TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
LƢƠNG THỊ THUẬN
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội - 2016
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
LƢƠNG THỊ THUẬN
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ CHIÊN
Lƣơng Thị Thuận
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 .................. 7
1.1. Tình hình phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Ninh Bình trước năm
2001 ................................................................................................................... 7
1.2. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong
những năm 2001 – 2010 .................................................................................. 20
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 34
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 .... 35
2.1. Chủ trương mới của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
về đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch ............................................................ 35
2.2. Quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình từ năm 2010 đến năm 2015 .................................................................... 42
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 49
Chƣơng 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .......................... 50
3.1. Một số nhận xét ........................................................................................ 50
3.2. Một số kinh nghiệm ................................................................................. 59
KẾT LUẬN .................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 67
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 71
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
phát triển kinh tế du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Ninh Bình là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, có nhiều
tiềm năng phát triển du lịch đa dạng và phong phú với nhiều danh hiệu di sản
thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận. Trong những
năm qua, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã và đang lãnh đạo nhân dân thực hiện
chủ trương đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đưa Ninh
Bình trở thành trung tâm du lịch cấp quốc gia và thành phố du lịch trong
tương lai.
Trong thời gian vừa qua, với sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình, hoạt động kinh tế du lịch đã đạt được rất nhiều thành tựu quan
trọng. Tỉ trọng du lịch không ngừng tăng, vấn đề quy hoạch các hoạt động du
lịch đã bước đầu đạt được hiệu quả. Đồng thời, công tác tổ chức và quản lý
của Ban tỉnh ủy, Sở văn hóa thể thao và du lịch Ninh Bình về các hoạt động
du lịch cũng chặt chẽ hơn và hợp lý hơn. Trên cơ sở đó, góp phần bảo tồn,
phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống của tỉnh và khai thác một
cách hiệu quả tiềm năng phát triển của Ninh Bình; phát triển kinh tế, tạo thêm
công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp ổn định và nâng cao
chất lượng đời sống cho nhân dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì cũng còn không ít
hạn chế về hoạt động đầu tư, phát triển du lịch, về chất lượng du lịch,… Đặc
biệt, sự kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch với môi trường vẫn chưa được
chú trọng. Do đó, tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số điểm du lịch chưa
được khắc phục. Trong vấn đề quy hoạch, tổ chức và triển khai thực hiện phát
triển kinh tế du lịch chưa đặt trong một tầm nhìn dài hạn. Một số công trình
văn hóa, kiến trúc đang có tình trạng xuống cấp, đòi hỏi phải có sự bảo tồn và
phát huy giá trị,…
2
- Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan về du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Tác giả đã trình bày khái quát các vấn đề du lịch: định ngh a du lịch, các loại
hình du lịch, các yếu tố ảnh hưởng tới du lịch,... Qua đó, giúp chúng ta có
những hiểu biết cơ bản nhất về ngành du lịch.
- Sở Du lịch Ninh Bình (2004), Non nước Ninh Bình. Tác phẩm đã giới
thiệu một cách khá đầy đủ về đất và người Ninh Bình. Đặc biệt là các điểm
dừng chân du lịch nổi tiếng nơi đây.
- Bùi Thị Hải Yến (2009), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội. Trong đó, tác giả đã giới thiệu và liệt kê các địa điểm du lịch nổi
tiếng của Việt Nam. Trong đó có các thắng cảnh của tỉnh Ninh Bình.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ đi nghiên cứu khái quát,
ở một số góc độ nhất định về du lịch và kinh tế du lịch chứ chưa đi phân tích
chi tiết, đầy đủ và một cách có hệ thống về kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2015. Các kết quả
nghiên cứu đi trước là cơ sở, nguồn tài liệu cho tác giả triển khai đề tài:
"Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001
đến năm 2015".
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình trong phát triển kinh tế du lịch của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015. Tìm
hiểu về công tác tổ chức thực hiện, chủ trương phát triển và thành tựu, hạn
chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
4
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phần làm rõ hơn chủ trương, quan điểm và thực trạng sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triển kinh tế du lịch hiện nay.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế du lịch của tỉnh
trong giai đoạn sau.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các
công trình nghiên cứu khác có liên quan tới vấn đề kinh tế du lịch.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương, 6 tiết.
6
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH NINH BÌNH
TRƢỚC NĂM 2001
1.1.1. Khái niệm du lịch, phát triển kinh tế du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch và các loại hình du lịch
Theo định ngh a của Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist
Organization): Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du
hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm
hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành
nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá
một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành
mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng
người với nhau.
Du lịch có nhiều loại hình khác nhau. Dựa trên các căn cứ khác nhau
mà có các cách phân chia khác nhau
Thứ nhất, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyển đi du lịch, du lịch
được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Du lịch quốc tế là hình
thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ
quốc gia khác nhau. Ở hình thức này, khách phải đi qua biên giới và tiêu
ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Du lịch nội địa là hình thức du lịch mà điểm xuất
phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của quốc gia
Thứ hai, căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Trên cơ sở
này, du lịch được phân chia thành những loại hình như du lịch chữa bệnh, du
lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn hóa, …
8
Thứ ba, căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi. Theo đó, du lịch được
phân thành du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân. Dù là loại hình nào trong
hình thức tổ chức du lịch theo chuyến đi thì các điều kiện ăn ở, sinh hoạt…
nơi lưu trú giữ vai trò quan trọng trong việc thu hút lượng khách du lịch ở các
vùng miền du lịch.
Ngoài các cơ sở trên, các loại hình du lịch rất phong phú và đa dạng.
loại hình du lịch còn căn cứ vào phương tiện giao thông được sử
dụng, phương tiện lưu trú và các nhu cầu của con người: du lịch sinh thái, du
lịch văn hóa....
1.1.1.2. Khái niệm kinh tế du lịch và phát triển kinh tế du lịch
Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế đ c th mang tính dịch vụ, được
xem như một ngành công nghiệp không khói”, gồm có du lịch quốc tế và du
lịch trong nước có chức năng, nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên
và cảnh quan của đất nước tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, văn hoá,
tiềm năng, thế mạnh để phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đưa kinh tế du
lịch trở thành ngành kinh tế phát triển mạnh của tỉnh.
Đối với một quốc gia nói chung, các hoạt động kinh tế du lịch có vai
trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Điều đáng nói là du lịch trở
thành ngành xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả và đầy triển vọng, đã tạo ra gần
một triệu việc làm, góp phần tích cực xóa đói, giảm nghèo và giao lưu văn
hóa, phát triển kinh tế đối ngoại (theo TS. Phạm Từ - “Du lịch- nhìn từ góc
độ kinh tế và lịch sử”, Tạp chí Cộng sản). Kinh tế du lịch phát triển kéo theo
sự phát triển của viễn thông, vận tải, cơ sở hạ tầng, vật chất k thuật,... Qua
đó, thúc đẩy tăng trưởng toàn bộ nền kinh tế nói chung của tỉnh Ninh Bình
1.1.2. Khái quát về tỉnh Ninh Bình
1.1.2.1. Về điều kiện tự nhiên
Vùng đất Ninh Bình xưa là kinh đô của Việt Nam giai đoạn (968 –
1010) với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và cũng là địa bàn quan trọng về
10
quân sự qua các thời kỳ lịch sử. Tháng 12/1991, Quốc Hội khoá VIII kỳ họp
thứ 10 quyết định tách tỉnh Ninh Bình ra khỏi tỉnh Hà Nam Ninh. Ninh Bình
trở lại tỉnh cũ khi này gồm 7 đơn vị hành chính. Đến nay, tính tới năm 2015 theo số liệu của Tổng cụ thống kê tỉnh Ninh Bình, Ninh Bình có 2 thành phố
và 6 huyện (145 đơn vị hành chính cấp xã gồm 121 xã, 17 phường và 7 thị
trấn). Bao gồm Thành phố Ninh Bình và Tam Điệp, các huyện: Nho Quan,
Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh và Kim Sơn.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực Nam miền Bắc Việt Nam,
thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Giáp với các tỉnh: Hòa Bình, Hà Nam,
Nam Định, Thanh Hóa và giáp với vịnh Bắc Bộ. Vị trí giới hạn từ 19o50 đến
20o26 v độ Bắc, từ 105o32 đến 106o20 kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 90
km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.400 km2, chiếm 0,42% diện tích cả nước.
Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh
vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa
thơm; vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải
sản; khu vực làng hoa Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch.
Về thương mại và dịch vụ, Ninh Bình rất thuận lợi cho phát triển lưu
thông hàng hóa, phát triển đa dạng các loại hình du lịch: sinh thái - nghỉ
dưỡng, văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch mạo hiểm, thể thao. Ninh Bình
đang có nhiều nỗ lực kêu gọi đầu tư vào l nh vực du lịch, dịch vụ. Tỉnh coi
đây là l nh vực kinh tế mũi nhọn.
Về giao thông, Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng, có 5
quốc lộ dàn đều trên tất cả các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh: quốc lộ
1A, 12B, 10, 38B, 45. Hiện đang có 3 dự án đường cao tốc đi qua Ninh Bình
được triển khai là: đường cao tốc Ninh Bình - Cầu Giẽ; Ninh Bình - Thanh
Hóa và Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh. Mạng lưới giao thông tỉnh lộ
khá thuận tiện với những tuyến xe buýt nội tỉnh. Về giao thông đường sắt,
12
Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp – Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt
Bắc-Nam. Về giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông hồ dày đặc.
Hệ thống đường thu gồm 22 tuyến sông trong đó Trung ương quản lý 4
tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều
dài gần 364,3 km. Có 4 cảng chính do trung ương quản lý là cảng Ninh
Bình, cảng Ninh Phúc, cảng ICD Phúc Lộc và cảng Cầu Yên.
Về con người, dân số của tỉnh Ninh Bình có hơn 940.000 người (năm
2014), hầu hết là người dân tộc Kinh, có khoảng 2 vạn người dân tộc Mường
phần lớn sống tập trung ở một số xã miền núi huyện Nho Quan và Tam Điệp.
Đại bộ phận nhân dân theo tín ngưỡng dân gian (thờ cúng tổ tiên, cha mẹ),
một bộ phận theo đạo Công giáo, đạo Phật... Đồng bào Công giáo chiếm
khoảng 16% số dân trong tỉnh, nhiều nhất là ở Kim Sơn chiếm 43,4% dân số
thác, bảo tồn tài nguyên du lịch hợp lý trước sự phát triển của kinh tế - xã hội.
1.1.3. Thực trạng phát triển kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình trước năm 2001
Từ sau khi đất nước được giải phóng (1975), nền kinh tế Việt Nam vẫn
còn rất nghèo nàn và lạc hậu. Những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại
khiến cho đời sống nhân dân thêm khó khăn. Để khắc phục khó khăn của đất
nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, năm 1986, Đảng ta đã đưa ra chính
sách đổi mới toàn diện. Trong đó, bắt đầu đề cập tới vấn đề phát triển du lịch.
Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nghị
quyết Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên,
di sản văn hóa phong phú và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác
với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch” [9, tr.350].
Ngày 14/10/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 46CT/TW về lãnh đạo đổi mới và phát triển du lịch trong tình hình mới, trong
đó nêu lên quan điểm, mục tiêu và giải pháp phát triển kinh tế du lịch đến
năm 2000. Coi phát triển kinh tế du lịch là một hướng chiến lược quan trọng
trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Có thể nói,
14
Chỉ thị 46 - CT/TW của Đảng đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển
của ngành du lịch Việt Nam.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế du lịch được xác định là
"ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước" (Nghị quyết số 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ). Vì vậy, Việt
Nam phải " hát triển mạnh du lịch, hình thành ngành công nghiệp du lịch có
quy mô ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của nước ta" mà
Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đề ra.
Ngày 24/05/1995, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 307TTg về việc hê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ
1995 – 2010 dựa trên việc phê duyệt tờ trình số 377/TCDL ngày 24/04/1995
phải nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện.
Tháng 12/1992, Đại hội đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XII họp đã
triển khai việc thực hiện phát triển kinh tế du lịch của tỉnh. Theo đó, hệ thống
các điểm du lịch Ninh Bình được quy hoạch thành 3 cụm: Cụm du lịch trung
tâm, Cụm du lịch v ng r ng, Cụm du lịch Kim Sơn. Ngoài ra còn một số điểm
rải rác khác núi Non Nước; phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn; động Tam
Giao; bãi săn bắn Ghềnh (Tam Điệp)…
Tháng 04/1996, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIII
đã họp từ ngày 25/04 đến 27/04/1996 về hương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ
và các giải pháp chủ yếu đến năm 2000 đã chỉ rõ ngành du lịch phải "tạo
bước chuyển biến thực sự mạnh mẽ, toàn diện, có hiệu quả, tương xứng với
tiềm năng, thế mạnh và vị trí của một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh" [18,
tr.47]. Đây là một chiến lược hoàn toàn đúng đắn và phù hợp của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình, dù trong lúc này trên địa bàn tỉnh chưa có đủ điều kiện đầu tư
để phát triển du lịch.
16
Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIII
(08/1996), UBND tỉnh Ninh Bình đã đưa ra kế hoạch 19/KH-UBND về việc
Thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm
2000 với mục tiêu đưa hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh hoạt động trong
khuôn khổ và có hiệu quả hơn.
Từ năm 1995 - 2000, Đảng bộ tỉnh đã tích cực triển khai dự án Quy
hoạch tăng thu du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1995 - 2010 đã được UBND
tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 949/QĐ-UB ngày 22/09/1995. Coi đây là
công cụ đắc lực và hữu hiệu cho công tác quản lý và phát triển du lịch Ninh
Bình trong thời gian tới. Theo dự án này, quy hoạch du lịch Ninh Bình bao gồm
các điểm du lịch (khu vực Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, Phát Diệm và VQG
cấp hơn, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi của cả du khách trong nước và quốc tế.
Tiêu biểu như khách sạn Thùy Anh, Kinh Đô, Hòa Bình, Thanh Bình, Thanh
Thủy, Tháng Tám. Nhìn chung, số lượng khách du lịch lưu trú đã tăng lên
đáng kể. Năm 1995, toàn tỉnh đã có 25 cơ sở lưu trú với 240 phòng. Năm
2000, toàn tỉnh có 35 cơ sở lưu trú và 500 phòng nghỉ. Trong đó có 18 khách
sạn, 10 nhà nghỉ, nhà khách, 7 khu du lịch và 1 làng du lịch; 12 cơ sở đạt
chuẩn, 1 cơ sở sếp hạng 2 sao. Tuy nhiên, về cơ bản, quy mô các cơ sở lưu trú
trên địa bàn tỉnh còn nhỏ, trang thiết bị còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu
ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch thương mại.
Các cơ sở phục vụ ăn uống trong tỉnh cũng được nâng cấp. Theo thống
kê của Sở du lịch tỉnh Ninh Bình, năm 2000 cả tỉnh Ninh Bình có 13 cơ sở
phục vụ ăn uống với 2.134 ghế.
Bên cạnh đó, Đảng bộ cũng đẩy mạnh công tác quảng bá qua báo Ninh
Bình, báo Nhân dân, tạp chí Du lịch,...Tổ chức các hội chợ, hội thảo để quảng
bá du lịch. Từng bước sửa chữa, nâng cấp, hoàn chỉnh các biển chỉ dẫn, các
biển quảng cáo du lịch. Hàng năm, phối hợp với Sở văn hóa thông tin và các
18
ban ngành tổ chức thành công lễ hội Trường Yên, nhà thờ đá Phát Diệm,...thu
hút ngày càng nhiều khách du lịch về Ninh Bình hơn.
Năm 2000, Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình đã tổ chức các lớp tập huấn, học
tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức và khảo sát kinh nghiệm thực tế tại các
tỉnh miền Trung, tham gia triển lãm các gian hàng của Hội chợ Xuân Du lịch văn hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đạt 5 giải toàn quốc.
Trong 5 năm 1995 - 2000, du lịch Ninh Bình đã đón được gần 1,8 triệu
lượt khách, số lượng khách quốc tế ngày một tăng. Doanh thu du lịch đạt
119,83 tỉ đồng. Trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII của BCH Đảng bộ tỉnh
Ninh Bình đã chỉ rõ: "Ngành du lịch đã xây dựng được quy hoạch tổng thể