TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********
NGUYỄN THỊ HẰNG
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS NINH THỊ HẠNH
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2012” dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Ninh
Thị Hạnh tại trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.
Trong thời gian làm khóa luận em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô trong khoa Lịch sử, thư viện tỉnh Vĩnh Phúc và Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng toàn thể các ban
ngành địa phương và đặc biệt là cô giáo Ninh Thị Hạnh đã trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian hoàn thành khóa luận.
Là một sinh viên lần đầu tiên làm khóa luận tốt nghiệp nên không thể
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý
của các thầy cô giáo để em hoàn thiện hơn khóa luận của mình.
TRƢỚC NĂM 2000....................................................................................... 7
1.1.
Điều kiện phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc ......................... 7
1.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 8
1.1.3. Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội ..................................................... 9
1.2. Kinh tế du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 2000 ................................. 13
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2012 ............................ 19
2.1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm
2000 đến năm 2005 ....................................................................................... 19
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc phát triển kinh tế từ năm
2000 đến năm 2005 ....................................................................................... 19
2.1.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện ................................................................. 22
2.1.3. Kết quả thực hiện ................................................................................ 27
2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm
2006 đến năm 2012 ....................................................................................... 30
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về phát triển kinh tế du
lịch từ năm 2006 đến năm 2012 .................................................................... 30
2.2.2. Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc từ năm 2006 đến năm 2012 .................................................................. 37
2.2.3. Kết quả thực hiện ................................................................................ 45
Chƣơng 3. NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
CHỦ YẾU..................................................................................................... 49
3.1. Nhận xét chung ...................................................................................... 49
3.2. Những thành tựu đạt được...................................................................... 50
kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đạt được, ngành du lịch cũng đạt được những
thành tựu đáng kể. Góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của tỉnh nhà.
Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với sự phát triển của ngành kinh tế
1
trọng điểm này chưa có nhiều công trình di sâu khai thác, nghiên cứu cụ thể
và hệ thống.
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển du lịch (20002012) ở tỉnh Vĩnh Phúc là căn cứ để hiểu và khẳng định sự đúng đắn, nhạy
bén của đườngng lối phát triển kinh tế nói chung, phát triển du lịch nói riêng
trong từng thời kỳ. Vì những lí do trên tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2012” làm
khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Du lịch luôn là một đề tài nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học ở nhiều góc độ khác nhau.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Tài nguyên và môi
trường du lịch Việt Nam” (2001), Phạm Trung Lương (chủ biên), Nxb Giáo
dục. “Một số vấn đề du lịch Việt Nam” (2004), của Đinh Trung Kiên, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội. “Tuyến điểm du lịch Việt Nam” (2009) của Bùi Thị
Hải Yến, Nxb Giáo dục. Tác phẩm khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên
du lịch và kết cấu hạ tầng của Việt Nam cùng một số tuyến, điểm du lịch các
vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ…
Các vấn đề du lịch cũng nhận được sự quan tâm của các báo và tạp chí
như: “Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
Nam” (2005) của tác giả Trần Đức Thanh, tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2, tr.
20 – 21. “Du lịch Việt Nam trước cơ hội đổi mới” (2007) của Thúy Mơ, tạp
chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 02, tr. 15 - 16. “Du lịch Việt Nam
trong tiến trình hội nhập quốc tế” (2008) của Hoàng Tuấn Anh, tạp chí quản
với kinh doanh du lịch. Thực trạng quản lý nhà nước đối với lao động trong
kinh doanh du lịch Việt Nam và một số giải pháp nhằn hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với lao động trong ngành này.
3
Đối với vấn đề phát triển du lịch Vĩnh Phúc cũng đã có một số công
trình nghiên cứu như: Vĩnh Phúc đôi nét về thiên nhiên, đất nước (2000) tác
giả Hoàng Xuân Chinh. Cuốn sách giới thiệu một cách hệ thống và đầy đủ về
tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên và con người Vĩnh Phúc; “Dư địa
chí Vĩnh Phúc” (2011) do Viện Dân tộc học và Sở khoa học Công nghệ phát
hành, giới thiệu về các lĩnh vực: địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, hệ thống
chính trị, quốc phòng, an ninh và các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn
Vĩnh Phúc. Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển kinh tế du lịch huyện Tam
Đảo” (2009) của tác giả Phạm Xuân Nguyên. Luận văn hệ thống hóa những
vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch, nghiên cứu thực trạng phát triển
du lịch huyện Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) từ khi tái lập huyện đến năm 2009…
Các công trình trên là nguồn tài liệu quan trọng, cung cấp cơ sở lý luận,
tư liệu và cả những gợi ý khoa học để tác giả thực hiện khóa luận.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến việc làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách quan
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với sự phát triển
kinh tế du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc; nêu lên những thành tựu, kết quả đạt được
của du lịch Vĩnh Phúc từ năm 2000 đến năm 2012; bước đầu rút ra một số bài
học kinh nghiệm về sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình
đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn trong những
giai đoạn tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu được đăng tải trên các
tạp chí của Trung ương và địa phương…
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
5
Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Đó là đi sâu vào tìm hiểu sự phát triển
của ngành kinh tế du lịch Vĩnh Phúc. Trong đó quan trọng nhất là giai đoạn từ
2000 đến 2012.
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: đi sâu nghiên cứu các chủ trương,
nghị quyết của Đảng nói chung và Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng về phát
triển kinh tế du lịch.
Phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp, thống kê: nhằm mục đích
tìm hiểu sự phát triển kinh tế du lịch, từ đó so sánh sự tăng trưởng kinh tế du
lịch qua các năm…
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận khái quát những tiềm năng phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh
Vĩnh Phúc và trình bày quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc về
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2000 đến năm 2012. Rút ra những thành tựu,
ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện.
Khóa luận rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch, đề xuất một số phương hướng và giải
pháp chủ yếu góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của du lịch Vĩnh Phúc
một cách bền vững trong tương lai.
Khóa luận còn là nguồn tài liệu phục vụ trong việc học tập, nghiên cứu
của học sinh, sinh viên…
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:
định thành lập đạo Vĩnh Yên, bao gồm vùng đất của huyện Bình Xuyên và
các huyện phủ của Vĩnh Tường. Năm 1899 tỉnh Vĩnh Yên được thành lập.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời, chính quyền mới tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính cho phù
hợp.
7
Nhằm tăng cường phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp trong giai
đoạn mới về mọi mặt, ngày 12/2/1950, tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo
nghị định 03/TTg của thủ tướng chính phủ trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Vĩnh
Phúc và Phúc Yên. Trải qua nhiều biến động về địa giới hành chính. Tháng 1
năm 1997, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, tỉnh Vĩnh Phúc
chính thức được tái lập và đi vào hoạt động sau gần 29 năm trải qua nhiều lần
tách và nhập.
Vĩnh Phúc là một tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng, Việt Nam. Vĩnh
Phúc là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Diện tích là
1.236,50km2 theo thống kê năm 2010. Đây là tỉnh có vị trí nằm giữa trung
tâm hình học của miền Bắc Việt Nam.
Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới
là dãy núi Tam Đảo. Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là Sông
Lô. Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng. Phía đông giáp
hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội.
Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc
lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng
chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy. Hệ thống sông Hồng là tuyến
đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Một trong những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý của Vĩnh Phúc là nằm
là thị trường có nguồn khách nội địa lớn nhất miền Bắc. Ngoài ra khoảng cách
từ Vĩnh Phúc tới sân bay Nội Bài - một trong những cảng hàng không quốc tế
lớn nhất Việt Nam cũng chỉ là 25 km, vì vậy khả năng tiếp cận trực tiếp của
khách quốc tế tới Vĩnh Phúc là rất thuận lợi; là địa bàn chuyển tiếp với các
tỉnh miền núi phái Bắc và thị trường Trung Quốc rộng lớn; Vĩnh Phúc là nơi
9
thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và dịch vụ, là tỉnh hội tụ nhiều yếu
tố quan trọng để phát triển du lịch.
Trong quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 – 2010 xác
định Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh thuộc trung tâm dịch vụ Hà Nội và
phụ cận. Du lịch Vĩnh Phúc phát triển sẽ góp phần quan trọng đối với sự phát
triển của trung tâm du lịch này, đồng thời Vĩnh Phúc gắn liền và chịu sự tác
động tích cực của hoạt động du lịch Hà Nội, đó là cơ hội khai thác các tiềm
năng du lịch của Vĩnh Phúc và các nguồn quốc tế, khách nội địa đến tham
quan, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí. Nằm trên giao điểm của tuyến du lịch quốc
gia quan trọng từ Hà Nội đi Tây Bắc, Việt Bắc và các tỉnh vùng Đông Bắc,
Vĩnh Phúc là điểm du lịch hấp dẫn trong các chương trình du lịch có tính lien
vùng, thu hút được sự chú ý của nhiều công ty lữ hành để tạo một không gian
du lịch thống nhất, đa dạng và hấp dẫn bằng cả tài nguyên thiên nhiên, nhân
văn và kinh tế.
Sau hơn 10 năm tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội. Từ
khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, với lợi thế về vị trí địa lí, chính
sách thông thoáng, tích cực thu hút đầu tư nước ngoài, Vĩnh Phúc đã đạt tốc
độ tăng trưởng ổ định, cao hơn nhiều so với mức chung của toàn quốc và các
tỉnh thuộc vùng kinh tế Bắc Bộ.
Về phát triển kinh tế: Tăng trưởng kinh tế năm 2010 của tỉnh đạt
năm ở Vĩnh Phúc có hàng trăm lễ hội được tổ chức. Có thể chia lễ hội thành
các loại hình như sau:
Lễ hội tín ngưỡng: Thường là tín ngưỡng dân gian, thờ các thần thánh,
như thờ thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần có liên quan đến các hoạt động
kinh tế như nông ngiệp, ngư nghiệp…
11
Các lễ hội lịch sử: Thường gắn với việc tưởng niệm các nhân vật lịch
sử như lễ hội Tây Thiên, lễ hội Tam Đảo (huyện Tam Đảo); lễ hội đền Bách
Trữ, lễ hội trọi trâu Hải Lựu… Đây là những lễ hội đáng chú ý và thu hút khá
đông khách du lịch.
Các sản phẩm thủ công truyền thống: ở Vĩnh Phúc có nhiều nghề thủ
công truyền thống độc đáo, đặc sắc như Làng Rắn ở Vĩnh Sơn, nghề mộc ở
Làng Bích Chu, nghề rèn ở Lý Nhân, tơ tằm ở Thổ Tang (Vĩnh Tường), nghề
gốm gia dụng ở Hương Canh (huyện Bình Xuyên)… khai thác các sản phẩm
nghề thủ công truyền thống và khôi phục phát triển các làng nghề truyền
thống có vai trò to lớn trong việc phát triển du lịch.
Ngoài những nguồn tài nguyên chính kể trên, Vĩnh Phúc còn có thể
khai thác các nguồn tài nguyên nhân văn khác phục vụ du lịch như ca múa
nhạc dân tộc, các món ăn từ lâm thổ sản phong phú của địa phương mình…
- Về xã hội
Tổng mức đầu tư phát triển toàn xã hội trong giai đoạn 2006 – 2010 đạt
44,287 tỷ đồng. Tổng huy động vốn đầu tư và phát triển toàn xã hội luôn ở
mức cao xấp xỉ 40% so với GDP; cụ thể, huy động vốn đầu tư và phát triển
trên địa bàn đạt 14.500 tỷ đồng. Đây là một yếu tố rất quan trọng để kinh tế
Vĩnh Phúc phát triển, trong đó có du lịch. Từ một tỉnh nghèo thuần nông, đến
nay Vĩnh Phúc đứng thứ 7 cả nước về giá trị sản xuất công nghiệp.
