MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
Chương 1. Cơ sở hình thành chủ trương phát triển kinh tế của
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
1.1 Chủ trương phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh
cách mạng của Đảng bộ, nhân dân Hoà Bình
Chương 2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
thực hiện phát triển kinh tế từ 1991 đến 2000
2.1 Đảng bộ tỉnh Hòa Bình vận dụng chủ trương của Đảng lãnh đạo
đẩy mạnh phát triển kinh tế ở địa phương (1991-1995)
2.2 Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2000)
1
9
9
20
33
33
66
Chương 3. Kết quả và một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1991 đến
thực hiện đường lối đổi mới, Đảng, Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính
sách thể hiện sự đổi mới tư duy kinh tế. Nhờ đó kinh tế nước ta đạt tốc độ
tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, cơ cấu kinh tế có bước chuyển
dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh
trong nhiều năm qua đã phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn, thách thức,
từng bước thực hiện quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Nhiều tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần
làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của nhân dân, góp phần củng cố
vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy
tín của nước ta trên trường quốc tế.
Hòa Bình là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, cửa ngõ của thủ đô Hà Nội.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tỉnh Hòa Bình có tiềm năng phát triển kinh
tế - xã hội. Tuy nhiên, những năm trước đổi mới, tỉnh vẫn còn nhiều khó
khăn. Từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986), đặc
biệt từ sau khi tái lập tỉnh (1991), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hòa Bình từng
bước khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế, khơi dậy mọi tiềm năng, phát
triển kinh tế - xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa kinh tế Hòa Bình phát triển mạnh mẽ, góp phần
thực hiện mục tiêu mà Đại hội IX đã đề ra là đến năm 2020, Việt Nam cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
1
Trong qúa trình phát triển kinh tế từ năm 1991 đến 2000, bên cạnh
những thuận lợi, Hòa Bình còn gặp phải những hạn chế và đối mặt với nhiều
thách thức mới nảy sinh. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào,
phát triển kinh tế tỉnh theo mô hình nào, ngành nào được chọn là ngành mũi
nhọn là những vấn đề đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình tìm câu trả
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thì phải phát triển những ngành kinh tế mũi
nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế sẵn có của từng vùng. Luận văn sẽ vận
dụng và so sánh khi nói về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát
triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với tiềm năng ở trong tỉnh Hoà Bình.
TS. Đặng Văn Thắng, TS. Phạm Ngọc Dũng, “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và triển
vọng”, NXB CTQG, H, 2003. Nhóm tác giả đề cập đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp phù hợp với một vùng trọng điểm kinh tế là
đồng bằng sông Hồng, nêu lên những thực trạng kinh tế hiện tại và triển vọng
phát triển trong tương lai. Đây là cơ sở để luận văn vận dụng váo tìm hiểu
thực trạng kinh tế và triển vọng phát triển của một vùng, một tỉnh.
Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề tương tự như: PGS.TS
Phan Thanh Phố, “Những vấn đề cơ bản về kinh tế và đổi mới kinh tế ở Việt
Nam, NXB Giáo dục, H, 1996; PGS.TS Nguyễn Văn Khanh, “Biến đổi cơ cấu
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ
đổi mới”, NXB CTQG, H, 2003; Davit Dapice: Việt Nam cải cách kinh tế
theo hướng rồng bay, NXB CTQG, H, 1994…
Nhóm các đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sỹ chuyên
ngành kinh tế, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam viết về lĩnh
vực này như:
Phạm Nguyên Nhu,“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, ĐHQG Hà Nội, năm 1999. Luận
3
văn đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung ở nước ta, nêu lên những thành tựu,
hạn chế và bài học kinh nghiệm. Đây là cơ sở để luận văn kế thừa và vận
dụng.
kinh tế nông nghiệp là phát triển kinh tế hộ nông dân ở vùng đồi núi của tỉnh
Hoà Bình theo hướng sản xuất hàng hoá, nêu lên những thực trạng và giải
pháp để phát triển theo hướng đã đề ra.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí, báo Trung ương và
địa phương: “Du lịch Hoà Bình nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội
nhập quốc tế”, tạp chí Du lịch Việt Nam, số 4, năm 2005; “Du lịch Hoà Bình
nhìn từ góc độ toàn cảnh” của Lương Công Chính, tạp chí Du lịch Việt Nam,
số 6, năm 2005; “Hoà Bình thu hút các nguồn vốn đầu tư để khai thác tiềm
năng”, tạp chí Đông Nam Á, số 8, năm 2005; “Những bước đi vững chắc của
công ty thuỷ lợi Hoà Bình”, tạp chí Đông Nam Á, số 8, năm 2005; “Hoà Bình
phía trước là những con đường” của Bùi Văn Thắng, Thương Mại tạp chí, số
27, năm 2005...
Các công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế ở đồng bằng sông Hồng hoặc cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nước ta…Một vài công trình có đề cập đến sự phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa ở một số tỉnh và ở Hòa Bình nhưng
chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách cụ thể về Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình lãnh đạo phát triển kinh tế từ 1991 đến 2000.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hòa Bình vận dụng đúng đắn, sáng tạo
đường lối của Trung ương trong lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế ở địa
phương từ năm 1991 đến 2000.
5
- Đánh giá bước đầu những thành tựu và hạn chế của quá trình phát
triển kinh tế ở Hòa Bình những năm 1991 đến 2000.
- Nêu lên một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ Hòa Bình trong
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh về lãnh đạo phát triển kinh tế.
- Các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX và Nghị quyết Trung
ương Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị các khóa VI, VII, VIII, IX về phát triển
kinh tế.
- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình, Nghị quyết của Tỉnh
ủy, một số huyện ủy tiêu biểu về kinh tế; báo cáo hàng năm của Tỉnh ủy,
UBND tỉnh, báo cáo hàng năm của Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Công nghiệp,
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Thương mại, Niên giám thống kê
tỉnh, báo Hòa Bình; tài liệu khảo sát thực tế…
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
trong lãnh đạo phát triển kinh tế ở địa phương từ năm 1991 đến 2000.
- Khẳng định những thành tựu và nêu ra một số hạn chế của quá trình
phát triển kinh tế góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Hòa Bình từ năm 1991 đến 2000.
- Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong lãnh đạo,
chỉ đạo phát triển kinh tế trong thời gian 1991-2000.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo trong giảng dạy và
nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương thời kỳ đổi mới.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ
tỉnh Hòa Bình
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình thực hiện
phát triển kinh tế từ 1991 đến 2000
phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
9
Đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là vì mục tiêu
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trước
hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tạo cho nông
nghiệp, nông thôn những điều kiện cần thiết về vật chất - kỹ thuật, về con
người, khoa học và công nghệ.
Một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là
xác lập cơ cấu kinh tế mới, hợp lý tiến lên hiện đại. Cơ cấu kinh tế mới là cơ
cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là nhiệm vụ chiến lược, phù hợp thực tiễn khách quan nhằm khai thác tối ưu
lợi thế các ngành, các lĩnh vực, các vùng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ là quá trình chuyển nền
kinh tế có cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công
nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là
giá trị sản xuất của ba ngành trên đều tăng qua các giai đoạn nhưng tỷ trọng
của ngành nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng, tỷ
lệ lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao động trong công
nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
Quá trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta là một quá trình phức tạp kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ, đòi hỏi
Đảng và Nhà nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong cả nước
phải quan tâm lãnh đạo, phải tìm tòi để xây dựng một nền kinh tế có cơ cấu
hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh
thời nông nghiệp cũng chỉ phát triển được khi có sự tác động hỗ trợ của
công nghiệp; do đó phải chú trọng phát triển công nghiệp. Công nghiệp
phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa. Công nghiệp,
nông nghiệp phát triển thì dân giàu, nước mạnh.
11
Như vậy, theo Hồ Chí Minh muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải
phát tiển kinh tế công nghiệp và nông nghiệp, vì hai ngành đó quan hệ
khăng khít với nhau.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng, là cơ sở quan trọng
để xây dựng chủ trương đường lối về phát triển các ngành kinh tế, cơ cấu
kinh tế hợp lý, phù hợp với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời
kỳ quá độ.
Nhận thức và quán triệt những nguyên lý phổ biến có tính quy luật
về con đường công nghiệp hóa, đưa nền kinh tế sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn hiện đại ở các nước tiểu nông của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với
những tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường
lối, chủ trương phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm, chủ trương về
phát triển kinh tế của Đảng là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn
thiện qua các kỳ đại hội, các hội nghị Trung ương, Bộ chính trị các Khóa
VI, VII, VIII, IX.
Với tinh thần đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, tại
Đại hội VI (12-1986), để đưa nền kinh tế phát triển, Đảng ta đã chỉ rõ:
“Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải
dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các
ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có quy mô và
trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù
đổi mới, khẳng định một trong những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh
tế là: “Những kết quả thực hiện các mục tiêu của ba chương trình kinh tế
gắn liền với những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu
tư và bố trí lại cơ cấu kinh tế” [ 17, tr.19-20].
