đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo, phát triển kinh tế dịch vụ từ năm 1997 2005 t - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Nguyễn Xuân Hải

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng, phát triển
kinh tế dịch vụ từ năm 1997 đến năm 2005

Luận văn ThS. Lịch sử: 60.22.56

Nghd. : PGS.TS. Ngô Đăng Tri


4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế dich vụ là ngành kinh tế cung ứng các dịch vụ trong các lĩnh
vực sản xuất vật chất, văn hoá, tinh thần, có vai trò và tác dụng rất lớn đối
với sự phát triển kinh tế, xã hội. Trong thời kỳ đất nƣớc đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quán triệt đƣờng lối, định hƣớng
phát triển kinh tế dịch vụ theo hƣớng đa dạng hoá, mở rộng thị trƣờng tiêu
dùng các sản phẩm dịch vụ của Đảng, các ngành kinh tế dịch vụ đã đáp ứng
tốt nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân.
Trong những năm 1995-2005, giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ trung
bình tăng trên 7,5%/năm. Trong cơ cấu nền kinh tế, tỷ trọng ngành kinh tế
dịch vụ ngày càng tăng, đến năm 2005, tỷ trọng các ngành dịch vụ trong
GDP chiếm 38,1%(1).
Đƣợc tái lập từ năm 1997, cho đến nay, tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt đƣợc
những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội. Phát
huy ƣu thế là một tỉnh cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, gần sân

các địa phƣơng khác trong cả nƣớc.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh

Phúc lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế dịch vụ từ năm 1997 đến
năm 2005” làm luận văn thạc sĩ Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, các ngành kinh tế nói chung, kinh tế dịch vụ nói riêng
đã có những bƣớc phát triển mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình lãnh
đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế dịch vụ trở thành đề tài hấp dẫn đƣợc
nhiều ngƣời quan tâm. Trên phạm vi cả nƣớc đã có nhiều công trình của


6

các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau. Vấn đề
kinh tế dịch vụ Vĩnh Phúc cũng có một số công trình nghiên cứu. Có thể
chia thành 3 nhóm công trình sau:
Nhóm thứ nhất là các công trình chung, tiêu biểu là các cuốn sách:
Những nguyên tắc Lêninít trong công tác Đảng lãnh đạo xây dựng kinh tế
(Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1981); Đoàn Duy Thành: Đảng lãnh đạo
kinh tế và đảng viên làm kinh tế (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002); Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam (Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004); Nguyễn Minh Tú: Việt Nam trên chặng
đường đổi mới và phát triển kinh tế (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2002) v.v. Những tác phẩm này chủ yếu đề cập đến quan điểm, chủ
trƣơng, đƣờng lối lãnh đạo xây dựng phát triển các ngành kinh tế của Đảng,
trong đó có nội dung về lãnh đạo phát triển kinh tế dịch vụ, một vấn đề rất
cần thiết mà luận văn có thể kế thừa đƣợc khi giải quyết đề tài.

- Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trình bày một cách hệ thống
quá trình Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh tế dịch vụ
từ năm 1997 đến năm 2005. Thông qua đó, nêu lên những thành tựu, hạn
chế và rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng, phát triển kinh
tế dịch của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong những năm 1997-2005.
- Nhiệm vụ:
Sƣu tập và hệ thống hoá các tƣ liệu lịch sử liên quan đến vấn đề
Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế dịch vụ Vĩnh Phúc trong
những năm 1997-2005, trên cơ sở đó trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ
Vĩnh Phúc đối với vấn đề này.
Nêu lên những thành tựu, hạn chế trong lãnh đạo xây dựng, phát
triển kinh tế dịch vụ của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong những năm 1997-2005