Bảo đảm an ninh quốc phòng, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân
là những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực kinh tế. Tình hình đình đốn trong
sản xuất và rối ren trong lưu thông được khắc phục. Kinh tế tăng trưởng
nhanh. Nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng yếu
được xây dựng, tạo thêm sức mạnh vật chất và thế cân đối mới cho bước phát
triển tiếp theo. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây
dựng một cách đồng bộ và có hiệu quả hơn. Về cơ bản đất nước đã thoát ra
13
khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng kéo dài hơn 15 năm.
Những điều kiện đó đã tạo tiền đề cần thiết để nước ta chuyển sang thời kỳ
phát triển mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thực hiện nghị quyết kỳ họp Quốc hội thứ 10 (khóa IX) về việc phân
chia địa giới hành chính của một số tỉnh, ngày 01 - 01 - 1997, tỉnh Vĩnh Phúc
được tái lập và đi vào hoạt động. Nằm trong bối cảnh chung của đất nước, sau
khi được tái lập, Vĩnh Phúc xây dựng tỉnh nhà về mọi mặt. Đại hội Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc lần thứ XII đã được tiến hành từ ngày 5 đến ngày 7 - 11- 1997.
Đại hội đề ra phương hướng chung phát triển kinh tế, xã hội những
năm 1997 – 2000 là: “Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, nhất là đối với
công nghiệp, sớm thoát khỏi tình trạng kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, tạo
tiền đề cho sự phát triển ổn định, vững chắc sau năm 2000, thu hẹp khoảng
cách so với bình quân chung của cả nước. Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ
cấu công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ. Phát huy mọi tiềm lực của các
thành phần kinh tế để khai thác được mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Kết
hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, nâng cao đời sống
nhân dân…” [57, tr. 59]. Trong đó, Đảng bộ tỉnh nhấn mạnh đến vấn đề khắc
phục tình trạng Vĩnh Phúc vẫn là một tỉnh thuần nông.
Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, quán triệt quan điểm đẩy
Phúc đã đạt được những kết quả quan trọng. Do có chính sách khuyến khích,
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vào đầu tư phát triển du lịch nên
các nhà đầu tư du lịch đã đến với Vĩnh Phúc nhiều hơn, cơ sở hạ tầng của các
khu du lịch, giải trí được nâng cấp, số lượng khách du lịch đến với Vĩnh Phúc
ngày càng tăng qua từng năm. Khách du lịch trong những năm 1997 – 2000
tăng đều hàng năm từ 12 – 15%. Trong đó số lượt khách nội địa chiếm 98%,
khách nước ngoài chiếm 2%, (Nguồn tổng hợp từ các báo cáo của Tỉnh ủy từ
năm 1997 đến năm 2000). Nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động kinh doanh du
lịch, trong năm 2000 Tỉnh ủy chủ trương phát triển du lịch theo hướng vừa là
15
ngành kinh tế vừa là hình thức hoạt động văn hóa. Từ đó, Tỉnh ủy chỉ đạo tiến
hành đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khách du lịch, đáp ứng nhu cầu của
khách hàng cả về nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Doanh thu du lịch năm 2000
đạt 8,5 tỷ đồng, tăng 22,3% so với năm 1997, (Niên giám thống kê năm 2000
tỉnh Vĩnh Phúc (2000)).