13
Cũng tại Đại hội này, Đảng ta đã đề ra những định hướng lớn trong
chính sách kinh tế, trong đó có quan điểm phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế
gắn liền với quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hóa, thoát khỏi tình trạng
nông nghiệp lạc hậu. Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu
như sau: Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định tình hình
kinh tế - xã hội; tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp, mở rộng kinh tế
dịch vụ theo hướng huy động triệt để các khả năng sản xuất hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu; đẩy mạnh thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và một
số loại khoáng sản; lựa chọn để phát triển một số ngành công nghiệp ưu
tiên, phát triển điện, giao thông thủy lợi và thông tin liên lạc.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được thông qua tại Đại hội VII cũng chỉ rõ: “Khi kết thúc thời kỳ quá
độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày
càng sâu rộng” [17, tr.12]. Trong quá trình phát triển kinh tế nền kinh tế
quốc dân sẽ gồm nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công
nghệ. Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và
xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đẩy mạnh công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại,
phát triển kinh tế dịch vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng. Xây dựng nền
công nghiệp nặng với bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp
đánh giá đúng thực trạng công nghiệp và công nghệ nước ta; xác định mục
tiêu chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp và công nghệ nước ta
đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xác định rõ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình chuyển đổi cơ bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử
15
dụng lao động thủ công là chính sang lao động sử dụng một cách phổ biến
sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến,
hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động cao. Nghị quyết chỉ rõ: “Mục tiêu
lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một
nước công nghiệp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức
sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng - an ninh vững
chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [22, tr.70].
Nghị quyết hội nghị Trung ương 7 khóa VII đã đưa ra 3 chủ trương
lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
những năm tới là: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế
nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp
chế biến; phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu; mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông
thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác.
Bước sang năm 1996, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã
ngày càng được xác định rõ hơn. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình
quốc tế hóa nền kinh tế. Nước ta cũng như các nước khác đều có những cơ
hội phát triển. Xuất phát từ kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới, tại Đại
hội VIII (6/1996), Đảng ta quyết định chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
hàng hải, bưu chính - viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng,
kiểm toán, bảo hiểm, công nghệ, các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân.
“Từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ
có tầm cỡ trong khu vực” [24, tr.89].
Mở rộng và nâng cao hiệu qủa kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất
khẩu và coi xuất khẩu là hướng ưu tiêu, là trọng điểm của kinh tế đối
ngoại, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới… [24, tr.90-91].
17
Đại hội VIII đề ra định hướng phát triển kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế lãnh thổ trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế, tiềm năng
của nhiều vùng liên kết hỗ trợ nhau làm cho tất cả vùng đều phát triển.
Tiếp đó, tháng 12/1997, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá VIII về “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã
hội đến năm 2000” đã chỉ rõ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa. Nghị quyết xác
định những việc cần tập trung thực hiện: đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết vấn đề
thị trường tiêu thụ nông sản, phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác,
đổi mới hoạt động các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn,
phát triển các cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa.
Cụ thể hóa hơn nữa chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp - nông
thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tháng 4/1998, Bộ chính trị
ra Nghị quyết 10 về “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Nghị quyết nhấn
mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là phải tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ
nghiệp.
Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
ngày 15/6/2000, Chính phủ ra Nghị quyết 09 về một số chủ trương và
chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Nghị quyết 09 của Chính phủ cho phép giảm diện tích lúa cả nước từ 4,3
triệu ha xuống còn khoảng 4 triệu ha, tập trung sản xuất lúa ở những vùng
19
trọng điểm thích hợp nhất đối với cây lúa; các địa phương chuyển những
vùng trồng lúa bấp bênh sang sản xuất những sản phẩm khác phù hợp và có
giá trị kinh tế cao.
Đường lối và những quan điểm chỉ đạo qúa trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của Đảng thể hiện quá trình phát triển
nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta nhằm phấn đấu đến năm 2020 đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Những quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế, về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn…được quán triệt vận dụng
sáng tạo và triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước. Đây là nền tảng, là cơ
sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đề ra chủ trương, biện pháp, chỉ đạo
thực hiện phát triển kinh tế của tỉnh từ khi tái lập (1991) đến năm 2000.
1.2 Điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh
cách mạng của Đảng bộ, nhân dân Hoà Bình
1.2.1 Khái lược về lịch sử hình thành và truyền thống đấu tranh cách
mạng của Đảng bộ, nhân dân Hoà Bình
Tỉnh Hoà Bình nằm trên địa bàn cư trú cổ xưa của người dân Việt Nam,
giáp ranh giữa vùng rừng núi Tây Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá.
sự ưu việt của nó, đã dẫn tới việc thành lập nhà nước Văn Lang và tiếp đó là
Âu Lạc, kinh đô chuyển từ miền núi về miền đồng bằng, với sự phổ biến của
đồ đồng mà tiêu biểu là trống đồng.
Sự khác nhau về nguồn sống của người Lạc Việt ở đồng bằng và ở
miền trung du, miền núi là cơ sở kinh tế của sự phân hoá Việt Mường vốn có
chung một nguồn gốc. Vậy sự phân hoá Việt - Mường bắt đầu từ bao giờ và
kết thúc lúc nào - đó là một vấn đề khoa học hết sức phức tạp và chưa có ý
kiến thống nhất trong giới nghiên cứu.Các quan điểm đưa ra những mốc thời
21
gian rất khác nhau. Vấn đề phân hoá Việt - Mường vẫn đang chờ đợi những
kết quả nghiên cứu có sức thuyết phục của các nhà khoa học.
Vào năm 179 trước Công nguyên, nước Âu Lạc của An Dương Vương
bị Triệu Đà xâm chiếm. Từ đó, nước ta bị phương Bắc đô hộ, gọi là thời kỳ
Bắc thuộc, kéo dài hơn 1.000 năm. Đến năm 938, chiến thắng Bạch Đằng
vang dội do Ngô Quyền lãnh đạo đã chấm dứt hơn một nghìn năm áp bức của
phong kiến phương Bắc. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Hoà Bình nằm trong quận
Vũ Bình (thời thuộc Ngô và Tần); huyện Tây Vu (thời thuộc Tây Hán); huyện
Long Bình và huyện Gia Ninh (thời thuộc Tuỳ). Đến thế kỷ X, nước ta giành
được độc lập. Từ đó, Hoà Bình thuộc quận Phong Châu (hay còn gọi là
Thượng Oai). Hoà Bình trải qua thời kỳ phong kiến độc lập cho đến thế kỷ
XIX, khi thực dân Pháp thiết lập chế độ cai trị thực dân trên đất nước ta (trừ
20 năm nước ta bị nhà Minh xâm lược và đô hộ vào đầu thế kỷ XV).
Trong thời kỳ Bắc thuộc cũng như trong thời kỳ phong kiến tự chủ, đối
với các vùng rừng núi, nhà nước đô hộ phương Bắc và nhà nước phong kiến
trung ương thường giao quyền tự quản cho các thủ lĩnh địa phương. Triều
đình giao việc cai trị các mường (vùng), sách động cho các động chủ, phụ đạo
huyện, thổ tù, các “man” trưởng - tù trưởng, quan lang ở địa phương. Họ
xấu chia cho dân bản. Dân bản phải làm xâu, làm nõ để canh tác ruộng lang.
Chế độ xâu, nõ hết sức nặng nề. Cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
chế độ tư hữu ruộng đất vẫn chưa phát triển.
Thứ hai là trong xã hội Mường, xã hội Thái hình thành hai đẳng cấp rõ
rệt: đẳng cấp quan lang, quan tạo và đẳng cấp dân thường. Quan lang, quan
tạo là đẳng cấp quý tộc, thống trị. Dân là đẳng cấp bị trị. Đứng đầu đẳng cấp
quan lang là lang cun, đứng đầu đẳng cấp quan tạo là tạo châu, có tính chất
tông tộc, thế tập, cha truyền con nối. Giữ hai đẳng cấp gần như không có sự
chuyển dịch.
23
Thứ ba là xã hội được quản lý bằng tục lệ. Mà tục lệ là luật tục, còn
nghiêm khắc hơn cả “phép vua”. Những tục lệ truyền thống lâu đời được bảo
lưu ở mức độ nhất định. Đồng thời, với vai trò là đẳng cấp thống trị, nắm
trong tay mọi điều kiện sinh tồn của dân bản, quan lang, quan tạo tự do đặt ra
những lệ mới theo chiều hướng phong kiến hoá để trói buộc đẳng cấp bị trị
một cách có lợi cho mình. Các triều đình phong kiến dựa vào đẳng cấp quan
lang để trị dân càng khuyến khích việc làm này, khiến cho đẳng cấp quan
lang, quan tạo trở nên có quyền uy vô thượng đối với dân bản.
Khi thực dân Pháp thống trị và xâm lược nước ta, chúng càng lợi dụng
chế độ nhà lang, nhà tạo. Để chia rẽ dân tộc, chống lại sự thống nhất phong
trào kháng chiến của nhân dân ta ở miền Tây Bắc với miền đồng bằng sông
Hồng và các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, thực dân Pháp cắt một số vùng có đông
người Mường cư trú của tỉnh Hưng Hoá, Ninh Bình, Sơn Tây, Hà Nội lập nên
tỉnh Mường, sau đổi thành tỉnh Hoà Bình khi lỵ sở tỉnh dời về thị xã Hoà
Bình. Nhân dân các dân tộc Hoà Bình đã cùng nhân dân cả nước nổi lên
chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Đất Hoà Bình đã nhuộm máu đào của
biết bao nghĩa sĩ trong các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn