh Tường có mạng lưới giao thông đường bộ
đời sống. Huyện cũng đã thực hiện điện khí hóa một số khâu trong trồng trọt
và chăn nuôi.
- Truyền thống lịch sử, văn hoá:
Vĩnh Tường là huyện có truyền thống lịch sử, văn hóa rất đáng trân
trọng và tự hào. Trước hết phải kể đến truyền thống lao động cần cù và truyền
thống khẩn hoang, trị thuỷ, thâm canh sản xuất nông nghiệp. Vĩnh Tường
trước kia vốn là miền đất hoang sơ. Để hình thành vùng đất này, “người dân
Vĩnh Tường thường xuyên phải vật lộn với thiên tai, biển dữ, phải đổ ra biết
bao mồ hôi và cả xương máu mới có được những làng xóm trù phú, những
cánh đồng bát ngát, mùa màng tốt tươi…Với địa hình không bằng phẳng, nơi
trũng quá thường xuyên chịu cảnh “chiêm khê mùa thối”, nơi vùng cao lại
hạn hán kéo dài, có nơi phù sa ngập mặn…, nhưng người dân Vĩnh Tường,
bằng sức lao động cần cù, bền bỉ và sáng tạo đã ngăn đập, đắp đê, khơi ngòi
đào mương, dựng kè cống, thau chua rửa mặn, cải tạo đất canh tác phục vụ
tích cực cho trồng trọt, nhất là cây lúa” [1, tr. 26].
Vĩnh Tường nằm ở chóp của đồng bằng Bắc Bộ, là vùng đệm vững
chắc từ miền núi, trung du ghi dấu tổ tiên cha ông xưa đi khai phá vùng đồng
bằng lập ấp sinh sống, với bề dày lịch sử giàu truyền thống yêu nước và cách
20
mạng. Từ buổi đầu các Vua Hùng khởi nghiệp lập nên nhà nước Văn Lang,
đến thời đại ngày nay, thời đại Hồ Chí Minh non sông liền một dải, cả nước
sống trong hòa bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong suốt
tiến trình lịch sử ấy, người dân Vĩnh Tường tự hào đã có những đóng góp
xứng đáng cùng nhân dân trong tỉnh và cả nước xây đắp nên truyền thống đấu
tranh dựng nước và giữ nước huy hoàng của dân tộc.
Vĩnh Tường là mảnh đất đã sản sinh và nuôi dưỡng lớp lớp các thế hệ
nhân dân cần cù, sáng tạo trong lao động, thông minh, tài trí trên đường học
hành, khoa cử; kiên cường, bất khuất trong chiến đấu để tồn tại và phát triển
nhiệm vụ cho nhiệm kỳ tới. Đại hội xác định phương hướng chung của nhiệm
kỳ (1989 – 1990) là: coi nông nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu, tập trung
vào phát triển ba chương trình kinh tế lớn là lương thực, thực phẩm; hàng tiêu
dùng; hàng xuất khẩu, tăng nhanh khối lượng hàng hóa, chuyển đổi nhanh
hơn nữa công tác quản lý. Chia nhỏ các hợp tác xã, gắn liền với củng cố quan
hệ sản xuất. Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, y tế, giáo dục, thể
dục thể thao, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tinh thần, xây dựng con người mới, xây
dựng nông thôn mới. Tập trung làm tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng, đặc biệt coi
trọng công tác giáo dục tư tưởng, giữ gìn phẩm chất Đảng viên, cũng cố tổ
chức cơ sở, đổi mới và quy hoạch cán bộ.
Những mục tiêu chủ yếu: Tốc độ phát triển nông nghiệp hàng năm tăng
2 – 2,3%, tổng sản lượng lương thực năm 1988 là 94 - 95 ngàn tấn, phấn đấu
đạt giá trị xuất khẩu 2,2 tỷ đồng; đưa giá trị công nghiệp địa phương lên 78
triệu đồng (theo thời giá trị năm 1982); thực hiện chỉ tiêu về chuyển cư đi xây
dựng kinh tế mới, gắn với việc vận động sinh đẻ kế hoạch, bình quân mỗi
năm giảm tỷ lệ sinh đẻ 0,1%, năm 1989 hạ tỷ lệ phát triển dân số dưới 2%.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các xã trong huyện đã đạt
những kết quả khích lệ trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Trong 2 năm
22
(1987 – 1989), huyện tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường
đầu tư áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đổi mới cơ cấu giống,
tạo ra chuyển biến trong thâm canh.
Vụ đông tiếp tục phát triển đã trở thành vụ sản xuất chính. Hệ số sử
dụng đất tăng từ 2,09 lần năm 1986 lên 2,12 lần năm 1989. Tổng sản lượng
lương thực quy ra thóc bình quân hai năm 1988 - 1989 đạt 85.201 tấn. Trong
đó, thóc tăng 3,04%, đỗ tương tăng 454 tấn, cây dâu tằm phát triển khá tạo ra
giá trị kinh tế gấp hai lần trồng màu trên cùng diện tích. Sản xuất nông nghiệp
phát triển toàn diện đã tạo ra sản phẩm hàng hóa phong phú hơn, phá được thế