Bảng 1.1: Bảng doanh thu ngành du lịch trong những năm 1997 - 2000
Năm
Doanh thu (tỷ đồng)
Tăng so với cùng kỳ (%)
1997
4,5
5,7
Công tác quảng bá tuyên truyền tiếp thị còn nhiều hạn chế. Việc nghiên
cứu thị trường vẫn còn mang tính tự phát vì thế chưa nắm bắt được xu thế của
từng loại thị trường để từ đó có sách lược đầu tư khai thác hợp lý.
Chất lượng sản phẩm du lịch còn thấp, loại hình sản phẩm chưa phong
phú… các cơ sở vui chơi giải trí không có các sản phẩm lưu niệm thủ công
16
mỹ nghệ truyền thống, độc đáo, các địa phương chưa có kế hoạch sản xuất
hợp lý đáp ứng yêu cầu của từng loại khách.
Việc xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch du lịch còn yếu kém.
Ngày 05/07/1998 chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt dự án “Quy hoạch tổng
thể phát triển du lịch Vĩnh Phúc thời kỳ 1998 – 2010”. Nhưng chưa có sự đầu
tư cho các quy hoạch chi tiết cụ thể của từng khu lịch, điểm du lịch, tuyến du
lịch, do đó việc xây dựng các công trình ở những khu du lịch còn tùy tiện,
chắp vá hoặc trùng lặp nhiều chủ sở hữu, chủ quản lý, chưa phân định được
trách nhiệm và lợi ích của các ngành, các cấp và nhân dân địa phương.
Thực tế này đặt lãnh đạo các cấp ủy Đảng ở Vĩnh Phúc trước yêu cầu:
phải có chủ trương, đường lối và chiến lược tổng thể trước mắt và lâu dài để
phát huy hiệu quả du lịch ở Vĩnh Phúc. Tạo cơ hội thu hút đầu tư, phát huy
mọi nguồn lực, phát triển thế mạnh về du lịch của tỉnh, tạo cơ hội liên kết với
các địa phương khác, góp phần tham gia hội nhập phát triển du lịch cùng cả
nước. Đồng thời đẩy mạnh phát triển du lịch Vĩnh Phúc, tạo được nét đặc sắc
riêng để tham gia phát triển du lịch của tỉnh tương xứng với tiềm năng, lợi thế
sẵn có.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Với những lợi thế về tự nhiên và xã hội Vĩnh Phúc hội tụ đầy đủ những
yếu tố để phát triển kinh tế du lịch. Từ khi mới tách tỉnh năm 1997 cho đến
năm 2000, kinh tế du lịch Vĩnh Phúc chưa được đánh giá và nhìn nhận một
nhiều thành tựu quan trọng, tạo ra cả thế và lực để thúc đẩy công cuộc đổi
mới đi vào chiều sâu. Nền kinh tế với sự phát triển không ngừng của khoa học
kỹ thuật và cơ sở vật chất. Môi trường hòa bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế
và xu thế đối ngoại của thế giới đã và sẽ tạo điều kiện để chúng ta tiếp tục
phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, đất nước còn phải đối mặt với 4 nguy cơ
lớn: tụt hậu xa hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng
và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch gây ra. Do đó
yêu cầu nắm bắt cơ hội, vượt qua thử thách, phát triển mạnh trong thời kì mới
là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta.
Trong bối cảnh đó, từ ngày 19 đến ngày 22 - 4 - 2001, Đảng ta tiến
hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất IX. Trên cơ sở đánh giá kết quả 5 năm thực
hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2005 là: “Tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối thoại, tạo chuyển biến mạnh về giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người, tạo nhiều
việc làm; cơ bản xóa đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội; ổn
19
định và cải thiện đời sống nhân dân. Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội; hình thành một thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội” [7, tr. 28-29].
Để định hướng phát triển lâu dài cho ngành du lịch, Thủ tướng Chính
phủ đã ra quyết định số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 về việc phê duyệt
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 – 2010. Trong đó khẳng định:
“Từng bước đưa Việt Nam trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu
vực, phấn đấu sau năm 2010 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia