Đảng bộ tỉnh khánh hòa lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 23

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM 2001
ĐẾN NĂM 2005 11
1.1 Yêu cầu khách quan phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Khánh Hòa trong những năm 2001-2005 11
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005 22
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO
ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 37
2.1 Yêu cầu mới về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của
Khánh Hòa trong những năm 2006-2010 37
2.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2006-2010 43
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ
TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH
ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2010 58
3.1 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân 58
3.2 Kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế
biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa. 70
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 91
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biển được gọi là lục địa thứ sáu của trái đất, là cánh cửa nền kinh tế
của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngày nay, điều kiện nguồn tài nguyên

động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa trong
những năm qua.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc phát triển kinh
tế biển của tỉnh Khánh Hòa những năm qua còn bộc lộ một số hạn chế yếu
kém, chưa ngang tầm với yêu cầu, tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh. Vì vậy
nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo phát triển kinh tế
biển, đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm, từ đó đề xuất những chủ
trương, biện pháp cụ thể để tiếp tục phát triển kinh tế biển không chỉ là một
yêu cầu cơ bản mà còn là vấn đề cấp bách đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân
tỉnh Khánh Hòa hiện nay.
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Khánh
Hòa lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam với
mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé đáp ứng yêu cầu nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu biển nói chung,
nghiên cứu phát triển các ngành kinh tế biển nói riêng có liên quan đến đề tài
đã được công bố.
Những công trình đề cập chung đến biển, đảo Việt Nam có các tác phẩm:
Công ước biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam do Nguyễn Hồng
Thao (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Trong đó, tác
phẩm đánh giá vị thế chiến lược và nguồn tài nguyên biển của nước ta, đồng
thời quá trình nước ta thực hiện công ước về biển của quốc tế năm 1982. Ô
nhiễm môi trường biển Việt Nam-lý luận và thực tiễn của Nguyễn Hồng Thao,
4
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Tác giả đã đề cập đến vấn đề ô
nhiễm môi trường biển Việt Nam, nhất là các vùng nuôi trồng thủy sản và các
khu du lịch biển. Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008. Tác phẩm này đã đề cập đến vị trí vai trò tiềm năng của biển và kinh tế

Quốc phòng toàn dân, số 9,10 và 11/2008.
Nhìn chung, các bài báo trên đã phân tích khá kỹ về tình hình phát triển
kinh tế biển gắn với củng cố quốc phòng-an ninh, đồng thời phân tích hiện
trạng phát triển kinh tế biển Việt Nam, tuy nhiên các bài báo trên đều chưa đề
cập đến phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa.
Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến
nghiên cứu kinh tế biển Việt Nam, đáng chú ý là:
Sức mạnh về chiến lược trên biển của Trung Quốc của John Wilson
Lewis Xue Litai. Quyền lực trên biển của nhà nước của Gorshkov- cựu Tư
lệnh Hải quân Liên Xô đã chỉ rõ, thực chất quyền lực trên biển của nhà nước
là biết lợi dụng có hiệu quả nhất khả năng trên các biển của thế giới để phục
vụ cho lợi ích quốc gia.
Khai thác trên mạng Internet, còn khá nhiều các bài viết của các tác giả
nước ngoài đề cập đến các khía cạnh khác nhau về vấn đề tăng cường khả
năng phòng thủ trên biển để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế
biển của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong số đó, đáng chú ý là các bài:
Tống Yên Hung (1998) với “Trung Quốc lập pháp biển từng bước dồn ép các
nước”; Vijay Sakhuja (2001) với “Sức mạnh kinh tế biển của Trung Quốc”;
Andrew Kennedy (2003) với “Tình hình an ninh ở khu vực Biển Đông”;
James A.Boutilier (2003) với “Bức tranh về xung đột và hợp tác ở khu vực
biển châu Á”; A.Stalbov (2005), “Hoạt động kinh tế-quốc phòng của Nga
trong việc khai thác vùng biển khu vực”.
6
Tất cả các bài viết tập trung bàn về vấn đề an ninh, xung đột chủ quyền
biển và xu hướng hợp tác, tăng cường sức mạnh quân sự trên biển. Các vấn đề
phát triển kinh tế biển chưa được đề cập đến.
Nghiên cứu về kinh tế biển của Tỉnh có các công trình đáng chú ý sau:
Khánh Hòa - Nha Trang một tiềm năng một hiện thực, Vũ Ngọc
Phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Lưới đăng - nghề
biển truyền thống ở Khánh Hòa, Nguyễn Viết Trung - Hội văn hóa nghệ thuật

hiệu quả kinh tế biển, kết hợp pháp triển kinh tế biển với bảo vệ Tổ quốc.
Doãn Đình Tráng: Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh
tế kết hợp với củng cố quốc phòng từ năm 1996 đến năm 2005, luận văn thạc
sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2009. Luận văn đã phân tích,
luận giải, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát
triển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, trình bày kết quả, nguyên nhân,
rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế với củng
cố quốc phòng từ năm 1996 đến năm 2005. Nguyễn Văn Dung: Tác động của
phát triển kinh tế thuỷ sản ở Khánh Hoà đến xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh
trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị
quân sự, Hà Nội, 2009. Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng tác động
của phát triển kinh tế thủy sản tới xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh Khánh
Hòa, đồng thời đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác
động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thủy
sản đến xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra thông tin về kinh tế biển Khánh Hòa còn có một số bài viết
trên các báo cáo của Chính phủ, các tập san, báo địa phương, các trang web
của Tỉnh và Chính phủ.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều trình bày những vấn đề
khái quát có liên quan đến biển hoặc kinh tế biển của Khánh Hòa. Tuy nhiên
chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào quá trình lãnh đạo phát triển các
ngành kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh cũng như quá trình phát triển một cách
8
cụ thể của từng ngành kinh tế biển của địa phương. Vì vậy đề tài là công trình
nghiên cứu độc lập của tác giả không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học
nào đã được công bố.
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Làm rõ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh
Khánh Hòa từ năm 2001 đến năm 2010. Từ đó, đánh giá thành tựu, hạn chế

kê, khảo sát thực địa, chuyên gia để làm rõ từng vấn đề cụ thể của đề tài.
6. Ý nghĩa của luận văn
Đề tài bước đầu cung cấp một cách hệ thống quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 2001 đến năm 2010.
Đánh giá thành tựu, hạn chế, nêu ra những kinh nghiệm và giải pháp, góp
phần xây dựng cơ sở cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển
kinh tế biển trong giai đoạn tiếp theo.
Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu phát triển kinh tế
biển các tỉnh ven biển và công tác tuyên truyền, giáo dục trong tỉnh Khánh
Hòa. Đồng thời làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy môn lịch sử
Đảng nói chung và lịch sử Đảng bộ địa phương nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: mở đầu, ba chương (6 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
10
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Yêu cầu khách quan phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa
trong những năm 2001-2005
1.1.1. Điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa
* Điều kiện tự nhiên
Khánh Hòa nằm ở vị trí cực Đông của đất nước, trải dài theo hướng Bắc-
Nam trên 120 km theo đường chim bay, bờ biển dài 385 km, có gần 200 đảo lớn
nhỏ gần bờ và trên 100 đảo, bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa. Đặc biệt có
3 vịnh nổi tiếng là vịnh Vân Phong nằm cách thành phố Nha Trang khoảng 80
km về phía Bắc. Đây thực sự là một kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hòa, bãi
biển đẹp, cát mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh có thể tổ chức nhiều loại hình du
lịch thể thao dưới nước và trên núi. Vịnh Cam Ranh dài 20 km, chỗ rộng nhất 10
km, sâu trung bình 18,2 m, cửa vịnh thông ra biển rộng 3 km, có đảo Bình Ba án

giá trị chiến lược về hàng hải và quốc phòng-an ninh đang là lợi thế to lớn để
phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa.
Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy dọc theo địa phận Tỉnh,
nối Khánh Hòa với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Quốc lộ 26 nối Khánh
Hòa với các tỉnh Tây Nguyên. Tỉnh lộ 723 nối Khánh Hòa với Lâm Đồng.
Nhiều cảng biển nước sâu như: cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, cảng
Nha Trang, cảng Cam Ranh…có vai trò vừa là cảng trung chuyển thương mại
quốc tế, vừa là cảng du lịch đưa đón khách quốc tế đến Nha Trang.
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có lợi thế về tài nguyên biển.
Khánh Hòa có 8 cửa lạch, 10 đầm, 2 bán đảo và trên 200 đảo lớn, nhỏ thuận
lợi cho nghề cá ven bờ, phát triển du lịch và giao thông đường thủy. Khánh
Hòa là tỉnh có vùng đất nằm nhô ra xa nhất về phía Đông ở nước ta, gần
đường hàng hải quốc tế, thuận lợi cho vận tải tàu biển và dịch vụ đường thủy.
Theo số liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu biển, Khánh Hoà có tổng
trữ lượng hải sản khoảng 92.000-110.000 tấn, trong đó cá nổi chiếm tới 70%
tổng trữ lượng. Ngoài cá, vùng biển Khánh Hoà còn có các nguồn lợi khác
như: tôm, cua, ghẹ, ruốc, mực, sứa, rong biển Đặc biệt yến sào là sản vật có
giá trị xuất khẩu cao, được coi là “vàng trắng” ở nước ta. Tuy nằm trong khu
vực duyên hải Nam Trung Bộ, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
nhưng khí hậu ở Khánh Hòa rất ôn hòa, quanh năm nắng ấm, mát mẻ, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 26
0
C, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa
12
khô, ít chịu ảnh hưởng của gió, bão. Đây là điều kiện lý tưởng cho du lịch,
nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe, nhất là du lịch biển, đảo.
Mặc dù biển Khánh Hòa là một trong những vùng biển có nhiều tiềm
năng nhất nước ta, song đây cũng là vùng biển có mức độ “dễ bị tổn thương”
cao. Là vùng biển nằm giữa đất nước, là trung tâm giao thông đường thủy trên
thế giới và khu vực, biển Khánh Hòa lại có nhiều “dòng rút” nguy hiểm, do

Văn hóa: Khánh Hòa là địa phương giàu truyền thống văn hóa bao
gồm các dân tộc Kinh, Rag Lai, Hoa, Gie Trieng,…Mỗi dân tộc mang đậm
bản sắc văn hóa của dân tộc mình làm giàu cho nền văn hóa chung của tỉnh
thể hiện qua lễ hội, trang phục, điệu múa, đàn đá Khánh Sơn có từ lâu đời và
được lưu truyền cho đến ngày nay.
Giáo dục: Với phương châm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Khánh
Hòa rất chú trọng đến giáo dục, mở mang dân trí nâng cao trình độ hiểu biết
cho người dân. Khánh Hoà hiện có trên 20 cơ quan khoa học kỹ thuật và đào
tạo của Trung ương đóng trên địa bàn, trong đó có những cơ quan khoa học
lớn liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế biển như: Viện Hải dương học,
Trường Đại học Thuỷ sản (nay là trường Đại học Nha Trang), Viện Nghiên
cứu thuỷ sản III, Đài Khí tượng thuỷ văn khu vực Nam Trung Bộ, Phân viện
quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Trung, Học viện Hải quân.
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có tiềm năng và điều kiện để phát
triển các ngành kinh tế biển. Nhận thấy thế mạnh của biển, từ năm 2001 đến
năm 2010, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã quán triệt sâu sắc đường lối, chính
sách phát triển kinh tế biển của Đảng, Nhà nước, mạnh dạn đẩy mạnh đầu tư
và kêu gọi đầu tư để phát triển kinh tế biển, hiện nay mới tập trung để hiện đại
hóa quy trình chế biến hải sản, đánh bắt hải sản xa bờ, du lịch biển.
1.1.2. Đường lối, chính sách phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nước
* Khái niệm kinh tế biển
Kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển
chủ yếu là: Kinh tế hàng hải (vận tải biển và du lịch cảng biển); Hải sản (đánh
14
bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làm
muối, dịch vụ tìm kiếm cứu hộ cứu nạn; Kinh tế đảo. Có thể coi đây là quan
niệm về kinh tế biển theo nghĩa hẹp.
Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển tuy không
diễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này đều phải nhờ vào yếu tố
biển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biển

thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc
đẩy các vùng khác phát triển. Xây dựng một số căn cứ hậu cần ở một số đảo
để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh
trên biển [17, tr.715].
Đối với Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung (trong đó có Khánh Hòa) Đảng chỉ đạo:
Phát huy lợi thế biển và ven biển, khai thác có hiệu quả các tuyến
đường trục Bắc-Nam, các tuyến đường ngang, các tuyên đường xuyên Á, các
cảng biển. Hình thành khu công nghiệp ven biển, khu công nghiệp thương
mại, thương mại tổng hợp…phát triển du lịch biển và ven biển, gắn liền với
các khu di tích, danh lam thắng cảnh của cả vùng [17, tr.718].
Để khai thác triệt để nguồn tài nguyên biển, Đại hội IX của Đảng đã chỉ
đạo các tỉnh trong đó có Khánh Hòa vạch ra định hướng phát triển kinh tế
biển và an ninh quốc phòng trên biển phù hợp với tình hình của từng tỉnh.
1.1.3. Tình hình phát triển kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa trước
năm 2001
Dựa vào thế mạnh của địa phương, tỉnh Khánh Hòa rất quan tâm đến
phát triển kinh tế biển. Thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 22/9/1997 của
Bộ Chính trị (khóa VIII) về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã đề ra Chương trình
hành động phát triển kinh tế thủy sản đến năm 2000 và một số dự án về phát
triển du lịch biển, giao thông vận tải. Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh đã
soạn thảo “Chương trình kinh tế biển giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010”,
trong đó nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2010, xây dựng Khánh Hòa trở thành
16
tỉnh mạnh về kinh tế biển, có kinh tế hướng về xuất khẩu với một số ngành
kinh tế mũi nhọn, có công nghệ hiện đại, có giá trị xuất khẩu lớn tạo tích lũy
cao và ổn định, đóng góp lớn cho kinh tế tỉnh nhà. Xây dựng kinh tế xã hội
vùng biển, đảo ven biển trở thành vùng phát triển năng động, thúc đẩy các
vùng trong cả nước phát triển.

Chế biến thủy sản: Thời kỳ 1996-2000, mặc dù thị trường Châu Á biến
động nhưng ngành thủy sản đã hoàn thành kim ngạch xuất khẩu đạt 311.482
triệu, tốc độ bình quân 8%. “Trong năm 1999-2000 các doanh nghiệp tập
trung nâng cấp và xây dựng mới với tổng kinh phí hơn 60 tỷ đồng, trong đó
F17 được xét đề nghị cấp giấy phép xuất khẩu hàng thủy sản vào liên minh
châu Âu” [51, tr.5]. Nhưng vấn đề khó khăn nhất hiện nay là bố trí mặt bằng
các doanh nghiệp thuộc diện di dời ra khỏi thành phố Nha Trang chưa được
triển khai, mặt khác có một số doanh nghiệp đã đầu tư cho hệ thống xử lý
nước thải đạt kết quả tốt, nhưng vẫn còn một số doanh nghiệp khác chưa triển
khai hệ thống nước thải đạt yêu cầu.
Dịch vụ hậu cần: Năm 1998, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định thành
lập công ty quản lý Cảng cá Khánh Hòa. Các bến cá hiện tại được nâng cấp:
Cù Lao, Vĩnh Trường. Cảng cá Hòn Rớ bước đầu được hình thành, khu công
nghiệp chế biến thủy sản Bắc Hòn Ông (Nha Trang), khu nuôi tôm theo
chương trình 773 như ở Lệ Cam-Hang Dơi (Ninh Hòa), Cam Lập (Cam
Ranh), hệ thống các đại lý thức ăn, thuốc cho tôm cá, dịch vụ đóng, sửa chữa
tàu thuyền vỏ gỗ hình thành.
Yến sào là nguồn lợi quý hiếm mà thiên nhiên ưu đãi cho Khánh Hòa
đã thực sự tham gia vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh.
“Sản lượng hàng năm ngày càng ổn định từ 2000-2050 kg với giá trị khoảng
3-3,2 triệu USD” [51, tr.5].
Nhìn chung sau những năm đổi mới, ngành thủy sản Khánh Hòa đã ứng
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào nuôi trồng thủy sản
18
dẫn đến chất lượng và giá trị các sản phẩm trong xuất khẩu ngày càng cao.
Mặt khác nuôi trồng thủy sản đã đóng góp đáng kể vào việc chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình, hạn
chế đánh bắt ven bờ, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy
nhiên trong lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản vẫn còn mang
tính tự phát, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nếu không tiến

độ đầu tư các dự án du lịch biển trên một số địa bàn còn chậm. Vấn đề ô
nhiễm môi trường nước biển và bờ biển Nha Trang chưa được giải quyết triệt
để. Nguồn nhân lực của ngành du lịch còn thiếu và yếu đặc biệt về trình độ
ngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Đức. Bên cạnh đó Khánh Hòa đang đứng
trước những thách thức cạnh tranh rất mạnh từ các tỉnh lân cận như Bình
Thuận, Hội An-Quảng Nam, từ các quốc gia trong khu vực có kinh nghiệm và
thương hiệu du lịch như Thái Lan, Indonesia. Chính điều này đòi hỏi tỉnh
Khánh Hòa cần có những chủ trương, chính sách thúc đẩy kinh tế du lịch biển
phát triển để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh.
Ngành giao thông vận tải biển
Vùng biển Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế (vịnh Cam
Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển) nên có nhiều điều kiện
phát triển giao thông biển. Khánh Hòa có nhiều vũng vịnh đều là những vịnh
nước sâu, tương đối kín gió, thuận lợi cho xây dựng cảng nước sâu đón tàu
trọng tải lớn. Khánh Hòa có 3 cảng biển quốc tế: cảng Nha Trang, Ba Ngòi,
Đầm Môn ngoài ra còn có các cảng Hải quân, cảng Hòn Khói tham gia bốc
xếp hàng hóa nhập khẩu trong và ngoài nước. Cảng Nha Trang có năng lực
bốc xếp lớn nhất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa: “Độ sâu trước bến từ 8,5-9 m
phù hợp cho tàu có trọng tải đến 20.000 tấn cập cầu bốc xếp; sản lượng hàng
hóa thông qua cảng bình quân hàng năm (1996-2000) 484.000 tấn/năm; sản
lượng hàng hóa thông qua cảng năm 2000 là 550.000 tấn” [51, tr.7]. Ngoài ra
hàng năm cảng còn tiếp đón khách du lịch. Cảng Ba Ngòi có sản lượng hàng
hóa thông qua hàng năm khoảng 920.000 tấn/năm.
20
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, những năm gần đây du lịch biển phát
triển đã mở ra nghề vận tải phục vụ du lịch biển.
Năm 1997, tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam và tập đoàn
Hyundai của Hàn Quốc đã liên doanh cho ra đời nhà máy sửa chữa và đóng
mới tàu Hyundai-Vinashin. Cũng thời điểm này, xí nghiệp đóng tàu Khánh
Hòa đã sáp nhập vào tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam.

Du lịch là một trong những thế mạnh của Tỉnh từng bước phát triển đa
dạng các loại hình, nhất là khai thác du lịch biển đảo, du lịch sinh thái tiếp tục
tăng cường cơ sở vật chất, doanh thu du lịch tăng bình quân hành năm 17,4%.
Trước năm 2001 kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa có bước phát triển
đáng kể, đang phát huy vai trò to lớn trong nền kinh tế của Tỉnh, đã giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, cơ cấu hạ tầng cơ sở bước đầu
hình thành, các thành phần kinh tế xã hội đã kết hợp tốt với quốc phòng-an
ninh, nhiều đảo xa đất liền đã có lưới điện quốc gia. Đó là những tiền đề vô
cùng quan trọng để Tỉnh tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế biển trong những
năm tiếp theo.
1.2. Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ
tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005
1.2.1. Chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh
Hòa trong những năm 2001-2005
Chương trình kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005 và
2006-2010 xác định kinh tế biển là sự tổng hợp của ba ngành kinh tế: kinh tế
thủy sản, du lịch biển, giao thông vận tải biển.
Từ đường lối chỉ đạo chung của Đảng và Nhà nước cùng với những
thành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế của tỉnh Khánh Hòa trước năm
2001, Đảng bộ tỉnh đã chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế biển từ năm
2001-2005.
22
Quán triệt Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ Chính trị về nhiệm vụ kinh tế
biển và Chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển đảo,
Tỉnh ủy đã xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV
(2001-2005) về phát triển kinh tế biển, Tỉnh ủy đã xác định Chương trình kinh
tế biển tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005 là một trong những chương trình
kinh tế -xã hội trọng điểm của Tỉnh.
Mục tiêu tổng quát:
Tập trung đầu tư tạo bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế biển, đạt

sở hoàn thành tốt Chương trình kinh tế biển của Tỉnh.
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và phương hướng chung, Đảng bộ và
nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tập trung nguồn lực khai thác và phát huy hiệu
quả những tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, nhất là trong lĩnh vực
thủy sản; du lịch biển, đảo; giao thông vận tải biển với cơ cấu ngành nghề
phong phú và từng bước hiện đại. Chương trình kinh tế biển của Tỉnh ngày
càng được hình thành rõ nét tạo nền tảng cho giai đoạn tiếp theo.
Giải pháp:
Để Khánh Hòa thực sự trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển, Tỉnh
ủy xác định những giải pháp sau:
Quy hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản, quy hoạch du lịch tuyến biển
đảo; quy hoạch các bến đò thành thể thống nhất, các yếu tố này hỗ trợ với
nhau để kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững quốc phòng, an ninh biển đảo.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lựa chọn để nhanh chóng áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào kinh tế biển, xây dựng các cơ chế
khuyến khích nghiên cứu những ứng dụng khoa học, có những chính sách ưu
đãi về vốn, về thuế để các cơ sở sản xuất áp dụng, chuyển giao nghệ mới đặc
biệt là công nghệ sinh học.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về nguồn lợi thủy sản,
môi trường sinh thái, tăng cường công tác quản lý, kiên quyết xử lý nghiêm
24
minh những hành vi làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, duy trì kế
hoạch hàng năm thả tôm giống, cá giống ra biển để tái tạo nguồn lợi, có kế
hoạch khôi phục rừng ngập mặn, thực hiện tốt dự án thí điểm khu bảo tồn
biển Việt Nam.
Tăng cường công tác quản lý biển, lực lượng dân quân tự vệ biển, bố
trí các công trình, các điểm dân cư đáp ứng nhu cầu dân sinh và quốc phòng
thời bình và thời chiến; đầu tư thỏa đáng cho các lực lượng làm nhiệm vụ
quản lý biển, đảo về trang bị tàu thuyền, thông tin liên lạc. Khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế biển; ban hành

“Tập trung đưa công nghệ mới vào đánh bắt, nuôi trồng và chế biến
nhằm tăng hiệu quả kinh tế; chú ý quy hoạch diện tích đất làm muối một cách
phù hợp”[39, tr.1]. Cải tạo, nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đều đạt được
tiêu chuẩn ngành số 28TCN130/1998. Phấn đấu toàn tỉnh Khánh Hòa có ít
nhất hai đơn vị đạt tiêu chuẩn của doanh nghiệp sản xuất hàng thủy sản vào
thị trường liên minh châu Âu.
Đối với ngành du lịch biển
Phát triển du lịch biển phải gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia
là nhiệm vụ của các cấp các ngành, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân.
Phát triển du lịch biển để khai thác nguồn lợi tự nhiên trên biển nhằm
đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí nghỉ dưỡng để phục hồi sức khỏe của nhân
dân và khách du lịch quốc tế góp phần làm giàu cho nền kinh tế của Tỉnh.
Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, bồi đắp
và làm giàu thêm nguồn tài nguyên biển.
Phát triển du lịch biển để góp phần đưa ngành du lịch của tỉnh nhà trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới.
26

Trích đoạn Thành tựu và nguyờn nhõn Hạn chế-nguyờn nhõn Kinh nghiệm từ quỏ trỡnh lónh đạo phỏt triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khỏnh Hũa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status