đảng bộ tỉnh ninh binh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch 1992 2008 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRẦN THỊ LAN

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH (1992-2008)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

Chƣơng 1. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH ..... 8
1.1. Lý luận chung về du lịch ............................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm về du lịch ......................................................................... 8
1.1.2. Vai trò của du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ............ 9
1.2. Những lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình .. 14
1.2.1. Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của
tỉnh Ninh Bình ................................................................................ 14
1.2.2. Những lợi thế và tiềm năng phát triển tài nguyên du lịch của
tỉnh Ninh Bình ................................................................................ 22
Chƣơng 2. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁT
TRIỂN NGÀNH KINH TẾ DU LỊCH NINH BÌNH (1992 - 2008) ........... 39
2.1. Đường lối chính sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước trong thời
kỳ đổi mới (1986 - 2008) ............................................................... 39
2.2. Thực trạng ngành kinh tế du lịch Ninh Bình trước những năm tái lập tỉnh
(1976 - 1992) .................................................................................. 47

(World Tourist Organization)

UBND:

Ủy ban nhân dân

WTTC:

Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới
(World Travel Tourism Council)


BẢN ĐỒ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
Ninh Binh Visitor Map

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu
trong đời sống của con người. Du lịch là một ngành dịch vụ có ý nghĩa quan trọng
ở nhiều nước, thường được ví như là “ngành công nghiệp không khói”. Du lịch
ngày càng được mở rộng và phát triển trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển đúng
đắn của hoạt động du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế
khác. Ngoài ra du lịch còn có vai trò to lớn tác động ảnh hưởng đến mọi mặt của
đời sống xã hội. Do đó, ngành kinh tế du lịch ngày càng giữ một vị trí quan trọng,
được xem là ngành kinh tế mũi nhọn trong quá trình phát triển đất nước.
Sự nghiệp đổi mới đất nước ở Việt Nam hơn hai mươi năm qua đã thu
được nhiều kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã

lớn, được các cấp ủy Đảng trong tỉnh quan tâm sâu sắc. Để góp phần đánh giá
đúng thực trạng và tìm nguyên nhân của mặt mạnh, mặt tồn tại, hạn chế, nhằm
đưa ra phương hướng, nhiệm vụ và những giải pháp đưa ngành kinh tế du lịch
Ninh Bình tiếp tục phát triển trong những năm tới. Ý thức rõ tầm quan trọng của
vấn đề nghiên cứu, lại được sự động viên khích lệ của người thân quê ở Ninh
Bình, được sự chỉ dẫn tận tình của thầy hướng dẫn khoa học, tác giả đã chọn đề
tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (1992 - 2008)”
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Du lịch là ngành kinh tế mới nhưng rất quan trọng được Đảng ta xác định
là “ngành kinh tế mũi nhọn” và đang có bước tiến phát triển mạnh mẽ đóng góp
vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Vì vậy, du lịch đã được sự quan
tâm của nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học từ Trung ương đến địa phương. Đã có
nhiều cuốn sách, nhiều công trình khoa học viết về du lịch với nội dung và góc
độ khác nhau.
Các tác phẩm viết về du lịch ở Việt Nam nói chung tiêu biểu như:
Tác giả Đinh Trung Kiên trong cuốn sách “Một số vấn đề về du lịch Việt
Nam ” Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004 đã trình bày tổng quan những
vấn đề về du lịch Việt Nam, đánh giá thực trạng và nêu nhiều giải pháp nhằm
phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam.

3


Tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa trong giáo trình “Kinh tế
du lịch” Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội năm 2008 đã trình bày những
vấn đề cơ bản về du lịch, về kinh tế du lịch và vấn đề quản lý ngành du lịch ở
Việt Nam.
Tác giả Trần Đức Thanh trong “Nhập môn khoa học du lịch” Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2005 đã trình bày những vấn đề về du lịch một cách ngắn

Nguyễn Văn Mạnh, với công trình “Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái
tại Ninh Bình” (Đề tài NCKH cấp bộ năm 2005), đã cho thấy thế mạnh của du
lịch sinh thái, thấy lợi ích của việc con người sống thân thiện với thiên nhiên.
Còn có nhiều tác phẩm, bài viết khác liên quan đến vấn đề du lịch Ninh
Bình được đăng trên các báo, tạp chí và các Website của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Tổng cục du lịch, Tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên chưa có công trình nào
nghiên cứu cụ thể về “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du
lịch (1992- 2008)”. Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những
người đi trước, tác giả tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du
lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (1992 - 2008). Luận văn phân tích rõ vai trò
quan trọng của Đảng bộ trong việc định hướng phát triển kinh tế du lịch của tỉnh.
Trên cơ sở những thành tựu, hạn chế, luận văn khái quát hóa những kinh nghiệm
và đề xuất các giải pháp cụ thể, đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình trong việc phát triển kinh tế du lịch của tỉnh ở giai đoạn mới.
* Nhiệm vụ
Làm rõ những lợi thế, tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Ninh Bình.
Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, luận
văn tập trung đi sâu vào phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình về phát triển kinh tế du lịch từ năm 1992 đến năm 2008, nhận định
khoa học về những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch
của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
Từ đó, luận văn rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo và đề
xuất một số giải pháp cụ thể, thiết thực, đóng góp vào sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình trong
thời gian tới.

5


6


Việc hệ thống hóa về tiềm năng phát triển kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình
cũng góp phần vào việc nghiên cứu giới thiệu, quảng bá lịch sử truyền thống và
văn hóa của địa phương, cung cấp nguồn tài liệu có giá trị trong công tác biên
soạn, giáo dục lịch sử Đảng bộ địa phương, nâng cao lòng tin yêu, niềm tự hào
đối với quê hương Ninh Bình và đất nước Việt Nam.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết:
Chƣơng 1: Tiềm năng phát triển kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình.
Chƣơng 2: Chủ trương và sự chỉ đạo tổ chức thực hiện phát triển ngành
kinh tế du lịch Ninh Bình (1992-2008).
Chƣơng 3: Đánh giá chung và những kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo
phát triển ngành kinh tế du lịch của Đảng bộ Ninh Bình.

7


Chƣơng 1
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỈNH NINH BÌNH
1.1. Lý luận chung về du lịch
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Từ xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành
hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến, và là một nhu cầu không thể thiếu trong đời
sống văn hóa xã hội của con người. Du lịch ngày nay trở thành một đề tài hấp
dẫn mang tính toàn cầu. Vì vậy du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan

Cho dù có định nghĩa dưới góc độ nào thì các nhà khoa học và học giả đều
nhận biết được rằng du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành
phần tham gia. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc
điểm của ngành văn hóa - xã hội. Du lịch không chỉ là một ngành kinh tế tổng
hợp mang lại lợi nhuận cao, mà nó còn là một hiện tượng xã hội có ý nghĩa vô
cùng to lớn. Ngành du lịch đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa
đói, giảm nghèo, đảm bảo anh sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa,
bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng. Chính vì vậy toàn xã hội
phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển. Ngay nay du
lịch phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới. Thực tế hoạt động du lịch ở
nhiều nước chẳng những đã đem lại lợi ích kinh tế, mà còn cả lợi ích chính trị,
văn hóa, xã hội.
1.1.2. Vai trò của du lịch trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay du lịch phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi nơi trên thế giới. Du lịch
không chỉ giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn có tác
động ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội.
* Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế.
Trong những năm trở lại đây, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế
phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển.
Theo T chức Du lịch thế giới (UN - WTO), năm 2000, khách du lịch quốc tế trên
toàn thế giới đạt 698 triệu lượt khách, tăng 7,4% so với năm 1999, thu nhập du
lịch đạt 476 tỷ USD, tương đương 6,5% tổng sản phẩm quốc dân thế giới. Du
lịch là ngành tạo nhiều việc làm và hiện thu hút khoảng 220 triệu lao động trực
tiếp, chiếm 10,6% lực lượng lao động thế giới. UN - WTO dự báo, năm 2010

9


lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới ước lên tới 1.006 triệu lượt khách,
thu nhập từ du lịch đạt 900 tỷ USD và ngành du lịch tạo thêm khoảng 150 triệu



ngày càng rõ nét. Ở đâu du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được
chỉnh trang sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tạo ra khả
năng tiêu thụ tại chỗ hàng hóa và dịch vụ, thúc đẩy các ngành khác phát triển,
tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và nhiều hộ dân, nhiều địa phương giàu lên
nhờ du lịch, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và của địa phương.
Sự phát triển đúng đắn của các hoạt động du lịch sẽ góp phần thúc đẩy sự
phát triển của các ngành kinh tế khác. Bởi vì du lịch là ngành kinh tế tổng hợp,
không thể phát triển du lịch trong điều kiện các ngành kinh tế kỹ thuật liên quan
như: công nghiệp, thương mại, giao thông, bưu điện, ngân hàng cung ứng điện
nước… ở trình độ phát triển thấp. Bởi lý do chính những ngành này trực tiếp
cung cấp các dịch vụ chủ yếu cho hoạt động du lịch.
Như vậy, đối với phát triển kinh tế, du lịch hiện nay được coi là ngành
công nghiệp không khói chiếm vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Phát triển du lịch có tác dụng làm thay đổi bộ mặt kinh tế quốc gia, vùng
lãnh thổ. Do đó, nhiều nước trên thế giới hiện nay đã coi du lịch là ngành kinh tế
mũi nhọn để phát triển đất nước.
* Vai trò của du lịch đối với đời sống văn hóa - xã hội.
Vai trò của du lịch không phải chỉ có đến lĩnh vực kinh tế mà còn có tác
động tới mọi mặt của đời sống xã hội như:
Đối với văn hóa - xã hội, hoạt động du lịch đã tạo thêm nguồn thu để tôn
tạo, trùng tu các di tích và nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan nhà
nước và địa phương và cộng đồng dân cư trong việc giữ gìn, phát triển di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể. Nhu cầu về nâng cao nhận thức văn hóa trong
chuyến đi của du khách thúc đẩy các nhà cung ứng chú ý khôi phục, bảo vệ các
di tích, duy trì các lễ hội, làng nghề… Cho nên nhiều lễ hội dân gian được khôi
phục, tổ chức và dần dần đi vào nền nếp và lành mạnh, phát huy được thuần
phong mỹ tục. Nhiều làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát
triển, tạo thêm các điểm du lịch hấp dẫn và sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ

nước ta đã đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy
mô và chất lượng, dần khảng định vai trò, vị trí của mình là ngành kinh tế mũi
nhọn trong nền kinh tế quốc dân.
Ninh Bình là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, có tài nguyên du lịch phong
phú bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Trong những năm gần đây ngành du lịch Ninh Bình đã có nhiều bước chuyển

12


biến mới, khởi sắc của một ngành kinh tế năng động đã và đang góp phần làm
thay đổi diện mạo đời sống kinh tế, xã hội của tỉnh. Ý thức được vai trò của du
lịch, Ninh Bình là một trong những địa phương đầu tiên trong cả nước thực hiện
xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thời kỳ 1995 - 2010” làm cơ sở
cho việc quản lý và phát triển ngành kinh tế đầy tiềm năng này.
Trong thực tế phát triển du lịch Ninh Bình trong những năm qua đã cho
thấy du lịch ngày càng có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã
hội địa phương. Tổng doanh thu của ngành du lịch tỉnh Ninh Bình trong những
năm qua đã có sự tăng trưởng đáng kể. Nếu như năm 1995 tổng doanh thu của
toàn ngành du lịch mới đạt 8,55 tỷ đồng thì đến năm 2000 đã tăng lên gấp 3,27
lần để đạt mức 28 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 1995 - 2000
là 26,78%/năm. Đến năm 2005 (tức là 10 năm thực hiện quy hoạch), doanh thu
du lịch đã đạt 63,18 tỷ đồng tăng gấp 7,39 lần so với khi bắt đầu thực hiện quy
hoạch, đến năm 2008 doanh thu đạt con số 162 tỷ đồng. Doanh thu du lịch tăng,
đóp góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Năm 1995 nộp ngân sách chỉ đạt 1,5
tỷ đồng, đến năm 2005 nộp ngân sách đạt 7,46 tỷ đồng, tăng gần 5 lần so với
năm 1995. Con số này tăng lên 16,5 tỷ đồng vào năm 2008 [70].
Bên cạnh vai trò về kinh tế, phát triển du lịch ở tỉnh Ninh Bình còn có
nhiều ý nghĩa về mặt xã hội như: góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập
cho người dân. Thúc đẩy việc khôi phục các lễ hội, ngành nghề truyền thống,

Thời Ngô Quyền, Đinh Công Chứ vẫn làm Thứ sử Châu Hoan. Sau khi
ông mất, con của Đinh Công Chứ là Đinh Bộ Lĩnh đã theo mẹ là Đàm Thị
(người vợ hai của Đinh Công Chứ) bỏ Châu Hoan về động Hoa Lư (là Thung
Lau và vùng đất quanh đó, nay thuộc thôn Mai Phương, xã Gia Hưng, huyện Gia
Viễn), nương thân với chú ruột là Đinh Thúc Dự.
Tại động Hoa Lư, từ cờ lau tập trận, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp yên loạn 12 sứ
quân, non song thu về một mối, đất nước trở lại thống nhất. Năm 986, Đinh Bộ
Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt.
Vua Đinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư ngày nay),
là vùng non kỳ thú nhưng hiểm trở để làm kinh đô - “Kinh đô đá”. Tại đây, ông
cho xây dựng cung điện, đặt triều nghi, đắp thành, đào hào, dựa vào thế núi xây

14


dựng một công trình phòng ngự kiên cố như một pháo đài hiểm, biệt lập với bên
ngoài. Kinh đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên trong nền văn minh Đại Việt của
phong kiến tập quyền ở nước ta. Với diện tích trải rộng khoảng 300 ha, nằm gọn
trong địa phận xã Trường Yên ngày nay, được bao quanh bởi hàng loạt núi đá
vòng cung, cảnh quan hùng vĩ.
Từ vua Đinh Tiên Hoàng đặt nền móng đầu tiên cho đến vua Lê Đại Hành
xây dựng kinh đô Hoa Lư là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của nước
Đại Cồ Việt lúc bấy giờ. Đến đầu triều Lý, khi nước Đại Cồ Việt phát triển.
Nhận thấy Kinh đô Hoa Lư không còn phù hợp nữa, muốn cho nước Đại Cồ Việt
phát triển hơn nữa, có thế công, kinh đô phải là nơi rộng rãi, thuận tiện về giao
thông thủy, bộ, trung tâm về địa lý, kinh tế… Nên vua Lý Thái Tổ đã quyết định
dời đô từ Hoa Lư đến kinh thành Đại La (Thăng Long) vào mùa thu năm Canh
Tuất (1010). Vua Lý Thái Tổ là người đặt cột mốc quan trọng nhất cho việc định
kinh đô ở Thăng Long (Hà Nội).
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhân dân Ninh Bình

biệt khu vực núi đá có độ cao trên 200m. Vùng này tập trung tới 90% diện tích
đồi núi và diện tích rừng của tỉnh. Nơi đây có tiềm lớn trong phát triển loại hình
du lịch, đặc biệt là khu vực thuận lợi cho tổ chức du lịch mùa đông và các loại
hình hình du lịch thể thao như leo núi, du lịch sinh thái…
Vùng đồng bằng: Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về ngoại cảnh
nhưng là nơi tập trung tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di tích lịch sử
văn hóa và là nơi hội tụ các nền văn minh của loài người.
Vùng ven biển có khoảng 18km bờ biển, với đường bờ biển tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triền du lịch hệ sinh thái vùng ven biển, khai thác các nguồn
lợi ven biển và ngoài khơi.
Với địa hình đa dạng như vậy, Ninh Bình có đủ điều kiện để phát triển
một nền kinh tế tổng hợp. Trong đó cần khai thác triệt để lợi thế về địa hình để
tạo ra sự đa dạng và phong phú của du lịch Ninh Bình góp phần tạo thúc đẩy
kinh tế của tỉnh phát triển ở nhịp độ tăng trưởng cao.
+ Về khí hậu:
Ninh Bình cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Hồng có khí hậu
mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa đông lạnh nhưng còn nhiều ảnh
hưởng của khí hậu ven biển, rừng núi so với điều kiện trung bình cùng vĩ tuyến;

16


thời kỳ đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối mùa đông thì ẩm ướt; mùa hạ
thì nóng ẩm, nhiều mưa, bão. Thời tiết hàng năm chia làm 4 mùa khá rõ là Xuân,
Hạ, Thu, Đông.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,2oC và có sự chênh lệch không nhiều
giữa các vùng (hơn kém nhau từ 0,3-0,4oC. Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh
đạt từ 1.860 - 1.950 mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của
Tỉnh. Trung bình một năm có 125 - 127 ngày mưa. Lượng mưa phân bổ không
đều trong năm, thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm

thiên nhiên để con người thêm yêu cuộc sống. Bên cạnh đó còn phát triển loại
hình du lịch nghiên cứu khoa học. Đây là một tiềm năng du lịch đã và đang khai
thác có sức hấp dẫn lớn khách du lịch.
+ Về đất đai:
Tỉnh Ninh Bình có 80.400 ha diện tích đất tự nhiên. Tron đó diện tích đất
nông nghiệp là 39.340 ha, chiếm 48,93%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là
19.074 ha, chiếm 23,72 %; diện tích đất chuyên dùng là 9.085 ha, chiếm 11,3%;
diện tích đất ở là 5.018 ha, chiếm 6,24%; diện tích đất chưa sử dụng và sông
suối, núi đá chiếm 23,30%. Các nhà nông học và thổ nhưỡng học phân chia đất
đai Ninh Bình thành 19 loại, gộp thành 5 nhóm cơ bản, trong đó nhóm đất phù sa
có diện tích 74.529,8ha, chiếm 53% diện tích tự nhiên toàn tỉnh [72].
+ Tài nguyên khoáng sản:
Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp, vật liệu xây
dựng như:
Đá vôi: đây là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình. Với
những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy từ Hòa Bình qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa
Lư, Tam Điệp, Yên Mô ra tới tận Biển Đông dài hơn 40 km; diện tích trên 1,2
vạn ha, với trữ lượng hàng chục tỷ m3 đá vôi, chất lượng tốt làm nguyên liệu vật
liệu xây dựng, trước hết là xi măng và một số hóa chất khác.
Đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên
Bình, thị xã Tam Điệp, các huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch
ngói và làm nguyên liệu cho ngành đúc, đảm bảo cho xây dựng các nhà máy sản
xuất gạch công suất 20-50 triệu viên/năm, khai thác ổn định trong vài chục năm.
Tài nguyên nước khoáng: Nước suối Kênh Gà (Gia Viễn) có vị mặn, trữ
lượng lớn, thường xuyên có nhiệt độ tới 53 - 54OC, có thể khai thác đưa vào tắm,
ngâm chữa bệnh kết hợp với du lịch rất tốt. Nguồn nước khoáng Cúc Phương

18





+ Tình hình kinh tế - xã hội.
Về tốc độ tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong thời gian qua, nhất là từ khi tái lập (1992) đến nay, dười sự chỉ đạo
của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, nhân dân Ninh Bình đã hòa nhập với công
cuộc đổi mới chung của cả nước, đã nỗ lực phấn đấu vươn lên giành những
thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt cao; tốc độ tăng
trưởng GDP bình quân giai đoạn 1992-2000 đạt 10,4%/năm, (cả nước
7,7%/năm), giai đoạn 2000-2006 là 11,9%/năm, năm 2006 đạt 12,6%/ năm [72].
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp,
dịch vụ.
Thu nhập bình quân trên đầu người năm 1991 đạt 0,51 triệu đồng, năm
2006 đạt 6,42 triệu đồng, tăng 12,5 lần. Thu ngân sách năm 1991 đạt 24,4 tỉ
đồng, năm 2006 đạt 878 tỷ đồng. tăng 35,98 lần.
Về nông nghiệp.
Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành
phần. Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường
Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, vùng Kim Sơn
trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản, vùng Ninh Phúc,
Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch. Cơ cấu Nông, lâm, thuỷ sản trong GDP của
tỉnh, năm 2007 đạt 26% (mục tiêu đến năm 2010 là 17%). Năm 1991, tổng sản
lượng lương thực đạt 19,4 vạn tấn, đạt giá trị 676 tỷ đồng và đến năm 2006 sản
lượng lương thực tăng đạt 48,4 vạn tấn với giá trị 1.821 tỷ đồng
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp theo hướng hiện đại và
chuyển hóa cơ cấu sản xuất theo hướng linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thị trường.
Tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 22 khu công nghiệp, cụm công nghiệp với diện tích
880 ha trong đó có các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn như: khu công
nghiệp Tam Điệp, khu công nghiệp Ninh Phúc, cụm công nghiệp Gián Khẩu....

31/12/2006 có 473,214 ngàn lao động đang làm việc trong các ngành của nền
kinh tế quốc dân trong tỉnh. Người dân Ninh Bình có nhiều ngành nghề truyền
thống nổi tiếng như thêu ren, sản xuất các sản phẩm cói, chế tác đá mỹ nghệ.
Nếu có chính sách khuyến khích thích hợp và được tổ chức tốt, đầu tư phát triển
sản xuất thì những ngành này có thể đem lại nguồn thu lớn và thu hút một khối

21


lượng lao động đáng kể trên địa bàn và góp phần làm phong phú sản phẩm du
lịch của tỉnh.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: được giữ vững và ổn
định; hệ thống Đảng, Chính quyền, các Đoàn thể nhân dân tiếp tục được xây
dựng và hoạt động có hiệu quả.
Tất cả các yếu tố trên có ảnh hưởng rất tích cực đến hoạt động du lịch, tạo
đà thuận lợi cho sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình trong xu thế hội
nhập quốc tế hiện nay.
1.2.2. Những lợi thế và tiềm năng phát triển tài nguyên du lịch của tỉnh
Ninh Bình
Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90km, Ninh Bình có vị trí chiến lược quan
trọng, nằm trên tuyến đường giao thông đường sắt, đường bộ xuyên Việt. Ninh
Bình là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu vực sông Hồng với lưu
vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc bộ với vùng núi rừng Tây Bắc của Tổ
quốc và trở thành cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa 2 miền Nam - Bắc. Với
vị trí địa lý thuận lợi, lại nằm trong vùng tiếp giáp giữ đồng bằng và vùng núi,
nằm trong một khu vực trũng tiếp giáp Biển Đông, tạo cho tỉnh một địa hình đa
dạng, có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch.
1.2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Đã từ lâu Ninh Bình được biết đến là vùng đất có nhiều danh lam thắng
cảnh thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng, quần thể hang động Tràng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status