Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân giai đoạn 1991-2008 - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HÔ
̀
NG

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
GIAI ĐOẠN 1991 - 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Bố cục của luận văn 8
Chương 1 ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1995 9
1.1 Quan niệm của Đảng về kinh tế tư nhân và tình hình kinh tế tư nhân
ở tỉnh Hà Tây trước năm 1991 9
1.1.1. Quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân 9
1.1.2 Tình hình kinh tế tư nhân ở tỉnh Hà Tây trước năm 1991 17
1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1991
đến năm 1995 22
1.2.1 Chủ trương chung của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Hà Tây 22
1.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện 30
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN TỪ NĂM 1996 TỪ NĂM 2008 39
2.1 Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1996 đến
năm 2000 39
2.1.1 Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Hà Tây 39
2.1.2 Quá trình tổ chức thực hiện 44
2.2 Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 2000 đến
năm 2008 49
2.2.1 Chủ trương của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Hà Tây 49
2.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện 56
Tiểu kết chương 2 69

trọng của thành phần kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân hiện nay được coi là một
trong những động lực chủ yếu để phát triển nền kinh tế. Ở Việt Nam thực tế
cho thấy những năm qua phát triển kinh tế tư nhân có nhiều tác dụng: tạo ra
động lực cho sản xuất kinh doanh,duy trì cạnh tranh giúp nền kinh tế trở nên
năng động hơn, đa dạng hoá các chủ thể tham gia thị trường mà còn góp phần
khai thác và sử dụng có hiệu qủa nguồn lao động xã hội.Thêm vào đó kinh tế tư
nhân gắn với sở hữu tư nhân nên có thể truyền lại cho thế hệ sau tài sản,kiến
thức, kinh nghiệm, từ đó tạo động lực phát triển kinh tế không ngừng.
Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là một xu hướng tất yếu, một chủ trương đúng đắn và nhất quán
của Đảng ta. Điều này thể hiện ở chỗ, Thứ nhất :Với trình độ phát triển như
hiện nay của lực lượng sản xuất ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế tư nhân vẫn
là nhu cầu khách quan. Thứ hai, kinh tế tư nhân đã và đang tiếp tục chứng tỏ
vai trò động lực của nó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.Thứ
ba: sự phát triển của kinh tế tư nhân chỉ phát triển đúng hướng khi Đảng và
Nhà nước có chính sách và biện pháp quản lý phù hợp, không làm mất động
lực phát triển của nó, nhưng cũng không để nó vận động một cách tự phát.
Kinh tế tư nhân thực sự trở thành yếu tố năng động hoá nền kinh tế, là
một động lực khởi động và thức đẩy sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định
quá trình đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hóa
nền kinh tế mang tính tự cấp, tự túc thành nền kinh tế kinh tế hang hóa nhiều
thành phần. sử dụng kết hợp các nguồn lực bên trong với các nguồn lực bên

2
ngoài nhắm tạo sức mạnh tổng hợp đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh
chóng và bền vững.
Nhằm tạo điều kiện phát triển hơn nữa thành phần kinh tế tư nhân,
Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khẳng đinh: “thực hiện nhất quán

còn nhiều yếu kém…
Do đó, cần phải nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về đường
lối chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về thực trạng kinh tế tư nhân của
địa phương để từ đó có những giải pháp đồng bộ khuyến khích kinh tế tư
nhân phát triển đúng hướng ở Hà Tây, thúc đẩy kinh tế- xã hội trên địa bàn
tỉnh phát triển. Chính vì vậy,vấn đề : “Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo phát
triển kinh tế tư nhân giai đoạn 1991-2008” được chọn làm đề tài nghiên
cứu của Luận văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử ra đời và phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với sự phát triển
của nền sản xuất hàng hóa và nền kinh tế thị trường. Trên thế giới, tùy theo
đặc điểm, hoàn cảnh của từng nước, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu
về kinh tế tư nhân rất phong phú, đa dạng. Từ thập niên 1990 đến nay, ở các
nước có nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung sang cơ chế kinh tế
thị trường như : Trung Quốc, Nga, các nước Trung và Đông Âu, đã có nhiều
công trình nghiên cứu sâu về kinh tế tư nhân.
Ở nước ta, từ Đại hội VI của Đảng để ra đường lối đổi mới, đã có nhiều
tác giả nghiên cứu về kinh tế tư nhân với những góc độ và phạm vi khác nhau,
theo như thống kê, đã có hơn 200 đầu sách, bài viết, các đề tài nghiên cứu, hơn
60 văn bản pháp lý và nhiều văn kiện của Đảng về kinh tế tư nhân hoặc có liên
quan đến thành phần kinh tế tư nhân, nhưng chủ yếu trên phương diện kinh tế
học. Có thể nêu ra một số công trình tiêu biểu có liên quan đến vấn đề như:
Trong cuốn : “Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư
nhân ở nước ta”(2003, Nxb CTQG) do GS.TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên, không

4
chỉ khẳng định vai trò to lớn của KTTN và phân tích thực trạng hoạt động của
khu vực kinh tế tư nhân mà còn phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với
khu vực KTTN.Tù đó nhóm tác giả nêu ra những định hương phát triển kinh
tế tư nhân và những giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với

tiểu chủ và tư bản tư nhân-lý luận và chính sách” (TS.Hà Huy Thành chủ
biên,Nxb CTQG, Hà Nội,2002.
Ngoài ra, luận văn còn tham khảo một số tạp chí, luận văn, luận án
nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở các Bộ, ngành địa phương, những đánh giá,
bình luận trên báo chí, các phương tiện nghe nhìn…
Tất cả các công trình, đề tài trên đây đều nghiên cứu về KTTN theo
nhiều góc độ khác nhau.Tuy nhiên nghiên cứu trên phương diện về vấn đề
Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân,nhất là kinh tế tư nhân trên địa bàn
một địa phương không nhiều.Những công trình đã xuất bản, các đề tài, luận
văn đã công bố, hầu như là những nghiên cứu tổng thể, ở tầm vĩ mô, hoặc
nghiên cứu một vài khía cạnh của kinh tế nông thôn ở tầm quốc gia, khu vực
chứ chưa có sự nghiên cứu riêng về một địa phương, việc áp dụng đường lối,
chủ trương của Đảng vào một địa phương cụ thể.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo phát triển kinh
tế tư nhân từ năm 1991 đến năm 2008, từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm, góp phần thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cúu
Làm rõ đường lối chủ trương chính sách của Đảng đối với sự phát triển
kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hà Tây những năm từ năm 1991 đến năm
2008,Chỉ ra những thành tựu và hạn chế của kinh tế tư nhân của tỉnh Hà
Tây.Góp phần bổ sung kiến thức về kinh tế tư nhân nói chung và kinh tế tư
nhân trên địa bàn Hà Tây nói riêng.

6
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào việc hệ thống hoá đường lối,chủ trương phát
triển kinh tê tư nhân của Đảng và sự lãnh đạo ,chỉ đạo thành phần kinh tế tư
nhân của Đảng bộ Hà Tây trên địa bàn tỉnh.

pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp… để nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở Hà Tây giai đoạn 1991-2008.Ngoài
ra còn sử dụng các phương pháp khác nhau như thống kê, lịch đại, đồng đại.
5.2 Nguồn tài liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu luận văn bao gồm:
Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin liên quan đến sở hữu
tư nhân và kinh tế tư nhân.
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các Báo cáo của Đảng bộ về chủ
trương, đường lối, chính sách đối với kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hà Tây
trong thời gian từ 1991 đến 2008.
Niên giám thống kê, báo cáo thống kê của các Sở ban ngành có liên
quan từ năm 1991 đến năm 2008.
Các công trình như luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài viết trên
báo, tạp chí…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn hy vọng có những đóng góp vào việc hệ thống hoá quan
điểm, đường lối của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển kinh tế tư nhân ở trên
địa bàn tỉnh và làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
Phác hoạ những quan điểm,chủ trương của Đảng bộ Tỉnh Hà Tây về
vấn đề phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh.
Hệ thống hoá tư liệu và nêu lên một cách có hệ thống thực trạng phát
triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Đưa ra một số nhận xét khái quát, nêu lên những thành tựu, hạn chế của
kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 1991 đến năm 2008, rút ra bài

8
học kinh nghiệm và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công
tác lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của địa phương trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Nội dung của

do nôn nóng, chúng ta đã vội cải tạo và muốn xóa bỏ nó trong một thời gian
ngắn. nên kinh tế tư nhân đã trải qua nhiều nước thăng trầm. Từ khi có nhận
thức mới của Đảng ta về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ, thì kinh tế tư nhân đã được thừa nhận, và trên thực tế, thành phần kinh
tế này đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền kinh tế của đất nước nhất là trong
thời gian gần đây.
Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, thuật ngữ “kinh
tế tư nhân” chưa được sử dụng mặc dù các ông nghiên cứu rất nhiều về chế độ
tư hữu, về kinh tế cá thể, về sản xuất tư bản tư nhân, về kinh tế nông dân kiểu
gia trưởng, về sản xuất hàng hóa nhỏ, chủ nghĩa tư bản tư nhân, thương nghiệp
tư nhân v.v…Tuy sử dụng bằng các ngôn từ khác nhau song có thể hiểu KTTN

10
dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ở các mức độ khác
nhau.C.Mác cho rằng : “Chế độ tư hữu, với tư cách là cái đối lập với chế độ sở
hữu xã hội và tập thể, chỉ tồn tại ở nơi nào… mà những điều kiện bên ngoài của
lao động là của tư nhân.Nhưng hình thưc của chế độ tư hữu thay đôi tùy theo
những tư nhân ấy là người lao động hoặc người không lao động”.
Như vậy, cơ sở của KTTN là chế độ tư hữu tư liệu sản xuất đúng như
lời của Mác: “Nền kinh tế cá thể, kết quả của chế độ sở hữu tư nhân”. Chế độ
tư hữu không thể tách rời việc cá nhân kinh doanh và cạnh tranh,đó cũng là
đặc trưng của kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân gắn liền với vấn đề sở hữu. Sở
hữu là quan hệ giữa con người và con người, trong quá trình sản xuất, phản
ánh quá trình chiếm hữu của cải vật chất mà sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai
trò quyết định. Nó là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biến đổi
cùng với hệ thống kinh tế - xã hội.
Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân cho thấy, hình thức điều
tiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tư nhân là cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là mô
hình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường - tự nó

mà pháp luật không cấm”; Về đối tượng tham gia vào khu vực kinh tế tư
nhân, đã mở rộng hơn: “Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu
tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp
luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ sở,
nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin”. Về chính sách phát huy
các nguồn lực, Đại hội X chủ trương : “khuyến khích phát triển các doanh
nghiệp lớn của tư nhân , các tập đoàn kinh tế tư nhân có nhiều chủ sở hữu với
hình thức cổ phần”.
Trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986), khu
vực kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa, không được pháp
luật bảo vệ và khuyến khích phát triển. Nhưng vì khu vực kinh tế quốc doanh

12
và kinh tế tập thể không đủ thỏa mãn nhu cầu mọi mặt của đời sống kinh tế-xã
hội của đất nước, nên khu vực kinh tế tư nhân còn cần thiết cho nền kinh tế, vì
vậy vẫn âm thầm tồn tại dưới dạng kinh tế phụ gia đình (của các hộ cán bộ
công nhân viên nhà nước và các hộ xã viên hợp tác xã). Các tổ hợp tác, tổ hợp
sản xuất núp bóng doanh nghiệp nhà nước hoặc hợp tác xã (thực chất là
những loại hình kinh tế tư nhân khác nhau) để hoạt động vì lợi ích dân sinh.
Tuy mức độ và phạm vi hoạt động còn hạn chế nhưng các hình thức kinh tế tư
nhân cũng đã thực sự góp phần tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho
một bộ phận lớn cán bộ, công nhân viên, xã viên các hợp tác xã, giảm bớt
căng thẳng cho nền kinh tế thời bây giờ.
Một vấn đề đặt ra là cần xem xét lại vị trí, thực chất và mối quan hệ của
các thành phần kinh tế này để có những quyết sách phù hợp hơn trong nhiệm
vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (1986) đã ghi vào văn
kiện: “Trong nhận thức cũng như trong hoạt động, chúng ta chưa thực sự thừa
nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời
gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp

dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là một đặc
trưng của thời kỳ quá độ” để nhìn nhận, đánh giá vai trò, vị trí của thành phần
kinh tế, nghiên cứu khái quát những chủ trương cải tạo và sử dụng thành phần
kinh tế này nhằm phát huy tiềm năng sức mạnh to lớn của nó trong nền kinh
tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.
Đây là sự đổi mới từ quan niệm, đổi mới tư duy. Bước đổi mới tư duy
chiến lược này đã làm thay đổi hẳn diện mạo của nền kinh tế của đất nước, cải
thiện rất nhanh chóng đời sống của nhân dân. Từ sự đột phá từ tư tưởng của Đại
VI, Đảng ta có những bước đi vững chắc về đường lối, nhận thức, gắn lý luận với
thực tiễn, xây dựng lý luận từ chính cơ sở lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác-
Lênin, có xem xét, so sánh, chọn lọc những giá trị thiết thực của lý luận trước đó.

14
Trên thực tế, khu vực kinh tế tư nhân, trong những năm gần đây, đã
phát triển mạnh mẽ với sức sống mãnh liệt, thể hiện nhiều ưu thế, vị thế gia
tăng, ngày càng trở thành động lực phát triển của đất nước và hội nhập kinh tế
quốc tế. Kinh tế tư nhân trên phạm vi cả nước, năm 2005 đã tạo ra 45,7% tổng
sản phẩm trong nước, đã thú hút gần 91% lực lượng lao động xã hội, tạo 90%
việc làm mới chiếm 32% tổng đầu tư toàn xã hội.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đặc biệt là vấn đề hội nhập nền
kinh tế thế giới đã và đang đặt ra những cơ hội cũng như những thách thức
đối với nền kinh tế Việt Nam.Việt Nam đã và đang có những bước tiến vững
chắc trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, hội nhập cùng thế giới bằng việc phát huy nội lực đồng thời tranh thủ
các nguồn lực bên ngoài thông qua việc phát huy sức mạnh của các thành
phần kinh tế. Trong đó phải kể đến sự đóng góp quan trọng của thành phần
kinh tế tư nhân trong việc phát triển nền kinh tế.Việt Nam đang trong giai
đoạn quá độ lên chủ mghĩa xã hội, việc đổi mới đường lối phát triển kinh tế
xã hội trong thời gian qua đã đem lại cho chúng ta những bước tiến vượt
bậc. Chúng ta chấp nhận mở cửa hội nhập với thế giới, xây dựng đường lối

được bộ máy chính quyền tư bản bảo vệ lợi ích nên họ đã tìm đủ mọi cách để
bóc lột giá trị thặng dư như tăng cường độ lao động, kéo dài thời gian lao
động, tăng năng suất lao động… Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy có những
điều chỉnh nhất định về hình thức sỏ hữu,quản lí, phân phối để thích nghi với
điều kiện mới nhưng về bản chất thì không thay đổi. Nhà nước tư bản hiện
nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế xã hội nhưng về cơ bản
nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản. Xét trong điều kiện quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay thì kinh tế tư nhân chịu sự kiểm soát
quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa nên không còn hoàn toàn giống như
kinh tế tư nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Khái niệm kinh tế tư bản tư
nhân chỉ xuất hiện gắn liền với sự hình thành và phát triển phương thức sản

16
xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình đổi mới ở nước ta với sự xuất hiện và phát
triển các loại hình doanh nghiệp của tư nhân không đồng nghĩa với sự xuất
hiện trở lại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản. Các loại
hình doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp ở nước ta, được
hình thành và phát triển trong điều kiện có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản,
chịu sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phục vụ cho sự nghiệp đổi
mới, được nhà nứơc khuyến khích và bảo vệ không hoàn toàn do quy luật giá
trị thặng dư chi phối. Hơn nữa các loại hình doanh nghiệp của tư nhân và đội
ngũ doanh nhân ở nước ta được hình thành và phát triển trong điều kiện mới,
không hàm chứa tính chất giai cấp hay bản chất tư bản như dưới xã hội tư bản
điều này được chứng minh là đã có rất nhiều doanh nhân là đảng viên. Các
doanh nghiệp của tư nhân nước ta đại diện cho một lực lựơng sản xuất mới, là
một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá
thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân…
Từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) với sự thay đổi
quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân thì khu vực kinh tế tư

1.1.2 Tình hình kinh tế tư nhân ở tỉnh Hà Tây trước năm 1991
Hà Tây là vùng đất cổ được hình thành từ rất sớm cùng với lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, với bề dày lịch sử đấu tranh cách
mạng.Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, những giai đoạn lịch sử đã qua để lại
cho Đảng bộ và nhân dân Hà Tây một di sản tinh thần quý giá, đó là truyền
thống cách mạng kiên cường và những kinh nghiệm lịch sử về phát triển kinh
tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.đây là vùng đất được thiên nhiên ưu
đãi, có vị trí chiến lược quan trọng.
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, tháng 9-1991,
tỉnh Hà Tây được tái lập gồm 12 huyện và 2 thị xã. Toàn tỉnh có 324 xã, phường,
thị trấn với diện tích tư nhiên là 2.192,95 km2. Dân số có 2.092.000 người.

18
Ngày 16-9-1991, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa
VII ra Quyết định số 42-QĐ/TW chỉ định Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ.
Ngày 19-9-1991, Tỉnh ủy lâm thời họp hội nghị lần thứ nhất để củng cố, kiện
toàn bộ máy và cán bộ các ban ngành của tỉnh. Ngày 1-10-1991, tỉnh Hà Tây
chính thức bước vào làm việc theo địa giới hành chính của tỉnh.
Như vậy trước năm 1991, Đảng bộ và nhân dân Hà Tây đã trải qua hai
lần nhập và tách tỉnh, hai lần chuyển và nhận một bộ phận địa giới hành chính
tỉnh và dân cư với thành phố Hà Nội. Đó là hai thời kỳ: từ năm 1976 đến
tháng 9 năm 1991 Hà Tây cùng với Hòa Bình là tỉnh Hà Sơn Bình, trong đó
từ năm 1979, 6 huyện, thị xã phía Bắc tỉnh là: Ba Vì, Phúc Thọ, Sơn Tây,
Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức,thị xã Sơn Tây có 12 nhập vào Hà Nội.
Và thời kỳ từ tháng 10 năm 1991 đến năm 2008 là Hà Tây.
Từ năm 1976 đến năm 1991, vùng đất Hà Tây là một bộ phận của tỉnh
Hà Sơn Bình. Những năm đầu bước vào công cuộc đổi mới, Đại hội lần thứ
IV của Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình đã nhấn mạnh “ra sức xây dựng Đảng vững
mạnh , phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao độn, bố trí lại cơ cấu
sản xuất và đầu tư tập trung vào sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng

doanh bước đầu tiếp cận thị trường. Người lao động và người quản lý đã quan
tâm đến hiệu quả kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hóa địa phương phat
triển đa dạng phong phú hơn, góp phần đưa kinh tế tư nhân sau này trở thành
một trong những động lực thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.
Thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng của Đảng, 10 năm đầu
(1976-1986), Đảng bộ tỉnh lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển kinh tế
xã hội theo cơ chế tập trung và phát triển kinh tế xã hội theo cơ chế tập trung
bao cấp, từ năm 1987 là thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý với cơ
chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đại hội Đảng toàn quốc
lần thức VI khởi xướng. Hai thời kỳ bao cấp và đổi mới cơ chế quản lý kinh

20
tế có đặc trưng rất khác nhau trong sự lãnh đạo, tổ chức xây dựng và phát
triển kinh tế xã hội, song đều chung bối cảnh là một tỉnh nông nghiệp, kinh tế
chậm phát triển, trình độ sản xuất thấp kém.?JM vc
Mười năm đầu, nhân dân Hà Tây cũng như cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội với biết bao khó khăn thử thách do hậu quả của chiến tranh để lại, do thiên
tai lũ lụt xẩy ra liên tiếp nhất là trong những năm 1977,1978,1980,1984 và
1985. Bên cạnh đó, lại phải chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, phía Nam và
các hải đảo cho đến những năm cuối thập kỷ XX. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu
là Mỹ tiến hành bao vây cấm vận. Các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở
Châu Âu lâm vào cuộc khủng hoảng và sụp đổ.Các thế lực phản động ra sức
chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Khó khăn là vậy nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ nhân dân đoàn
kết một lòng cùng các dân tộc trong tỉnh vượt qua thử thách để thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội do các kỳ Đại hội Đảng đề ra.
Trong những năm thực hiện cơ chế bao cấp (1975-1985) vùng đất Hà
Tây dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Sơn Bình tập trung cao độ trên lĩnh
vực kinh tế nông nghiệp, lấy sản xuất lương thực làm nhiệm vụ trung tâm,
nhất là từ khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra 3 chương trình kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status