ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------******--------
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------******--------
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành
: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
người đã trang bị cho tôi tri thức và kĩ năng cần thiết để có được tư duy và phương
pháp nghiên cứu khoa học.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến những cơ quan, tổ chức đã nhiệt tình
cung cấp thông tin, số liệu cho luận văn như Tỉnh ủy Quảng Ngãi, UBND tỉnh
Quảng Ngãi, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi, Cục
Thống kê tỉnh Quảng Ngãi.
Do hạn chế về năng lực, luận văn khó tránh được những thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy, cô, bạn bè để trong tương lai, nếu
tiếp tục theo đuổi hướng nghiên cứu này, tôi có thể hoàn thiện thêm.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 5
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 10
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu .......................... 10
6. Đóng góp của Luận văn .............................................................................. 11
7. Kết cấu của Luận văn .................................................................................. 12
CHƢƠNG 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
QUẢNG NGÃI VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM
2005 ĐẾN NĂM 2010 .................................................................................... 13
1.1. Những yếu tố tác động ........................................................................... 13
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Quảng Ngãi ........... 13
1.1.2. Thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trước năm 2005 ......... 21
1.1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010 ................................................................. 26
1.2. Qúa trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010..................................................... 31
3.2.2. Vận dụng và triển khai kịp thời, đúng đắn, sáng tạo, hiệu quả các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước trong phát triển kinh tế nông nghiệp ................ 104
3.2.3. Chú trọng xây dựng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp
một cách hiệu quả ......................................................................................... 106
3.2.4. Phát triển kinh tế nông nghiệp phải gắn liền với xây dựng nông thôn và
giải quyết vấn đề nông dân ........................................................................... 107
KẾT LUẬN .................................................................................................. 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 127
2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CT - XH: Chính trị - xã hội
ĐCSVN: Đảng Cộng sản Việt Nam
HĐND: Hội đồng nhân dân
HTX: Hợp tác xã
KTTT: Kinh tế tập thể
KTNN: Kinh tế nông nghiệp
KT - XH: Kinh tế - xã hội
KT - CT: Kinh tế - chính trị
NTM: Nông thôn mới
UBND: Ủy ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
VH - XH: Văn hóa - xã hội.
Việt Nam là quốc gia nông nghiệp, đại đa số là nông dân. Với những
điều kiện như: Đất đai màu mỡ, sông ngòi dày đặc, nhiều đồng bằng rộng lớn,
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nông dân có kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp trồng lúa nước,… Đây là một số yếu tố thuận lợi để phát triển KTNN
tại Việt Nam.
Nhận thức được tiềm năng và vai trò của KTNN, từ khi ĐCSVN ra đời,
bên cạnh việc đề cao vai trò của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng
cũng đề ra chủ trương đấu tranh toàn diện, lãnh đạo nhân dân xây dựng và
phát triển kinh tế. Đến Đại hội lần thứ V (1982) ĐCSVN xác định lấy nông
nghiệp làm mặt trận hàng đầu. Đặc biệt, tại Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng
tiếp tục đề ra chủ trương: Thực hiện 3 Chương trình mục tiêu là lương thực,
thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Có thể thấy, ĐCSVN rất coi
5
trọng phát triển KTNN, đây là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Thực hiện đường lối trên, KTNN Việt Nam thời kỳ đổi mới đạt nhiều
thành tựu: Từ chỗ nhập lương thực, thực phẩm đến chỗ nhiều mặt hàng nông
sản chiếm lĩnh được thị trường trong và ngoài nước; đời sống nhân dân, đặc
biệt là nông dân được cải thiện; bộ mặt nông thôn thay đổi lớn… Tuy nhiên,
những thành quả ấy chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng yêu cầu của
tình hình mới.
Trong vài năm trở lại đây (năm 2015 đến 2017), đồng bằng Sông Cửu
Long - một trung tâm cung ứng nông sản hàng đầu của cả nước đang đứng
trước những khó khăn lớn. Hiện tượng khô hạn và xâm ngập mặn nghiêm
trọng đã, đang và sẽ diễn ra làm năng suất, sản lượng các loại nông sản giảm
sút. Quá trình đô thị hóa cả nước ngày càng mạnh làm cho diện tích đất nông
nghiệp bị thu hẹp. Thực trạng trên làm cho vấn đề an ninh lương thực cần
KTNN được rất nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm. Những nghiên cứu đó có
thể phân ra thành các nhóm sau:
Một là, những nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về nông nghiệp, nông thôn như: Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền, Nông
nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2001; Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Để nông nghiệp, nông thôn phát
triển bền vững người dân giàu lên, Tạp chí Cộng sản số 28, tháng 10/2002;
Phan Diễn (Nguyên Bí thứ Trung ương Đảng, Thường trực Ban Bí thư), Tạo
bước chuyển biến nông nghiệp hơn nữa trong tiến trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản số 28, tháng 10/2002; GS.TS Nguyễn
Kế Tuấn (chủ biên), công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
ở Việt Nam - Con đường và bước đi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2006;
PGS.TS Nguyễn Văn Bích, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi
năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007;
7
Nguyễn Ngọc Hà, Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng
sản Việt Nam thời kỳ đổi mới ( 1986-2011), Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà
Nội, 2011… Những công trình này đề cập chủ yếu về vị trí, vai trò của
KTNN, nông thôn; làm sáng tỏ đường lối, chủ trương CNH, HĐH và phương
hướng phát triển KTNN trong thời kỳ đổi mới. Đây là cơ sở để cung cấp
những lí luận chung về phát triển KTNN cho Luận văn.
Hai là, những nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh trong
nước về phát triển KTNN như: Nguyễn Khắc Trinh, Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk
lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 2004 đến năm 2013, Luận án Tiến sĩ
chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội; Nguyễn Văn Vinh, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1986 đến 2005, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học
cấp cho Luận văn một bức tranh tổng thể vể Quảng Ngãi trước năm 2005 và một
số tư liệu quan trọng về KTNN của tỉnh từ năm 2005 đến năm 2015.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong phát triển
KTNN từ năm 2005 đến năm 2015, trên cơ sở đó nêu nhận xét và phân tích
một số kinh nghiệm.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo phát triển KTNN của
Đảng bộ từ năm 2005 đến năm 2015.
Trình bày chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ và kết quả thực hiện về
KTNN ở Quảng Ngãi từ năm 2005 đến năm 2015.
Nêu những ưu điểm, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân về sự lãnh đạo của
Đảng bộ. Từ đó phân tích một số bài học kinh nghiệm từ quá trình trên.
9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi về phát triển KTNN từ năm 2005 đến năm 2015.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu từ năm 2005 (Đại hội Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi lần thứ XVII (12/2005) đến năm 2015 (kết thúc việc thực hiện
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII). Nhưng để làm
rõ hơn quá trình lãnh đạo của Đảng bộ trong giai đoạn này, Luận văn có sử
dụng một số tư liệu có liên quan trước năm 2005.
Về nội dung: KTNN hiểu theo nghĩa hẹp gồm có 02 ngành chính là trồng
đến 2016 của Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến Luận văn: Sách, tạp chí, các bài
báo, luận văn, luận án….
6. Đóng góp của Luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ngãi trong phát triển KTNN từ năm 2005 đến năm 2015.
Tái dựng bức tranh KTNN tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn từ 2005 đến
2015.
Chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh
nghiệm. Từ đó, sẽ là tài liệu tham khảo cho những cá nhân, tổ chức trong việc
nghiên cứu, biên soạn về lịch sử Đảng bộ, lịch sử ngành nông nghiệp của địa
phương và góp phần vạch định chủ trương, giải pháp, chỉ đạo thực hiện nhằm
đưa KTNN Quảng Ngãi trong những giai đoạn tiếp theo phát triển hơn.
11
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung
Luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo tiếp tục phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 2011 đến năm 2015
Chương III. Nhận xét và một số bài học kinh nghiệm
12
CHƢƠNG 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
thuộc Việt Nam Cộng hòa. Từ ngày 10.11.1975 đến ngày 30.6.1989, hai tỉnh
Quảng Nghĩa và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Ngày
01/07/1989, tỉnh Quảng Ngãi tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành
2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.
Sau ngày tái lập (1989), Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 5.131,5km2,
bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước [77, tr. 31] và 11 đơn vị hành chính
gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện là Tư Nghĩa, Ba Tơ, Bình Sơn, Đức
Phổ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Sơn Hà, Sơn Tịnh, Trà Bồng.
