Đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

NGUYỄN THỊ QUYÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

NGUYỄN THỊ QUYÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2005

Chuyên Ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ LƢƠNG DIỆU


HĐND

Hội đồng Nhân dân

HTX

Hợp tác xã

SXKD

Sản xuất kinh doanh

GDP

Gross Domestic Product /Tổng sản phẩm quốc nội

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TW/TƯ

Trung ương

UBND

Ủy ban Nhân dân


DANH MỤC BẢNG, BIỂU


đến năm 2005 ở tỉnh Quảng Ninh

5

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu giá trị sản xuất CN ngoài quốc
doanh năm 2002 ở tỉnh Quảng Ninh

60

63

Bảng 2.3: Giá trị sản xuất nông nghiệp phân theo
6

thành phần kinh tế tỉnh Quảng Ninh

71


Nguồn: [107]


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 7
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................ 8

2.2.3. Chỉ đạo công tác phát triển Đảng, xây dựng công đoàn cơ sở .......... 85
Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 87
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .......................................... 90
3.1. Nhận xét ................................................................................................ 90
3.1.1. Về ưu điểm........................................................................................... 90
3.1.2. Về hạn chế ........................................................................................... 96
3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử ............................................................... 102
3.2.1. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với kinh tế tư
nhân, không ngừng đổi mới về tư duy trong suốt quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế tư nhân .................................................................................... 102
3.2.2. Tiến hành tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho thành phần
kinh tế tư nhân hoạt động, không ngừng sáng tạo, đổi mới và phát triển .. 105
3.2.3. Đẩy mạnh hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách về kinh tế
của tỉnh Quảng Ninh về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như thái độ làm việc
để tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế tư nhân.................... 107
Tiểu kết Chương 3 ....................................................................................... 109
KẾT LUẬN ................................................................................................ 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 115
PHỤ LỤC ................................................................................................... 125


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế tư nhân là một khu vực rộng lớn trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần. Ở Việt Nam, tồn tại nhiều quan niệm khác nhau và chưa thống
nhất về khái niệm kinh tế tư nhân, có ý kiến cho rằng kinh tế tư nhân là một
khu vực kinh tế, có ý kiến khác là một thành phần kinh tế. Trên những
thành tựu nghiên cứu đã đạt được, Luận văn sử dụng khái niệm “kinh tế tư
nhân” dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm 3 thành phần
kinh tế: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân1.

chưa phát huy được vai trò, vị trí cũng như thực lực để kinh tế tư nhân
tham gia ngày càng hiệu quả vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa hiện nay.
Thực hiện những chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng trong
phát triển kinh tế tư nhân, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã chú trọng và tiến
hành lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân. Sự tiến triển về mặt nhận thức của
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh không phải trong một thời gian ngắn mà trải qua
nhiều giai đoạn với thời gian lâu dài. Những nhận thức này ngày càng hoàn
thiện, đầy đủ và phù hợp với yêu cầu của đất nước hơn. Qua quá trình phát
triển của kinh tế tư nhân ở Quảng Ninh, có thể khẳng định những chủ
trương, chỉ đạo của Đảng bộ ngày càng được hoàn thiện, phát triển và có
nhiều đóng góp quan trọng với địa phương cũng như đất nước. Tuy nhiên,
trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ vẫn còn nhiều thiếu sót, hạn chế trong
nhận thức cũng như chỉ đạo. Kinh tế tư nhân vẫn chưa được coi trọng phát
triển đúng, xứng đáng với tiềm năng cũng như lợi thế của tỉnh Quảng Ninh.
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh phát triển
kinh tế tư nhân, nhất là thời kỳ 1991-2005 vừa là tìm hiểu một nguyên nhân
thành công cũng như hạn chế của quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư
nhân, đánh giá về vị trí, vai trò, xu hướng phát triển để kinh tế tư nhân
tham gia một cách có hiệu quả vào quá trình hình thành và phát triển của
kinh tế Quảng Ninh, vừa có thể rút ra những kinh nghiệm để thực hiện tốt
hơn nữa chủ trương cũng như sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh. Đồng thời, đóng góp một phần nhỏ để làm rõ thêm bức tranh toàn
cảnh của lịch sử kinh tế tư nhân Quảng Ninh trong những năm 1991-2005.
2


Vì những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2005”
làm Luận văn tốt nghiệp, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

“Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước
ta hiện nay” [95], tác giả Hồ Văn Vĩnh đã nghiên cứu lý luận chung, nêu
bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Tác giả đã tổng kết vai trò to lớn của kinh tế tư nhân, phân tích thực trạng
hoạt động và mô hình quản lý của Nhà nước. Từ đó nêu ra những định
hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý Nhà nước với phát triển kinh tế
tư nhân.
“Quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay” [79],
Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Hữu Thắng. Tác giả đã nghiên cứu về
quan điểm, vai trò, ưu thế, hạn chế, đặc điểm kinh tế tư nhân ở Việt Nam.
Nội dung, phương thức tác động quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân,
kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trên thế giới. Từ đó,
đánh giá tình hình từ chiến lược, chính sách, kế hoạch và đề xuất một số
giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Một trong những công trình nghiên cứu nổi bật về vấn đề này là:
“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986
đến năm 2005” [18], Luận án Tiến sĩ thuộc chuyên ngành lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam của tác giả Phạm Thị Lương Diệu đã nghiên cứu quá
trình hình thành và phát triển tư duy của Đảng về vai trò, vị trí của kinh tế
tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới
(1986 - 2005). Trình bày sự tiến triển về quan điểm, chủ trương, đường lối,
chính sách phát triển, tổ chức thực hiện thông qua 3 giai đoạn: Thừa nhận
và cho phép kinh tế tư nhân phát triển trong những năm 1986-1989; Lãnh
đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1990 đến năm 1999; Đẩy mạnh phát
triển kinh tế tư nhân trong những năm 2000-2005. Bên cạnh đó, tác giả
4


luận án đã đưa ra nhận xét về ưu điểm cũng như hạn chế về sự lãnh đạo của

tư nhân và từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tư
nhân, đẩy nhanh quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Đức Chính (2011), Phát triển kinh tế tư nhân ở Bắc Ninh
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [9], Luận án Tiến sĩ Kinh tế. Tác
giả đã nghiên cứu quá trình tăng trưởng và phát triển của kinh tế tư nhân,
sự tương tác giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài, đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng của
kinh tế tư nhân.
Luận án Phó Tiến sĩ của Hồ Sỹ Lộc (1996), Kinh tế tư nhân ở Việt
Nam từ 1986 đến 1995 [56], tác giả đã khái quát tình hình phát triển kinh tế
tư nhân ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử (1954-1985) với các bước
thăng trầm từ khôi phục, phát triển đến cải tạo kinh tế tư nhân và đặc biệt
nghiên cứu sự phát triển kinh tế tư nhân một cách đầy đủ từ khi đổi mới
năm 1986 đến năm 1995.
Ngoài ra, khi nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh về vấn đề kinh tế - xã hội còn có một số công trình, bài viết cũng đề
cập đến. Các công trình đã góp phần quan trọng làm sáng rõ bức tranh kinh
tế chung từ khi đổi mới đất nước đến nay.
Tựu chung lại, kết quả quan trọng mà các công trình nghiên cứu cả 2
nhóm về kinh tế tư nhân đã đạt được: Các tác giả đã hệ thống hóa chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế tư nhân (đặc biệt
từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam), tiến hành phân tích vai trò, vị
trí của kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay. Trình bày, phân tích quá
trình phát triển để từ đó đưa ra các ưu điểm, hạn chế, khó khăn, giải pháp
và kinh nghiệm để đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân hơn nữa.
Những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đạt được đã là nguồn tư
liệu quý giá để tác giả tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu những chủ trương
6




+ Về mặt nội dung: Trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh trong phát triển kinh tế tư nhân trên cả 3 bộ phận kinh tế cá thể, tiểu
chủ và tư bản tư nhân.
+ Về mặt thời gian: là từ năm 1991 đến năm 2005. Mốc bắt đầu
nghiên cứu là năm 1991 - Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ IX đã
diễn ra với việc bắt đầu đưa ra nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến
kinh tế tư nhân, đánh dấu bước phát triển mới so với giai đoạn trước (19861991). Mốc kết thúc công trình nghiên cứu là năm 2005, giai đoạn chuẩn bị
cho Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII với nhiều kết quả đạt được trên lĩnh
vực kinh tế tư nhân. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến một số năm
trước và sau mốc thời gian nghiên cứu để thấy rõ hơn bức tranh phát triển
của thành phần kinh tế này dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.
+ Về không gian: nghiên cứu vấn đề trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu: Luận văn dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau
+ Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới có
liên quan đến phát triển kinh tế, kinh tế tư nhân.
+ Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của Đảng bộ
tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005.
+ Tài liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Thống kê tỉnh
Quảng Ninh từ năm 1991 đến năm 2005.
+ Các sách báo, tạp chí, luận văn, luận án và các tư liệu khác có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp lịch sử, phương
pháp lôgic. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê… nhằm xây dựng và tái hiện lại quá trình lãnh
đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh trong những
năm 1991-2005.
8

1.1. Các yếu tố tác động, chi phối đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ
nhân của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Quảng Ninh là một vùng đất đã có lịch sử từ lâu đời. Trải qua thời
đại từ các Vua Hùng dựng nước đến các triều đại phong kiến, Quảng Ninh
đã được gọi dưới nhiều tên khác nhau như Lục Hải, Hải Ninh, Ninh Hải,
Châu Hoàng, Lục Châu, Hải Đông. Với bề dày lịch sử lâu đời như vậy,
Quảng Ninh đã có nhiều di tích nổi tiếng như: Bãi cọc Bạch Đằng, Thương
cảng Vân Đồn, Khu quần thể các lăng vua Trần ở Đông Triều, núi Yên
Tử… đi vào lịch sử và trường tồn cùng thời gian.
Ngày 30/10/1963, tại kỳ họp thứ 7 (Quốc hội khóa II) đã nhất trí
thông qua Nghị quyết phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng
Quảng thành Quảng Ninh. Tên gọi Quảng Ninh là ghép hai chữ cuối của
Hồng Quảng và Hải Ninh do Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, “Quảng” có
nghĩa là rộng lớn, “Ninh” có nghĩa là yên ổn, bền vững. Như vậy, tên gọi
Quảng Ninh chính thức có hiệu lực từ năm 1963 với ý nghĩa là một vùng
đất rộng lớn và bền vững.
Về vị trí địa lý, Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc, phía Bắc giáp với
tỉnh Lạng Sơn và Trung Quốc, phía Tây giáp Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải
Phòng và Hải Dương, phía Nam và phía Đông giáp biển. Vị trí này rất
thuận lợi cho các hoạt động trao đổi, tiếp xúc kinh tế với các tỉnh lân cận và
Trung Quốc – nơi có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ. Quảng Ninh
nằm trong dải hành lang biển, có mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển
10


phát triển và đang được mở rộng. Đồng thời là cửa ngõ thông ra biển cho
nhiều tỉnh ở phía Bắc, các hoạt động vận chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế
với các tỉnh và thiết lập mối quan hệ không chỉ bằng đường bộ mà còn
bằng đường biển với các nước trong khu vực, quốc tế được diễn ra sôi nổi,

ngoài. Hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến thăm. Bên cạnh đó là
những tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với trữ lượng lớn như
than đá, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… Tuy nhiên, giàu có và nổi tiếng bậc
nhất là phải kể đến than đá, không một địa phương nào có được nguồn than
đá dồi dào đến như vậy. Đây cũng chính là thế mạnh của Quảng Ninh trong
việc phát triển ngành CN khai khoáng nói riêng và phát triển kinh tế nói
chung.
Phân chia đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 2 thị xã và
8 huyện: Thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí; Thị xã
Quảng Yên, Đông Triều; Huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, Cô Tô, Vân Đồn,
Hoành Bồ, Đầm Hà, Tiên Yên, Hải Hà.
Với vị trí địa lý thuận lợi cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, du lịch
hết sức phong phú, đa dạng là một trong những nguồn lực để phát triển
kinh tế nói chung và kinh tế tư nhân nói riêng. Khai thác và sử dụng có
hiệu quả, hợp lý nguồn tài nguyên này sẽ phụ thuộc vào các thành phần
kinh tế, trong đó triệt để và toàn diện nhất phải nói đến kinh tế tư nhân. Sự
góp mặt của thành phần này trên tất các các ngành nghề, lĩnh vực đã tận
dụng, phát huy tối đa lợi thế của tỉnh Quảng Ninh, tạo điều kiện, cơ sở thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc đưa
ra các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế ngày càng được thể hiện rõ
nét, nổi bật hơn. Cùng với Hà Nội và Hải Phòng, Quảng Ninh trở thành
một trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), Quảng Ninh bước vào giai
đoạn khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh. Năm
1979, chiến tranh biên giới nổ ra, nhân dân Quảng Ninh lại phải tiếp tục
12


đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc thêm một
lần nữa. Khắc phục hậu quả và chăm lo đời sống nhân dân là mục tiêu hàng

quốc gia.
Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng với chủ
trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ trọng
tâm, tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ
chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, thừa nhận sự tồn tại khách quan nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là giai đoạn đầu trong thời kỳ quá độ.
Đại hội đã chính thức xác lập cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
Nếu như Đại hội VI nền kinh tế tư nhân mới chỉ được thừa nhận là
một bộ phận tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần thì đến Đại hội VII kinh tế tư nhân đã thực sự được phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991) đã thể hiện rất rõ quan điểm của Đảng trong việc nhìn nhận lại về
kinh tế tư nhân “Phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh
tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có
phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên
nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh
doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do pháp luật quy
định” [25, tr. 230].
Cương lĩnh đã thể hiện thái độ thừa nhận của Nhà nước với thành
phần kinh tế tư nhân bằng một chính sách thông thoáng khuyến khích, tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho thành phần kinh tế này: “Kinh tế tư bản tư nhân
được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm. Nhà nước có thể liên doanh bằng
nhiều hình thức với tư nhân trong và ngoài nước. Nhà nước thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không
14




không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề
mà pháp luật không cấm. Nhà nước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức
với tư nhân trong và ngoài nước, hình thành loại DN thuộc thành phần tư
bản nhà nước. Kinh tế gia đình không là một thành phần kinh tế độc lập
nhưng được khuyến khích phát triển mạnh. Các DN thuộc các thành phần
kinh tế có thể liên kết thành các liên hiệp hoặc tập đoàn kinh doanh theo
nguyên tắc tự nguyện, trên cơ sở hiệu quả kinh tế và cùng có lợi. Nhà nước
thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt
đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa tư liệu
sản xuất, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động
có lợi cho quốc kế dân sinh” [25, tr. 249].
Thể chế hóa Cương lĩnh và các Văn kiện Đại hội Đảng, Nhà nước đã
ban hành hệ thống pháp luật cùng nhiều chính sách khuyến khích định
hướng khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân trong chiến lược phát triển
kinh tế chung. Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua hai bộ luật về DN tư nhân: Luật DN tư nhân
và Luật Công ty nhằm tạo cơ sở pháp lý để kinh tế tư nhân được bình đẳng
với mọi thành phần kinh tế khác. Hai bộ luật đã đánh dấu bước pháp lý đầu
tiên để kinh tế tư nhân ra đời và phát triển, khẳng định sự tồn tại của kinh tế
tư nhân ở Việt Nam.
Một bước tiến nữa là sự ra đời của Hiến pháp (1992), nền kinh tế
Việt Nam chính thức được thừa nhận là nền kinh tế nhiều thành phần. Hiến
pháp đã ghi nhận sự tồn tại và phát triển của kinh tế tư nhân. Sự ra đời của
Hiến pháp đã đáp ứng được nguyện vọng của người dân và DN. Một đặc
điểm nổi bật của Hiến pháp được thể hiện tại Điều 15: Nhà nước phát triển
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp đã đảm bảo cơ
sở pháp lý cho việc phát triển và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
16

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status