8

và rút ra một số kinh nghiệm để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế dịch
vụ ở Vĩnh Phúc hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những nhận thức, chủ trƣơng,
sự chỉ đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong lĩnh vực xây dựng, phát triển kinh
tế dịch vụ và những thành tựu, hạn chế, kinh nghiệm trên lĩnh vực này của
Đảng bộ Vĩnh Phúc trong những năm 1997-2005.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: lĩnh vực kinh tế dịch vụ bao gồm rất nhiều ngành:
thƣơng mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, bƣu chính - viễn thông, dịch vụ
vận tải, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ pháp lý, dịch vụ khoa học công nghệ,
dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ thể dục - thể thao,… Nội dung của luận văn chỉ

tế để đánh giá tình hình với những số liệu đã đƣợc khẳng định.
6. Đóng góp của luận văn
Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo xây dựng, phát
triển kinh tế dịch vụ từ năm 1997 đến năm 2005 của Đảng bộ Vĩnh Phúc.
Nêu lên một số kinh nghiệm của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong lãnh đạo
xây dựng phát triển kinh tế dịch vụ những năm 1997- 2005.
Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu
lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và lịch sử Đảng nói chung trên
lĩnh vực lãnh đạo phát triển kinh tế dịch vụ.


10

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong xây dựng,
phát triển kinh tế dịch vụ từ năm 1997 đến năm 2000
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong xây dựng,
phát triển kinh tế dịch vụ từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu


11

Chương 1
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC TRONG
XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1. TÌNH HÌNH KINH TẾ DỊCH VỤ VĨNH PHÚC TRƢỚC NĂM 1997

trấn Sơn Tây và Hƣng Hoá. Đến thời nhà Nguyễn, năm 1821, vua Minh
Mạng chia cả nƣớc thành 30 tỉnh, Vĩnh Phúc lúc đó có tên đơn vị hành
chính là phủ Vĩnh Tƣờng, trực thuộc tỉnh Sơn Tây. Sau đó, hai huyện Yên
Lãng và Yên Lạc đƣợc tách ra đặt thành phủ Vĩnh Tƣờng (tƣơng ứng với
địa phận tỉnh Phúc Yên).
Dƣới thời Pháp thuộc, ngày 20-10-1890, Toàn quyền Đông Dƣơng ra
Nghị định thành lập đạo Vĩnh Yên, bao gồm vùng đất của huyện Bình
Xuyên và các huyện của phủ Vĩnh Tƣờng: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam
Dƣơng, Yên Lạc, Yên Lãng. Đến tháng 4 năm 1891, Toàn quyền Đông
Dƣơng ra Nghị định bãi bỏ đạo Vĩnh Yên, sáp nhập toàn bộ vùng đất này
vào tỉnh Sơn Tây. Tháng 12 năm 1899, trên cơ sở vùng đất của đạo Vĩnh
Yên cũ, Toàn quyền Đông Dƣơng ra Nghị định thành lập tỉnh Vĩnh Yên,
tỉnh lỵ đặt tại làng Tích Sơn (Tam Dƣơng).
Ngày 06-10-1901, Toàn quyền Đông Dƣơng ra Nghị định thành lập
tỉnh Phù Lỗ, bao gồm các phủ, huyện cắt từ Bắc Ninh sang là phủ Đa Phúc,
huyện Kim Anh, huyện Đông Khê và phủ Yên Lãng cắt từ tỉnh Vĩnh Yên
sang, tỉnh lỵ đặt tại làng Phù Lỗ (huyện Kim Anh). Đến tháng 02-1904
chuyển về tổng Bạch Trữ (phủ Yên Lãng) và chính thức có tên gọi Phúc Yên.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nƣớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời, chính quyền mới tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành
chính cho phù hợp, theo đó phủ đƣợc đổi thành huyện, xoá bỏ cấp tổng, đặt


13

lại cấp xã (làng hoặc xã cũ đƣợc đặt lại là thôn). Tỉnh Vĩnh Yên lúc đó có 6
huyện là: Vĩnh Tƣờng, Bạch Hạc, Bình Xuyên, Lập Thạch, Tam Dƣơng,
Yên Lạc với 352 làng xã. Tỉnh Phúc Yên có 5 huyện là: Đa Phúc, Kim
Anh, Yên Lãng, Vĩnh Linh, Đông Anh với 221 làng xã.
Nhằm tăng cƣờng sự chỉ đạo phong trào đấu tranh vùng địch hậu,

Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài và nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng
điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), là địa bàn chuyển tiếp
với các tỉnh miền núi phía Bắc và thị trƣờng Trung Quốc rộng lớn. Đây là
những điều kiện rất thuận lợi để Vĩnh Phúc phát triển cả nông nghiệp, công
nghiệp và đặc biệt là phát triển các ngành kinh tế dịch vụ, tiến tới xây
dựng, phát triển một nền kinh tế toàn diện.
Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú,
cho phép Vĩnh Phúc có thể phát triển nền kinh tế đa dạng, đáp ứng đƣợc
nhu cầu của nhân dân trong tỉnh và trao đổi, giao thƣơng với các địa
phƣơng khác. Diện tích đất nông nghiệp chiếm 46,4%, khí hậu nhiệt đới
gió mùa, có vùng đất đồi thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị
kinh tế cao nhƣ chè, sơn, cà phê, là điều kiện tự nhiên lý tƣởng để phát
triển ngành nông nghiệp. Vĩnh Phúc còn có nguồn tài nguyên khoáng sản
phong phú: mỏ sắt, mỏ thiếc, đá quý ở Tam Đảo, mỏ than ở Lập Thạch, cao
lanh dọc sông Lô, … để phát triển công nghiệp khai thác. Từ sự phát triển
đó, Vĩnh Phúc sẽ có những điều kiện để đẩy mạnh phát triển các ngành kinh
tế dịch vụ.
Vĩnh Phúc nằm trên địa bàn chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng,
là vùng có các điều kiện tự nhiên của 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du,
miền núi với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, di tích lịch sử. Đây rõ
ràng là điều kiện quan trọng để Vĩnh Phúc phát triển ngành du lịch.
(1)

Đến nay (2007), tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính, gồm Thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc

Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Tam Dƣơng, Vĩnh Tƣờng, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo, Mê Linh.


15



Để tăng cƣờng vai trò lãnh đạo của Đảng ở các địa phƣơng và thống
nhất chỉ đạo các cơ sở đảng và tổ chức quần chúng đồng thời dựa vào mối
quan hệ gắn bó giữa phong trào cách mạng hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên,
tháng 3-1940, Ban cán sự liên tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên (lúc đó gọi là Ban
vận động liên tỉnh) đƣợc thành lập. Tuy nhiên, trƣớc những biến chuyển
của tình hình mới, tháng 8-1940, Ban Cán sự tỉnh Vĩnh Yên đƣợc ra đời,
tiếp sau đó Ban cán sự tỉnh Phúc Yên cũng đƣợc thành lập vào cuối năm
1941. Do đó, Ban cán sự liên tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên không tồn tại nữa.
Đây là mốc đánh dấu bƣớc chuyển biến về chất trong công tác xây dựng
Đảng và phong trào cách mạng của tỉnh. Từ đây, dƣới sự lãnh đạo thống
nhất của một cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh là Ban cán sự tỉnh, các phong trào
đấu tranh chính trị rộng lớn đã diễn ra có tổ chức hơn. Qua những cuộc đấu
tranh đó, Đảng bộ đã xây dựng đƣợc đội quân chính trị rộng lớn ở khắp
thành thị và nông thôn trong tỉnh, Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể cứu
quốc đƣợc thành lập và không ngừng mở rộng. Khi thời cơ đến đã lãnh đạo
họ vùng lên đấu tranh, cùng với nhân dân cả nƣớc tiến hành cuộc cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân.
Bƣớc vào thời kỳ độc lập, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dƣơng, Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên đã đẩy
mạnh công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng; đấu tranh
chống quân Tƣởng và tay sai; không ngừng xây dựng lực lƣợng, vừa kháng
chiến kiến quốc, bƣớc đầu chống địch càn quét. Cùng với sự ra đời của tỉnh
Vĩnh Phúc (ngày 12-2-1950), trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Yên và
Phúc Yên, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc cũng chính thức đƣợc thành lập. Trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Vĩnh Phúc đã giành đƣợc
những thắng lợi to lớn nhƣ trận Khoan Bộ trong chiến dịch Việt Bắc - Thu
Đông năm 1947, trận Xuân Trạch năm 1950 và trận Núi Đanh năm 1951.




18

lƣợc của Đảng vào thực tiễn địa phƣơng qua từng thời kỳ lịch sử. Quá trình
hình thành và phát triển của Đảng bộ đã ghi nhận sự cống hiến và hy sinh
của nhiều tấm gƣơng cán bộ đảng viên nhƣ: Lê Xoay, Lê Thanh, Trần Cừ,
Nguyễn Viết Xuân, Kim Ngọc... Đồng thời, quá trình đó đã khẳng định vai
trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân các
dân tộc trong tỉnh.
Bƣớc vào những năm đầu thế kỷ XXI, phát huy truyền thống yêu
nƣớc và cách mạng của quê hƣơng, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã lãnh đạo nhân dân bƣớc đầu thu
đƣợc nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế,
từng bƣớc thực hiện thắng lợi mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh khi
Ngƣời về thăm tỉnh: phải làm cho Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh
giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nƣớc ta.
1.1.2. Tình hình kinh tế dịch vụ Vĩnh Phúc trƣớc năm 1997
Sau 10 năm cả nƣớc cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã
đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế
- xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế, các lĩnh vực xã hội lâm vào tình trạng
khủng hoảng sâu sắc, trong khi đó, các thế lực đế quốc tăng cƣờng bao vây
cấm vận, thực hiện âm mƣu “Diễn biến hoà bình” làm cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta càng thêm khó khăn.
Trong bối cảnh đó, từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986, tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng chính thức khởi xƣớng công cuộc đổi mới
toàn diện đất nƣớc, trọng tâm là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: chuyển từ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội
chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Đồng thời, Đại hội
đã nêu ra phƣơng hƣớng, mục tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội



20

Hoạt động thương mại
Hoạt động thƣơng mại với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
đạt đƣợc những kết quả bƣớc đầu trong lĩnh vực lƣu thông hàng hoá và
dịch vụ. Thƣơng nghiệp xã hội phát triển mạnh, thị trƣờng sôi động, hàng
hoá đa dạng, phong phú, lƣu thông thuận lợi, đáp ứng đƣợc nhu cầu tiêu
thụ của nhân dân. Năm 1995, giá trị ngành thƣơng nghiệp tăng gấp 10 lần
so với năm 1990. Tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội năm 1996 là 1.225 tỷ
đồng, tăng 23% so với năm 1995. [56; 18]
Thực hiện chủ trƣơng xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, hƣớng
vào xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế, hoạt động kinh tế trên địa bàn
Vĩnh Phúc đã bƣớc đầu hƣớng vào xuất khẩu. Tuy nhiên, vào đầu những
năm 90, do ảnh hƣởng của tình hình chính trị ở Liên Xô và Đông Âu nên
hoạt động xuất khẩu của tỉnh gặp nhiều khó khăn. Bƣớc vào những năm
1993-1996, hoạt động xuất khẩu đã tìm đƣợc thị trƣờng mới với các hoạt
động dịch vụ thu ngoại tệ nhƣ xuất khẩu lạc nhân, hoa quả hộp, thịt,… Do
vậy, kim ngạch xuất khẩu bƣớc đầu có sự phát triển. Hoạt động xuất khẩu
lao động bƣớc đầu có bƣớc phát triển với số lƣợng lao động ra nƣớc ngoài
làm việc đƣợc tăng lên qua từng năm.
Lĩnh vực kinh tế du lịch
Do có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển du lịch nên trƣớc khi tái
lập tỉnh, hoạt động du lịch trên địa bàn Vĩnh Phúc đã bƣớc đầu có sự phát
triển. Kinh doanh du lịch đã tập trung vào khai thác các loại hình du lịch
nhƣ du lịch nghỉ dƣỡng, du lịch sinh thái, du lịch lễ hội,… Chất lƣợng dịch
vụ tại khu, điểm du lịch, vui chơi giải trí bƣớc đầu đáp ứng đƣợc nhu cầu
của khách du lịch. Doanh thu từ du lịch cũng nhƣ tổng số lƣợt khách đến
du lịch trên địa bàn đều tăng lên qua từng năm. Trên địa bàn tỉnh đã hình
thành một số khu du lịch tập trung nhƣ: Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải.

doanh là 427 tỷ đồng, chiếm 44,33%, dƣ nợ cho vay kinh tế ngoài quốc


22

doanh là 537 tỷ đồng, chiếm 55,67%, trong đó dƣ nợ cho vay hộ nông dân
là 53,9 tỷ đồng, chiếm 66,85% so với dƣ nợ cho vay ngoài quốc doanh.
Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc trong xây dựng và phát triển
kinh tế, các ngành kinh tế nói chung cũng nhƣ các ngành kinh tế dịch vụ
nói riêng của Vĩnh Phúc trƣớc khi đƣợc tái lập (năm 1997) còn có nhiều
tồn tại, hạn chế.
Đến trƣớc năm 1997, về cơ bản kinh tế Vĩnh Phúc vẫn chủ yếu là sản
xuất nông nghiệp, thu nhập thấp, đời sống nhân dân nông thôn còn nghèo.
Kinh tế tuy có tăng trƣởng nhƣng tốc độ chƣa đạt mức bình quân chung của
cả nƣớc. Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tuy phát triển khá nhƣng chất lƣợng
kém, xuống cấp nhanh, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn rất hạn hẹp. Tỉnh
đang trong hoàn cảnh đƣợc tái lập, nhu cầu đầu tƣ xây dựng rất lớn, nhƣng
nguồn lực để đáp ứng rất khó khăn. Trong các thành phần kinh tế trên địa
bàn, kinh tế quốc doanh quy mô quá nhỏ, thiết bị và công nghệ lạc hậu,
hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả; kinh tế hợp tác xã giảm sút,
hoạt động khó khăn; kinh tế tƣ nhân chƣa dám bỏ vốn nhiều vào sản xuất,
chủ yếu hoạt động về dịch vụ.
Trong lĩnh vực kinh tế thƣơng mại, hoạt động xuất nhập khẩu thƣờng
rất bấp bênh, không đảm bảo đƣợc tính ổn định do chƣa có đơn vị đầu mối
đủ mạnh để kinh doanh, chƣa tạo đƣợc nguồn hàng hoá có chất lƣợng cao,
khối lƣợng lớn, chƣa tạo đƣợc thị trƣờng xuất khẩu ổn định. Việc nắm bắt
thông tin về thị trƣờng, giá cả,... phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu còn
hạn chế, đặc biệt chƣa tạo đƣợc xuất khẩu trực tiếp mà chủ yếu là xuất
khẩu uỷ thác, nên hiệu quả thấp và rất bấp bênh.

kinh tế Vĩnh Phúc đã căn bản khắc phục đƣợc những hạn chế, yếu kém nêu
trên, nền kinh tế, trong đó có kinh tế dịch vụ từng bƣớc đạt đƣợc những


24

thành tựu quan trọng, góp phần đƣa Vĩnh Phúc vƣơn lên trở thành một
trong những tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất cả nƣớc.
1.2. SỰ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ DỊCH VỤ
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000

Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nƣớc ta đã thu đƣợc
những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó nổi
bật là những kết quả đạt đƣợc trong lĩnh vực kinh tế(1). Tình trạng đình đốn
trong sản xuất, rối ren trong lƣu thông đƣợc khắc phục. Kinh tế tăng trƣởng
nhanh. Nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng
yếu đƣợc xây dựng, tạo thêm sức mạnh vật chất và thế cân đối mới cho
bƣớc phát triển tiếp theo. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội
chủ nghĩa tiếp tục đƣợc xây dựng một cách đồng bộ và có hiệu quả hơn. Về
cơ bản đất nước đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng
kéo dài hơn 15 năm. Những kết quả đó đã tạo tiền đề cần thiết để nƣớc ta
chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nƣớc.
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp Quốc hội thứ 10 (khoá IX) về việc
phân chia địa giới hành chính của một số tỉnh, tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc tái lập
và đi vào hoạt động từ ngày 1-1-1997 sau gần 29 năm hợp nhất. Nằm trong
bối cảnh chung của đất nƣớc, sau khi đƣợc tái lập, Vĩnh Phúc có những
điều kiện thuận lợi căn bản để phát triển kinh tế: có vị trí địa lý thuận lợi để
thu hút các dự án đầu tƣ trong và ngoài nƣớc; nền nông nghiệp sản xuất

nước. Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp và
dịch vụ. Phát triển kinh tế đi liền với bảo vệ môi trường sinh thái. Phát huy
tiềm lực của các thành phần kinh tế để khai thác được mọi tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh” [56; 28].
Các mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu đƣợc xác định là: Nhịp độ tăng
GDP bình quân 18 - 20%/năm; giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình


26

quân hàng năm: 17 - 18%; giá trị sản xuất ngành công nghiệp xây dựng
tăng bình quân hàng năm trên 50%; giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp
tăng bình quân hàng năm là 4,5-5%. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 16,0
triệu USD vào năm 2000, trong đó xuất khẩu địa phƣơng đạt 7 triệu USD,
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 9 triệu USD.
Thu nhập bình quân đầu ngƣời từ 280-300 USD. Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hƣớng tăng tỷ trọng công nghiệp xây dựng, giảm tỷ trọng nông lâm
nghiệp: nông - lâm nghiệp chiếm trong GDP từ 48,27% (1996) xuống
25,0% (2000); công nghiệp và xây dựng từ 13,98% (1996) lên 44,0%
(2000); dịch vụ từ 37,75% xuống 31,0% (2000) [56, 30].
Trên cơ sở phƣơng hƣớng chung và các mục tiêu trong phát triển
kinh tế đã đề ra, Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ Vĩnh Phúc đã đề ra những
chủ trƣơng, giải pháp nhằm phát triển các ngành kinh tế dịch vụ cơ bản trên
địa bàn tỉnh: thƣơng mại, du lịch, bƣu chính - viễn thông, tín dụng ngân
hàng.
1.2.1. Về xây dựng và phát triển ngành thƣơng mại
Trong phát triển kinh tế, ngành thƣơng mại chiếm một vị trí quan
trọng. Nếu ngành thƣơng mại hoạt động tốt sẽ góp phần quan trọng thúc
đẩy sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lao động xã hội, góp
phần ổn định giá cả, tăng tích luỹ cho ngân sách, cải thiện đời sống nhân

bàn hoạt động kém hiệu quả, chƣa thu hút đƣợc tất cả các thành phần kinh
tế vào kinh doanh hoạt động thƣơng mại, mạng lƣới chợ ở các khu vực
nông thôn, miền núi còn ít. Từ đó, Ban Thƣờng vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo ngành
thƣơng mại một mặt tập trung củng cố thƣơng nghiệp quốc doanh ở những
ngành thiết yếu, mặt khác tiến hành khuyến khích hoạt động thƣơng mại ở
tất cả các thành phần kinh tế, chú trọng xây dựng thêm chợ ở khu vực nông
thôn, miền núi để thu mua nông sản và bán vật tƣ nông nghiệp, hàng tiêu


Trích đoạn Những hạn chế, yếu kém Các kinh nghiệm chủ yếu TỈNH UỶ VĨNH PHÚC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM PHƢƠNG HƢỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐẾN NĂM CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status