Ngày 01/01/1993, huyện Lý Sơn được thành lập. Năm 1994, huyện Sơn Tây
thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Sơn Hà. Ngày 01/12/2003, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 145/2003/NĐ-CP về việc thành lập huyện Tây Trà trên
cơ sở tách ra từ huyện Trà Bồng. Ngày 26/08/2005, thị xã Quảng Ngãi được
nâng cấp lên thành phố Quảng Ngãi theo Nghị định 112/2005/NĐ-CP của
Chính phủ [77, tr. 41].
Với vị trí địa lý trên, Quảng Ngãi dễ dàng tạo lập và phát triển mối quan
hệ với các tỉnh phía Bắc, phía Nam hay các nước trên thế giới thông qua
tuyến giao thông quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường thủy.
- Địa hình: Quảng Ngãi chia thành 4 vùng rõ rệt: Rừng núi, trung du,
đồng bằng và bãi cát ven biển. Địa hình nơi đây nói chung là núi lấn sát biển,
miền núi rộng lớn, có nhiều thung lũng, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình dốc,
phân khúc sẽ ảnh hưởng lớn, gây khó khăn cho phát triển KTNN. Tuy nhiên,
nếu biết khai thác tốt những lợi thế từng vùng đặc biệt là vùng miền núi sẽ là
điều kiện thuận lợi thúc đẩy KTNN nói chung và phát triển lâm nghiệp nói
riêng.
- Đất đai - thổ nhưỡng: Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất tỉnh
Quảng Ngãi (1998), do trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện,
Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính.
15
Nhóm đất nứt nẻ: Có diện tích 634 ha (0,12%), phân bố ở huyện Bình
Sơn, thành phần cơ giới là thịt nặng và sét. Nếu khắc phục được nước thì có
thể trồng được nhiều loại cây công nghiệp dài ngày như chè, điều.
Nhóm đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Có diện tích 9.696 ha (1,89%), phân
bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh. Đất này nghèo dinh dưỡng, phù hợp với
các loại cây lâm nghiệp.
Từ những số liệu trên cho thấy, phần lớn đất ở Quảng Ngãi có chất lượng
trung bình. Trong tổng diện tích đất canh tác của tỉnh có 376.547,2 ha đất
vùng đồi núi có khả năng phát triển lâm nghiệp, chiếm 73,42% và 99.209,9 ha
đất nông nghiệp, chiếm hơn 19,36% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Vì vậy,
phát triển kinh tế lâm nghiệp là một trong những thế mạnh của tỉnh.
- Khí hậu: Quảng Ngãi có hai mùa là mùa nắng và mưa; nền nhiệt độ cao
và ít biến động, độ ẩm cao; lượng mưa tương đối lớn, phân bố khá đồng điều
theo lãnh thổ... đã tạo nên những thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng,
vật nuôi. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nền nhiệt độ và chế độ mưa giữa các
vùng miền; "hằng năm, có từ hai đến ba cơn bão đổ bộ trực tiếp và nhiều đợt
áp thấp nhiệt đới" [77, tr. 303].... Điều này ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng
của cây trồng, vật nuôi và quá trình sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.
- Sông ngòi: Với vị trí địa lý, địa hình và khí hậu nêu trên đã tạo ra một
mạng lưới sông ngòi ở Quảng Ngãi tương đối phong phú, phân bố điều trên
khắp lãnh thổ và có một số đặc điểm như: Bắt nguồn từ phía Đông dãy
Trường Sơn và đổ ra biển, sông ngắn và dốc, khả năng trữ nước ngầm để
cung cấp cho dòng chảy vào mùa cạn khá nghèo nàn, hầu hết các sông về mùa
cạn đều khô, lòng sông đầy cát, vào mùa mưa thường xảy ra lũ.
Quảng Ngãi có 4 sông chính là Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu và sông
Vệ. Ngoài ra, có một số sông nhỏ, ao, hồ, công trình chứa nước nhân tạo. Tuy
Mỹ Á hàng năm vào mùa khô thường bị cát bồi lấp nên việc neo trú tàu
thuyền và nuôi trồng thủy sản biển cũng gặp nhiều khó khăn.
"Ngư trường khai thác thủy sản Quảng Ngãi có diện tích khoảng 11.000
km2" [77, tr. 361]. Ngoài ra, vùng ven biển bãi ngang đang được đầu tư cải
tạo thành những vùng nuôi trồng thủy sản. Vùng biển Quảng Ngãi có mật độ
sinh vật phù du tương đối thấp, nên trữ lượng nguồn lợi thủy sản không lớn.
Tuy nhiên, nguồn lợi cá nổi là thế mạnh của vùng biển Quảng Ngãi, "trữ
lượng trung bình khoảng 42.000 tấn, sản lượng cho phép khai thác trung bình
hàng năm khoảng 19.000 tấn" [77, tr. 361]. Quảng Ngãi có đảo Lý Sơn, ven
bờ quanh đảo có nhiều rạn đá, san hô bao bọc đã hình thành hệ sinh thái biển
khá đặc sắc và nguồn lợi thủy sản phong phú. Độ mặn nước biển ở Quảng
Ngãi khá cao từ 32-34% [77, tr. 359], có vùng đầm nước mặn Sa Huỳnh,
được khai thác để làm muối. Ở lưu vực tiếp giáp với các cửa sông là nơi trú
ngụ, sinh sản nhiều loài thủy sản ven bờ. Với tiềm năng trên, phát triển kinh
tế biển, đặc biệt là khai thác thủy sản là một trong những lợi thế của tỉnh.
* Điều kiện kinh tế: Quảng Ngãi là tỉnh ven biển nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm Trung bộ, khi mới tái lập tỉnh, Quảng Ngãi là một tỉnh nghèo,
thuần nông. Đến năm 2005, kinh tế của tỉnh phát triển theo hướng CNH,
HĐH và đạt được nhiều thành tựu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, tăng
trưởng GDP trong tỉnh hơn 10%. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng là 30%,
dịch vụ là 35,2%, nông - lâm - ngư là 34,8%. Nông nghiệp tăng trưởng ổn
định. Cơ cấu KTNN chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi,
giảm tỷ trọng ngành trồng trọt. Diện tích và sản lượng lâm nghiệp, thủy sản
không ngừng tăng. Có nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp như Khu kinh tế
Dung Quất, Khu công nghiệp Tịnh Phong, Quảng Phú. Dịch vụ được mở
rộng, tăng trưởng khá. Nhiều ngân hàng được hình thành và phát triển tạo
điều kiện cho nhân dân vay vốn, hỗ trợ sản xuất. Kết cấu hạ tầng tương đối
19
Từ những điều kiện tự nhiên, kinh tế, VH - XH của Quảng Ngãi sẽ tạo
nên những thuận lợi và khó khăn nhất định trong quá trình phát triển KTNN ở
nơi đây. Có thể khái quát thành mấy điểm sau:
- Thuận lợi:
Với vị trí địa lý nằm giữa 2 đầu đất nước, tiếp giáp với nhiều tỉnh và
Biển Đông. Đây là điều kiện tốt để tạo lập và phát triển mối quan hệ với các
tỉnh phía Bắc, Nam hay các nước trên thế giới thông qua các tuyến giao thông
huyết mạch.
Địa hình, đất đai đa dạng cùng với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa sẽ cho
phép phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều nông sản đặc trưng.
Tiềm năng rừng và biển tương đối phong phú nên phát triển kinh tế lâm
nghiệp và đánh bắt thủy sản là những lợi thế của Quảng Ngãi.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, cơ sở hạ tầng tương
đối đồng bộ và phát triển, đây là điều kiện để Quảng Ngãi thu hút vốn đầu tư,
tạo ra tiềm lực về kinh tế để thúc đẩy KT - XH, trong đó có KTNN.
Là mảnh đất có truyền thống văn hóa, cách mạng; lực lượng lao động
trong nông nghiệp dồi dào cùng với sự cần cù, siêng năng, sáng tạo sẽ yếu tố
kết dính, tập hợp nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh.
- Khó khăn:
Địa hình ngắn dốc, phân cách; khí hậu diễn biến phức tạp, thường xuyên
chịu sự tác động của bão, lũ, nắng hạn; đất đai ít màu mỡ; đồng bằng nhỏ hẹp;
sông ngòi bị bồi lấp, thiếu nước vào mùa khô sẽ tác động xấu đến sinh trưởng
của cây trồng, vật nuôi, gây khó khăn, ách tắc trong sản xuất nông nghiệp.
Tính đến năm 2005, Quảng Ngãi vẫn là một tỉnh nghèo, thuần nông; kết
cấu hạ tầng, dịch vụ và các ngành kinh tế phụ trợ phục vụ ngành nông nghiệp
chưa phát triển, chưa đáp ứng yêu cầu.
21