TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIẢO DỤC CHÍNH TRỊ
LƯONG THỊ THUẬN
ĐẢNG Bộ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TÉ DU LICH
TỪ NĂM 2001 ĐÉN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội - 2016
LƯONG THỊ THUẬN
ĐÁNG BO TÍNH NINH BÌNH LẢNH ĐAO
••
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS. TRẦN THỊ CHIÊN
Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong
Khoa Giáo dục Chính trị đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và
(UNWTO) được tổ chức tại Medellin, Colombia ngày 12 - 17/09/2015 đã tổng
kết: "Năm 2014, vượt qua nhiều thách thức, du lịch quốc tế đã chạm mốc kỷ lục
1.133 triệu lượt khách, đem lại doanh thu xuất khẩu lên đến 1,5 tỷ đô la Mỹ,
chỉ tiêu du lịch cũng tăng trưởng tương ứng, đạt 1,246 tỷ USD. Du lịch hiện
đang trở thành ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các
ngành sản xuất ô - tô, xe máy, kinh doanh vải vóc và thiết bị điện tử". Chính vì
vậy, không ít quốc gia đã thành lập Bộ Du lịch, hoặc gắn Du lịch trong những
bộ kinh tế lớn. Đây là hướng đi đúng đắn và cần thiết, là yêu cầu tất yếu đặc
biệt là với các quốc gia đang phát triển ừong quá trình CNH, HĐH đất nước.
Có thể nói rằng, phát triển du lịch hiện nay đang là một trong những
định hướng phát triển quan trọng của Việt Nam. Với một bề dày văn hóa qua
hàng nghìn năm lịch sử, ưu đãi do thiên nhiên ban tặng với đày đủ các loại hình
cảnh quan, sinh vật đa dạng, Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế
du lịch. Nghị quyết số 92/NQ-CP về Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du
lịch Việt Nam trong thời kỉ mới ngày 08/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ đã
khẳng định:
Ngành du lịch đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào
phát triển kỉnh tế - xã hội; góp phàn chuyển dịch cơ cấu kỉnh tế; thu hút đàu tư;
tạo nhiều việc làm; xóa đói giảm nghèo; nâng cao dân trí; bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa dân tộc; xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước, con
người Việt Nam năng động, thân thiện và hòa bình [7, tr. 1].
Vì vậy, Việt Nam cần khai thác, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tài
nguyên du lịch của đất nước. Đồng thời, tận dụng cơ hội thuận lợi ừong nước
và quốc tế, tạo bước phát triển đột phá cho ngành du lịch trong thời kỳ mới, đưa
5
phát triển kinh tế du lịch thực sự trở thảnh ngành kinh tế mũi nhọn.
Ninh Bình là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, có nhiều
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề du lịch và kinh tế du lịch, có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu như:
-
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
(2010), Địa chỉ Ninh Bình. Tác phẩm chỉ ra một cách khá rõ ràng về vị
trí, tiềm năng phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Bình.
-
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Ninh Bình (2013), Phát triển bền vững du lịch
Ninh Bình, in tại công ty TNHHTM&DV Hà Phương, Ninh Bình.
Cuốn sách cung cấp những thông tin, tư liệu, nhận thức cập nhật và một
số kinh nghiệm ừong và ngoài nước về phát triển du lịch bền vững. Đánh giá
thực trạng phát triển của du lịch Ninh Bình, từ đó đưa ra một số giải pháp phát
triển du lịch bền vững càn quán triệt.
-
Đinh Trung Kiên (2006), Một sổ vẩn đề về du lịch Việt Nam, Nxb Đại
học quốc gia, Hà Nội. Tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về du
lịch. Đồng thời phân tích về các thành tựu, hạn chế, các tiềm năng và thế
mạnh của du lịch Việt Nam ừong giai đoạn hiện nay
-
Phạm Văn Khoản (2013), “Đảng bộ Ninh Bình lãnh đạo phát triển du
lịch giai đoạn từ 2001 - 2010”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
tiết, đày đủ và một cách có hệ thống về kinh tế du lịch tỉnh Ninh Bình dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2015. Các kết quả nghiên cứu
đi trước là cơ sở, nguồn tài liệu cho tác giả triển khai đề tài: "Đảng bộ tình
Ninh Bình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2015".
3. Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
trong phát triển kinh tế du lịch của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015. Tìm hiểu
về công tác tổ chức thực hiện, chủ trương phát triển và thành tựu, hạn chế trong
quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
3.2.
Phạm vỉ nghiên cứu
về nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu về quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tinh Ninh Bình
về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm
2001 - 2015
8
về không gian: Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Ninh Bình
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.
Mục đích nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh mà chủ yếu là phép biện chứng duy vật; các chủ trương,
đường lối phát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình; những quan điểm của các nhà nghiên cứu về du lịch ừong và
ngoài nước. Ngoài ra, tác giả còn kết họp với một số phương pháp khác: lịch sử
- logic, phân tích, tổng hợp, liệt kê,...
9
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận góp phàn làm rõ hơn chủ trương, quan điểm và thực trạng sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về phát triển kinh tế du lịch hiện nay.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế du lịch của tỉnh trong
giai đoạn sau.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các
công trình nghiên cứu khác có liên quan tới vấn đề kinh tế du lịch.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phàn mở đàu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương, 6 tiết.
1
0
Chương 1
ĐẢNG Bộ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1.
của khách cùng nằm trong lãnh thổ của quốc gia
Thứ hai, căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Trên cơ sở
này, du lịch được phân chia thành những loại hình như du lịch chữa bệnh, du
lịch nghỉ ngơi, giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn hóa,...
Thứ ba, căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi. Theo đó, du lịch được
phân thành du lịch theo đoàn và du lịch cá nhân. Dù là loại hình nào trong hình
thức tổ chức du lịch theo chuyến đi thì các điều kiện ăn ở, sinh hoạt... noi lưu
trú giữ vai ừò quan trọng ừong việc thu hút lượng khách du lịch ở các vùng
miền du lịch.
Ngoài các cơ sở trên, các loại hình du lịch rất phong phú và đa dạng, loại
hình du lịch còn căn cứ vào phương tiện giao thông được sử dụng, phương tiện
lưu trú và các nhu cầu của con người: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa....
1.1.1.2.
Khái niệm kinh tể du lịch và phát triển kỉnh tế du lịch
Kỉnh tể du lịch là một loại hình kinh tế đặc thù mang tỉnh dịch vụ, được
xem như một ngành “công nghiệp không khói ”, gồm có du lịch quốc tế và du
lịch trong nước; có chức năng, nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên
và cảnh quan của đất nước (tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, vãn hoá, lịch
sử...) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất
nhập khẩu tại chỗ hàng hoá và dịch vụ cho khách du lích. Là một ngành công
nghiệp dịch vụ thu ngoại tệ, góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập
quốc dân. [11, tr.586]
Kinh tế du lịch là một ngành kinh tế tổng họp có liên quan mật thiết đến
nhiều ngành kinh tế khác, trước hết là kinh tế đối ngoại, với nhiều ngành văn
hoá, xã hội và mang tính nhân bản, văn hoá, tính dân tộc ngày càng cao. Kinh tế
du lịch có nhiều nội dung và hình thức phong phú đa dạng, như du lịch thắng
1.1.2.1.
về điều kiện tự nhiên
Vừng đất Ninh Bình xưa là kinh đô của Việt Nam giai đoạn (968 - 1010)
với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và cũng là địa bàn quan trọng về quân sự
qua các thời kỳ lịch sử. Tháng 12/1991, Quốc Hội khoá VIII kỳ họp thứ 10
quyết định tách tỉnh Ninh Bình ra khỏi tính Hà Nam Ninh. Ninh Bình trở lại
tỉnh cũ khi này gồm 7 đơn vị hành chính. Đen nay, tính tới năm 2015 - theo số
liệu của Tổng cụ thống kê tỉnh Ninh Bình, Ninh Bình có 2 thành phố và 6
huyện (145 đơn vị hành chính cấp xã gồm 121 xã, 17 phường và 7 thị trấn).
Bao gồm Thành phố Ninh Bình và Tam Điệp, các huyện: Nho Quan, Gia Viễn,
Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh và Kim Sơn.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực Nam miền Bắc Việt Nam,
thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Giáp vói các tỉnh: Hòa Bình, Hà Nam,
Nam Định, Thanh Hóa và giáp với vịnh Bắc Bộ. Vị trí giói hạn từ 19°50 đến
20°26 vĩ độ Bắc, từ 105°32 đến 106°20 kinh độ Đông, cách Thủ đô Hà Nội 90
km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.400 km2, chiếm 0,42% diện tích cả nước.
Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình
được chia làm 3 vùng địa hình khá rõ: Vùng núi chiếm 40% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh, bao gồm các huyện ở phía Tây Bắc: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư,
Tam Điệp; còn lại đồng bằng và vùng ven biển chiếm 60%, gồm hai huyện Kim
Sơn và Yên Khánh ở phía Đông Nam. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng
chuyển tiếp.
Ninh Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu ven
biển. Nhiệt độ trung bình hàng năm khảng 23,5°c. Độ ẩm tương đối trung bình:
80-85%. Đá vôi là nguồn tài nguyên lớn nhất của Ninh Bình. Với những dãy
núi đá vôi khá lớn, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua Nho Quan, Gia
quốc lộ dàn đều ừên tất cả các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh: quốc lộ 1A,
12B, 10, 38B, 45. Hiện đang có 3 dự án đường cao tốc đi qua Ninh Bình được
triển khai là: đường cao tốc Ninh Bình - cầu Giẽ; Ninh Bình - Thanh Hóa và
Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh. Mạng lưới giao thông tỉnh lộ khá thuận
tiện với những tuyến xe buýt nội tính, về giao thông đường sắt,
Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp - Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt BắcNam. về giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông hồ dày đặc. Hệ
thống đường thuỷ gồm 22 tuyến sông trong đó Trung ưomg quản lý 4 tuyến
(sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều dài gần
364,3 km. Có 4 cảng chính do trung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng
Ninh Phúc, cảng ICD Phúc Lộc và cảng càu Yên.
về con người, dân số của tỉnh Ninh Bình có hơn 940.000 người (năm
2014), hầu hết là người dân tộc Kinh, có khoảng 2 vạn người dân tộc Mường
phần lớn sống tập trung ở một số xã miền núi huyện Nho Quan và Tam Điệp.
Đại bộ phận nhân dân theo tín ngưỡng dân gian (thờ cúng tổ tiên, cha mẹ), một
bộ phận theo đạo Công giáo, đạo Phật... Đồng bào Công giáo chiếm khoảng
16% số dân trong tỉnh, nhiều nhất là ở Kim Sơn chiếm 43,4% dân số toàn
huyện.
về văn hóa, Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc,
đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình
tương đối năng động. Thế kỷ XVI - XVII, đạo Công giáo được truyền vào Ninh
Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáo Phát Diệm. Bên cạnh văn hoá
của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Hệ
thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình khá đa dạng gắn liền với tín
ngưỡng thờ Vua, thờ Thánh, thờ Thần. Là địa phương có bề dày truyền thống
lịch sử nên ừên địa bàn tỉnh có nhiều di tích được xếp hạng với 1 di sản văn hóa
và thiên nhiên thế giới, 79 di tích cấp quốc gia, 235 di tích cấp tỉnh, có 7 khu du
lịch chính và 228 lễ hội.
Đặc biệt, tỉnh nổi tiếng với nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc như: Lễ hội cố
phát triển kinh tế du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Có thể nói,
Chỉ thị 46 - CT/TW của Đảng đã mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển của
ngành du lịch Việt Nam.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, kinh tế du lịch được xác định là
"ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kỉnh tế - xã hội của đất
nước” (Nghị quyết số 45/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ). Vì vậy, Việt Nam
phải "Phát triển mạnh du lịch, hình thành ngành công nghiệp du lịch có quy mô
ngày càng tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của nước ta" mà Nghị quyết
của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã đề ra.
Ngày 24/05/1995, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 307TTg về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ
1995 - 2010 dựa ừên việc phê duyệt tờ trình số 377/TCDL ngày 24/04/1995 của
Tổng cục Du lịch Việt Nam. Theo đó, đưa ra các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu
cần đạt và một số các giải pháp thực hiện.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Nam Hà (hiện
nay là Hà Nam và Nam Định) và Ninh Bình. Tỉnh Hà Nam Ninh được thành
lập. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết
chia tỉnh Hà Nam Ninh để tái lập tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình. Tỉnh Ninh
Bình lúc này gồm 2 thị xã Ninh Bình (tỉnh lị), Tam Điệp và 5 huyện Gia Viễn,
Hoa Lư, Hoàng Long, Kim Sơn, Tam Điệp.
Trong bối cảnh đất nước còn có nhiều khó khăn nên nhìn chung kinh tế
du lịch ở Ninh Bình trong thời kì này chưa được quan tâm, chú trọng. Bởi lẽ, để
giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm cho nhân dân mà thời gian này lãnh
đạo tỉnh chỉ tập trung vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Ninh Bình
là địa phương có tài nguyên du lịch phong phú. Tuy nhiên từ những thập niên
trước đến khi tái lập tỉnh (năm 1992), du lịch và các hoạt động du lịch phần lớn
(08/1996), ƯBND tỉnh Ninh Bình đã đua ra kế hoạch 19/KH-UBND về việc
Thúc đẩy hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm
2000 với mục tiêu đua hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh hoạt động ừong
khuôn khổ và có hiệu quả hon.
Từ năm 1995 - 2000, Đảng bộ tỉnh đã tích cực triển khai dự án Quy
hoạch tăng thu du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1995 - 2010 đã được ƯBND
tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 949/QĐ-UB ngày 22/09/1995. Coi đây là công
cụ đắc lực và hữu hiệu cho công tác quản lý và phát triển du lịch Ninh Bình
trong thời gian tới. Theo dự án này, quy hoạch du lịch Ninh Bình bao gồm các
điểm du lịch (khu vực Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động, Phát Diệm và VQG Cúc
Phưong), 4 cụm du lịch, 6 tuyến du lịch và 8 dự án đầu tư theo lãnh thổ.
Ngày 20/12/1997, UBND tỉnh ra Quyết định số 1713/QĐ-UB phê duyệt
dự án Quy hoạch phát triển khu du lịch Tam Cốc - Bích Động nhằm đưa khu
vực này ừở thành một ừong những ừọng điểm du lịch của tỉnh. UBND tỉnh
cũng phê duyệt các dự án đầu tư vào khu du lịch sinh thái Vân Long, cụm du
lịch nhà thờ đá và các cơ sở du lịch ven sông Kim Sơn, dự án du lịch Cồn Thoi
- Hòn Nổi. Đây là những lợi thế đối với sự phát triển du lịch Ninh Bình trong
giai đoạn mới.
Năm 2000, toàn ngành có 5.500 lao động do Sở du lịch Ninh Bình trực
tiếp quản lý. Trong đó, có 338 lao động làm việc trực tiếp trong các doanh
nghiệp do Sở trực tiếp quản lý, với số đó gồm 23 lao động có trình độ đại học
và cao đẳng, 121 lao động có trình độ trung cấp, 79 lao động có trình độ ngoại
ngữ. Thu nhập bình quân tháng của mỗi lao động đạt trung bình 400.000
đồng/tháng. So với thời kì trước thì đây là bước tiến có ý nghĩa rất lớn dối với
sự phát triển vững chắc của du lịch Ninh Bình giai đoạn sau này.
Ngành du lịch đã tăng cường đàu tư cơ sở hạ tàng ở một số điểm du lịch:
Cố đô Hoa Lư, Tam Cốc,...Dự án Quy hoạch chi tiết khu du lịch Tam Cốc Bích Động năm 1997 được phê duyệt đã xác định đầu tư đường bộ từ quốc lộ
1A vào Tam Cốc - Bích Động và tiếp tục dự án đầu tư, cải tạo bến thuyền và
hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đạt 5 giải toàn quốc.
Trong 5 năm 1995 - 2000, du lịch Ninh Bình đã đón được gần 1,8 triệu
lượt khách, số lượng khách quốc tế ngày một tăng. Doanh thu du lịch đạt
119,83 tỉ đồng. Trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ phát triển kỉnh tế - xã hội
được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII của BCH Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình đã chỉ rõ: "Ngành du lịch đã xây dựng được quy hoạch tổng thể 1995 2010, hình thành và bước đầu đi vào khai thác một sổ điểm du lịch trong tỉnh,
sổ khách đến du lịch ngày càng đông, doanh thu ngày càng tăng”.
Tuy nhiên, tốc độ phát triển kinh tế du lịch chưa tương xứng với tiềm
năng và thế mạnh của tỉnh. Việc đàu tư cơ sở hạ tàng mới chỉ bắt đàu, dàn trải,
việc thu hút đầu tư du lịch còn hạn chế. Hoạt động du lịch đa phần mới chỉ
dừng lại ở du lịch tự nhiên, chưa tạo ra được sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút
du khách. Môi trường và cảnh quan du lịch tự nhiên có tình trạng bị xâm hại do
không quy hoạch hợp lý. Các cơ sở lưu trú chưa đạt chất lượng cao. Đội ngũ
cán bộ quản lý du lịch còn thiếu và yếu hiểu biết về pháp luật, trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch trong tình hình
mới.
Có thể nói, mặc dù chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể, đồng bộ
song với một số chính sách ban đầu, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã tạo ra được
môi trường thuận lợi cho sự phát triển du lịch (1995 - 2000). Bước đầu khai
thác có hiệu quả hơn những thế mạnh và tiềm năng vốn có của tỉnh, tạo cơ sở
vững chắc cho sự phát triển du lịch trong những năm tiếp theo, hoàn thành mục
tiêu mà Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh đã đề ra đến năm 2000:
"Phẩn đẩu để tình ta sớm trở thành một trong những trung tâm du lịch của đất
nước" [18, tr.47].
Như vậy, có thể thấy rằng, số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch
hạn chế; sự nghèo nàn về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật cũng như sự yếu kém
cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ừong hoạt động kinh tế du lịch
chính là những hạn chế cơ bản của kỉnh tế du lịch Ninh Bình thời kì trước năm
Cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.
Ngày 29/04/2003, Thủ tướng Chính phủ đưa ra Quyết định số
82/2003/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch Tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy
giá trị khu di tích lịch sử - văn hóa cổ đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Để đáp ứng
yêu cầu phát triển du lịch trong thòi kỳ mới, ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7,
Quốc hội khóa X đã thông qua Luật du lịch sổ 44/2005/QH11 thay thế Pháp
lệnh Du lịch năm 1999. Ngày 29/7/2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ra
Quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ban hành Quy chế bảo vệ môi trường
trong lmh vực du lịch.
Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ X của Đảng (tháng 4/2006) xác định:
“Khuyến khích đầu tư phát triển và năng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch" [10, tr.201-202].
Ngày 21/09/2007, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra Quyết định số
564/QĐ-BVHTTDL về việc Ban hành Chương trình hành động của ngành du
lịch Việt Nam. Tiếp đó, ngày 25/12/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 63/2008/QĐ-TTg Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cẩu
tổ chức của Tổng cục du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Năm
2009, để hạn chế những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tận
dụng thời cơ thúc đẩy tăng trưởng du lịch, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã