LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản
thân. Các tư liệu, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực, các tài
liệu tham khảo được trích dẫn một cách nghiêm túc, khoa học dựa trên các
kết quả nghiên cứu đã được công bố.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Chu Lữ Hồng Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
BCH TW
Ban Chấp hành Trung Ương
CNH
Công nghiệp hóa
DTTN
Diện tích tự nhiên
Đất rất thích nghi
S2
Đất thích nghi trung bình
S3
Đất thích nghi kém
UBND
Ủy ban nhân dân
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Kinh tế nông nghiệp (KTNN) giữ vai trò, vị trí quan trọng trong
cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa
(GDP) của ngành nông - lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
Quảng Ninh không lớn, năm 2001 là 9,2%, năm 2005 chiếm 7,2%, năm 2008
là 6,49%, năm 2010 giảm còn 6,3%, nhưng đóng góp của ngành về phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn là rất lớn. Ngành giải quyết việc làm và nuôi sống
trực tiếp dân số thuộc khu vực nông thôn và thành thị. Ngoài ra còn tạo ra
triển nhanh và đạt hiệu quả cao.
Đó là những lý do để tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” làm
luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đề tài về phát triển KTNN theo đường lối đổi mới trên phạm vi cả nước
đã được nghiên cứu và công bố nhiều. Những công trình này đều đề cập tới các
vấn đề ở tầm vĩ mô, còn trên địa bàn từng tỉnh cũng có một số luận văn nghiên
cứu về KTNN. Riêng về KTNN tỉnh Quảng Ninh cho tới nay chưa có một
công trình khoa học nào nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có hệ thống.
2.1. Nguồn tài liệu đề cập tới KTNN Quảng Ninh gồm:
Cục Thống kê Quảng Ninh (2011), Niên giám Thống kê tỉnh Quảng
Ninh 2010; Cục Thống kê Quảng Ninh (2012), Niên giám Thống kê tỉnh
Quảng Ninh (1955 – 2011); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2001), Văn kiện Đại
hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI (1/2001); Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh (2005), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần
thứ XII (11/2005); Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010), Văn kiện Đại hội Đại
biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (11/2010); Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh (2010), Lịch sử đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, tập IV (1975 – 2005), Các
3
Báo cáo tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000 đến năm 2010) của Đảng
bộ tỉnh Quảng Ninh; Các Báo cáo tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000
đến năm 2010) của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Ninh; Các Báo cáo
tổng kết hàng năm về KTNN (từ năm 2000 đến năm 2010) của Sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn (NN & PTNT) tỉnh Quảng Ninh; Bộ NN &
PTNT (2009), Báo cáo quy hoạch nông – lâm nghiệp và thủy lợi tỉnh Quảng
Ninh đến năm 2005 và tầm nhìn đến năm 2020.
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đoàn Hải Đăng (2013), Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010, luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những công trình nêu trên đã đề cập đến vấn đề Đảng cộng sản Việt
Nam lãnh đạo NN, Đảng bộ các tỉnh, thành phố lãnh đạo phát triển KTNN.
Trong số những công trình đã nêu, chưa có công trình khoa học nào đi sâu
nghiên cứu về “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010” theo góc độ Lịch sử Đảng.
3. Mục đích, nhiệm vụ
- Mục đích
+ Làm rõ cơ sở khoa học và chủ trương phát triển KTNN của Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2010.
+ Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm
đẩy nhanh tốc độ phát triển KTNN tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tiếp theo.
- Nhiệm vụ
+ Nêu và phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động tới nền
KTNN của tỉnh Quảng Ninh.
+ Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương phát triển KTNN của
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2010.
+ Nêu lên những kết quả và hạn chế của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
trong quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương phát triển KTNN từ năm 2001
đến năm 2010.
5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển KTNN tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2010.
tỉnh Quảng Ninh.
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng sáng tạo đường
lối phát triển KTNN của Đảng cộng sản Việt Nam vào hoàn cảnh cụ thể của
địa phương mình.
- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm qua 10 năm Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh lãnh đạo phát triển KTNN. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải
pháp khả thi nhằm thúc đẩy KTNN phát triển nhanh hơn.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu và giảng dạy ở trường chính trị tỉnh và phục vụ công tác
nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
kết cấu nội dung của luận văn được chia làm 3 chương, 8 tiết.
7
Chương 1
NHỮNG CĂN CỨ KHOA HỌC ĐỂ ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH
ĐỀ RA CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
(2001 – 2010)
1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lí: Quảng Ninh là tỉnh biên giới, miền núi, hải đảo thuộc vùng
Đông Bắc của đất nước. Nằm trong dải hành lang biển lớn của Bắc Bộ và
chạy dài theo cánh cung từ Đông Triều đến Bình Liêu - Móng Cái tiếp giáp
với vùng Thập Vạn Đại sơn Trung Quốc, Quảng Ninh có biên giới đất liền
(dài 132,8 km) và hải phận giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Trung
tâm của tỉnh nằm cách thủ đô Hà Nội 153 km theo đường quốc lộ 18.
Ranh giới: Quảng Ninh có trên 300 km giáp với các tỉnh và 132,8 km
tập trung ở huyện Đông Triều, Yên Hưng và từ Tiên Yên đến Móng Cái. Đây
là những dải đồng bằng thường có diện tích nhỏ hẹp, nằm gần như ngang với
mực nước biển và là sản phẩm tích tụ của phù sa biển và phù sa sông. Chúng
còn được tiếp tục lấn ra ngoài khơi bởi những bãi phù sa biển rất rộng lớn, đặc
biệt là ven bờ biển Móng Cái.
Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng
ven biển thuận lợi cho thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và xây
dựng hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, thông tin liên lạc… nên
đây là vùng dân cư tập trung đông nhất của Quảng Ninh.
Vùng biển và hải đảo: Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm 2/3 số đảo cả nước
chạy từ Mũi Ngọc đến Hòn Gai tạo thành hình cánh cung song song với cánh
cung Đông Triều. Độ cao phổ biến của các đảo khoảng trên dưới 100m và trải
dài theo đường ven biển hơn 250km chia thành nhiều lớp.
- Khí hậu: Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt
Nam thuận lợi cho phát triển KTNN, nhưng cũng có nét riêng của một tỉnh
9
miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn có đặc trưng của
khí hậu đại dương.
- Chế độ mưa: Tổng lượng mưa hàng năm trung bình khoảng từ 2200 2500 mm. Mùa mưa ở Quảng Ninh trùng với hoạt động của gió mùa hè gió
Đông Nam kéo dài 7 tháng, bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 10.
Trong mùa mưa lượng mưa ngày lớn nhất đều vượt 100 mm và có thể đạt tới
250 – 500 mm vào cuối tháng 6 đến tháng 9. Số ngày mưa hàng năm dao
động trong khoảng 117 - 153 ngày. Trung bình mỗi năm ở Quảng Ninh có
khoảng 2,1 cơn bão đổ bộ vào.
Giông và mưa đá: Trung bình mỗi năm ở đây quan trắc được khoảng 33
- 55 ngày dông, dông xuất hiện chủ yếu vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 9,
với khoảng 4 - 10 ngày một tháng.
sinh thái đa dạng cao về cảnh quan và các hệ động thực vật phong phú. Có tới
trên 400 loài cá, 500 loài động vật biển, 160 loài san hô, 140 loài rong biển.
Quảng Ninh có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng chục
vạn hecta vũng nông ven bờ thuộc Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long là môi trường
rất thuận tiện để phát triển nuôi tôm, cá và hải đặc sản xuất khẩu.
- Tài nguyên đất: Theo số liệu thống kê đất đai năm 2008 “diện tích tự
nhiên tỉnh Quảng Ninh là 609897,94 ha. Trong đó: diện tích đất NN là
394.004,98 ha, chiếm 64,6% diện tích đất tự nhiên; đất SXNN là 53.764,02
ha, chiếm 8,8% diện tích tự nhiên (DTTN); đất lâm nghiệp có rừng là
319.980,03 ha,chiếm 52,46% DTTN; đất phi NN là 78.133,96 ha, chiếm
12,81 % DTTN; đất chưa sử dụng là 137.759 ha, chiếm 22,59 % DTTN” [5,
tr. 19].
Trong tổng diện tích đất đai toàn tỉnh, đất NN chỉ chiếm 10%, đất có
rừng chiếm 38%, diện tích chưa sử dụng còn lớn (chiếm 43,8%) tập trung ở
vùng miền núi và ven biển, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Dưới tác động
tổng hợp của môi trường tự nhiên và con người, đất đai tỉnh Quảng Ninh đã
11
hình thành nên 12 nhóm đất, với những đặc điểm khác nhau về hình thái và
tính chất lý hoá học cũng như khả năng sử dụng. Các loại đất thuận lợi cho
SXNN là đất phù sa, đất có tầng sét loang lổ và sau đó tới nhóm đất phèn, đất
mặn, đất xám và đất vàng đỏ.
Nhìn chung so với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đất
canh tác nghèo dinh dưỡng của Quảng Ninh chiếm cao hơn, đòi hỏi suất đầu
tư cho SXNN cao hơn. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đem lại giá trị kinh
tế cao, cần bảo vệ đất và môi trường, áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý
trên đất dốc, áp dụng các công thức luân canh, bón phân một cách khoa học
trên những vùng thâm canh, không ngừng tăng cường độ màu mỡ cho đất. Hỗ
các huyện.
- Lúa – cá: có diện tích 468,4 ha, ở mức: Thích nghi trung bình (S2),
phân bố tập trung ở các đơn vị đất có địa hình thấp trũng, khó thoát nước, có
thành phần cơ giới nặng nằm ở huyện Yên Hưng, Hải Hà.
Ngoài ra còn có 3.840,96 ha thích nghi kém (S3) phân bố ở một số
huyện đồng bằng ở địa hình thấp, bị ngập nước mùa mưa.
- Chè: Có khả năng thích nghi tối đa là 18.497 ha trong đó mức rất
thích nghi (S1) có 1053 ha, thích nghi (S2) có 17.444 ha, phân bố tập trung ở
các huyện Đầm Hà, HảI Hà, Móng Cái.
- Cây ăn quả: có khả năng thích nghi tối đa 41.369 ha. Trong đó:
+ Rất thích nghi (S1) có diện tích 8.921 ha phân bố ở tất cả các huyện
trong tỉnh nhiều nhất là ở huyện Đông Triều.
+ Thích nghi trung bình (S2) có diện tích 32.447 ha, phân bố ở tất cả
các huyện trong tỉnh.
13
- Nông lâm kết hợp: Có khả năng thích nghi tối đa là 69.317 ha, trong
đó ở mức rất thích nghi (S1) có 8800 ha, mức thích nghi trung bình (S2) có
60.517 ha và phân bố ở tất cả các huyện thị của tỉnh.
- Đồng cỏ chăn nuôi: Có khả năng thích nghi tối đa là 29.847 ha,
trong đó diện tích rất thích nghi (S1) có 3605 ha, diện tích thích nghi trung
bình (S2) có 26.242 ha, phân bố ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, trừ huyện
đảo Cô Tô.
- Rừng trồng: Có khả năng thích nghi tối đa 157.014 ha, trong đó diện
tích có mức độ rất thích nghi (S1) là 19.264 ha, diện tích thích nghi trung bình
(S2) có 137.750 ha, phân bố ở tất cả các huyện của tỉnh.
- Nuôi trồng thuỷ sản: Hơn 24.000 ha, ở mức thích nghi kém (S3) chủ
yếu là nước lợ, trong đó các xã có diện tích lớn tập trung nhất là thuộc Vân
+ Sự đa dạng về địa hình địa mạo tạo khí hậu và đất đai thích hợp với
nhiều loại cây trồng nông – lâm - ngư nghiệp có giá trị kinh tế cao. Diện tích
đất trống đồi núi trọc, lao động còn nhiều là điều kiện thuận lợi để khai thác
vào mục đích SX nông – lâm - ngư nghiệp trong giai đoạn tới.
+ Lợi thế về vị trí địa lý kinh tế đã tạo cho Quảng Ninh giao lưu dễ
dàng với vùng kinh tế Bắc Bộ và vùng kinh tế phía Nam Trung Quốc, là nơi
tiếp giáp với các tỉnh phía Nam Trung Quốc nên có điều kiện xuất khẩu các
mặt hàng nông – lâm sản. Trong tương lai gần khu vực Bắc Lào - Vân Nam
(Trung Quốc) nhờ qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, các cảng
biển của Quảng Ninh để thông thương với các nước trên thế giới.
- Khó khăn
+ Quảng Ninh có địa hình chia cắt phức tạp, diện tích đất đồi núi chiếm
tới 70% DTTN, trong khi nhu cầu phát triển các ngành công nghiệp, đô thị,
xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn dẫn đến tình trạng nhiều hộ nông dân mất đất
SXNN. Điều kiện SXNN của Quảng Ninh khó khăn hơn các tỉnh vùng trọng
15
điểm Bắc Bộ do tỷ lệ đất canh tác nghèo chất dinh dưỡng lớn, phải đầu tư cải
tạo và chi phí SX lớn hơn.
+ Chế độ mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa chiếm tới 80%
lượng mưa trong năm đã gây tình trạng ngập úng, sạt lở đất đá ở nhiều nơi,
giao thông đi lại khó khăn dễ ách tắc. Mùa khô mưa ít, lòng sông hẹp, dốc,
mức nước các sông hồ xuống thấp gây tình trạng hạn hán thiếu nước kéo dài
cho SX và sinh hoạt trên nhiều vùng núi và hải đảo từ tháng 11 đến tháng 3 4 năm sau. Yếu tố thiên tai như bão, lốc, lũ quét đã gây thiệt hại cho SXNN
và tài sản tính mạng của con người. Nguồn nước ngầm còn thiếu nhiều so với
nhu cầu và chỉ đáp ứng 40 - 50% cho sinh hoạt và SX, chất lượng nước nhiều
khu vực chưa đáp ứng được yêu cầu do bị nhiễm mặn. Vì vậy, cần phải đầu tư
lớn để xây dựng nhiều hồ đập để chứa, tích nước phục vụ cho phát triển các
và chế biến nông – lâm – ngư nghiệp. Đồng thời tăng khả năng tích luỹ vốn và
huy động vốn nhàn dỗi trong nhân dân đầu tư cho SX tạo đà thuận lợi cho kinh
tế nông thôn phát triển trong giai đoạn tới.
- Những yếu tố khó khăn
+ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN, các địa phương đã chú ý
đưa tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào SX nhưng còn ở mức thấp, chưa
tập trung đầu tư tạo vùng SX hàng hoá, công tác quy hoạch, kế hoạch còn
thiếu tính khả thi chưa cao. SX nông sản hàng hoá còn manh mún, chưa hình
thành rõ vùng SX chuyên canh, hay các vùng cung cấp nguyên liệu chế biến
cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đã quy hoạch trên địa bàn tỉnh.
+ Chuyển dịch lao động từ ngành NN sang công nghiệp còn thấp, tỉ lệ
lao động đã qua đào tạo chưa cao dẫn đến năng suất lao động thấp và thu nhập
thiếu ổn định. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ SX và bảo quản chế biến nông,
lâm sản còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu mở rộng SX. Tỷ lệ hộ nghèo
17
vùng nông thôn, miền núi và khu vực hải đảo còn cao, nhiều hộ dân thiếu vốn
đầu tư mở rộng SX nông – lâm - ngư nghiệp. Nhiều yếu tố mới về hội nhập
quốc tế, cạnh tranh chất lượng, giá thành các sản phẩm NN chủ yếu của tỉnh
diễn ra gay gắt, trong khi trình độ SX, tính thương mại hoá các ngành hàng
nông - lâm sản còn yếu.
+ Bình quân suất đầu tư cho SXNN so với các tỉnh khác là lớn, nhưng
hiệu quả SX chưa cao. Quá trình thực hiện CNH – HĐH NN nông thôn diễn
ra chậm, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào SX chưa nhiều, SX
theo hướng hàng hoá còn chậm nên hiệu quả SX chưa cao.
+ Bình quân đất SXNN cho các hộ thấp và sẽ tiếp tục giảm nhanh trong
thời gian tới do chuyển đổi đất NN sang xây dựng các khu công nghiệp và hệ
thống cơ sở hạ tầng khác sẽ gây xáo trộn đời sống kinh tế - xã hội của một bộ
tỉnh trong đó lao động nông – lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ lệ là 48% số lao
động trong độ tuổi). Hàng năm có từ 2 - 4% lao động NN chuyển sang lao
động phi NN. Lao động của Quảng Ninh thuộc dạng trẻ, nhóm tuổi từ 15 - 34
chiếm từ 37 - 38% trong tổng số lao động và tỷ lệ lao động được đào tạo ngày
càng cao từ 26,7% (năm 2001) lên 35,2% (năm 2008). Nhu cầu sử dụng lao
động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại của tỉnh Quảng Ninh
rất lớn, một số ngành lao động phải lấy từ ngoài tỉnh. Hàng năm số lao động
được giải quyết việc làm của tỉnh từ 20 - 22 ngàn lao động, tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở nông thôn ngày càng tăng năm 2008 tỷ lệ này là 82,5%, tỷ lệ
lao động thất nghiệp ở thành phố hàng năm giảm từ 0,5 - 1%/năm. Đây là một
yếu tố thuận lợi mà nhiều tỉnh chưa có, để chuyển dần lao động NN sang lĩnh
vực phi NN và chuyển dịch cơ cấu KTNN nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
Hàng năm, bằng nhiều nguồn vốn đầu tư tỉnh đã tổ chức đào tạo lao
động NN và ngành nghề nông thôn, từ năm 2005 - 2008 đã mở được 250 lớp
học với 8962 người tham gia, kinh phí đào tạo là 6,25 tỷ đồng, nâng tỷ lệ lao
động được đào tạo lên 39% tổng số lao động của trong độ tuổi, đạt mức cao
19
hơn bình quân chung của cả nước. So với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, lao động của Quảng Ninh còn ở mức trung bình, chưa khơi dậy
lòng ham muốn làm giàu từ SX nông – lâm - ngư nghiệp, những chủ hộ có
mô hình trang trại SX nông, lâm hàng hoá đạt giá trị cao mới ở bước đầu,
tiềm năng khai thác trong SX còn lớn. Trong một số lĩnh vực kinh tế khác
Quảng Ninh có nhiều doanh nhân thành đạt nhưng trong lĩnh vực NN chỉ số ít
những doanh nhân thành đạt. Do đó, cần có những giải pháp về cơ chế chính
sách phù hợp để đưa ngành SXNN có bước phát triển cao bền vững, tương
xứng với là vị trí mũi nhọn trọng điểm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
- Những yếu tố thuận lợi:
động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ thương mại của tỉnh Quảng Ninh
rất lớn, một số ngành lao động phải lấy từ ngoài tỉnh.
Tỉnh có 4 trường cao đẳng và đại học, 5 trường đào tạo trung học
chuyên nghiệp. Hàng năm có gần 220 nghìn học sinh phổ thông, 6 ngàn học
sinh cao đẳng và đại học, 7 – 8 nghìn học sinh chuyên nghiệp được đào tạo và
tốt nghiệp là lực lượng lao động có trình độ tham gia vào các ngành kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Lao động ở tỉnh dồi dào nhưng đa số trình độ
học vấn vẫn thấp, trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động hầu như không cao,
chủ yếu lao động đơn giản. Khu vực đô thị dân cư khá tập trung, còn lại phân
tán và rải rác.
1.2. Khái quát kinh tế nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh trước năm 2001
Thực hiện nghị quyết lần thứ X nhiệm kỳ (1996 – 2000) của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh, hàng vạn hộ nông dân trong tỉnh đã phát huy nội lực, chủ động,
sáng tạo khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch tỉnh giao.
Trong nông nghiệp: mặc dù thời tiết không thuận lợi, song năm 1996
tổng sản lượng lương thực đạt trên 170 nghìn tấn, tăng 13,5% nghìn tấn, giá
trị SXNN tăng 5% so với năm 1995, một số huyện tăng trên 5 nghìn tấn như
21
Yên Hưng, Đông Triều. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng 5 – 7%, riêng đàn lợn
nái tăng 3,5%. Năm 1997, thời tiết thuận lợi, một số công trình thủy lợi qua
nhiều năm đầu tư đã phát huy tác dụng, các địa phương tích cực chuyển đổi
cơ cấu mùa vụ, tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 175.500 tấn tăng 4%
so với năm 1996; giá trị sản xuất ngành NN tăng 5,9%, một số huyện tăng cao
như Đông Triều tăng 3.500 tấn, Yên Hưng 1.500 tấn… Toàn tỉnh cơ bản hoàn
thành việc giao quyền sử dụng đất ruộng lâu dài cho hộ nông dân (97% số hộ
nông dân được cấp giấy quyền sử dụng đất).
Năm 1998 tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh đạt 181 nghìn tấn, tăng
3,5% so với năm 1997; năm 1999 diện tích gieo trồng đạt 72.946 ha, tăng
hết năm 1998 toàn tỉnh có 8.390 trang trại, một số trang trại bắt đầu cho thu
hoạch; năm 1999 trồng 5.769 ha rừng tập trung; năm 2000 so với năm 1999
toàn tỉnh trồng 7.000 ha rừng tập trung, tăng 15,7% khai thác, thu mua nhựa
thông đạt 3 nghìn tấn, tăng 38,8%; khai thác gỗ trụ mỏ đạt 21.600m 3, tăng
14,8%. Công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, số vụ cháy rừng giảm.
Trong ngư nghiệp: công tác thủy sản được tỉnh quan tâm chỉ đạo.
Ngành thủy sản hàng năm đầu tư đóng mới hàng chục chiếc thuyền tuyến
khơi, phát triển nuôi trồng thủy sản có giá trị cao như nuôi ngọc trai, ngao, sò
huyết, cá lồng, tôm sú ở nhiều nơi như Vân Đồn, Yên Hưng, Móng Cái, Hải
Hà, Đầm Hà… Lượng khai thác cũng như nuôi trồng thủy hải sản của tỉnh
hàng năm tăng cao. Năm 1997 sản lượng hải sản đạt 18.600 tấn, giá trị kim
ngạch xuất khẩu đạt 11 triệu USD, chiếm tỷ trọng gần 40% giá trị kim ngạch
xuất khẩu của tỉnh; năm 1998, sản lượng hải sản đạt 18,6 triệu USD, phong
trào nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao tiếp tục được mở rộng, điển hình
như nuôi tôm sú ở Yên Hưng, Móng Cái; nuôi lồng, bè, nuôi trai ngọc ở Hạ
Long, Vân Đồn, Cẩm Phả. Công tác chế biển thủy sản xuất khẩu được đầu tư
đổi mới công nghệ, đa dạng mặt hàng và đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm để
mở rộng thị trường sang châu Âu; đến năm 2000, tổng sản lượng khai thác,