Đảng bộ tỉnh thái bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp tu nam 1961 den nam 1975 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

PHAN THỊ NHUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt ..................................................................................... 2
Mở đầu ................................................................................................................... 3
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) ................................................ 9
1.1. Những yếu tố có ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh và chủ
trương của Đảng bộ........................................................................................... 9
1.2. Chỉ đạo

của Đảng bộ ........................ 26

Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 1965 đến năm 1975 ...................................................................................... 39
2.1. Chuyển hướng phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1965 đến năm 1968 ..... 41
2.2. Khôi phục, phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1969 đến năm 1975 .......... 57


CNH

công nghiệp hóa

CNXH

chủ nghĩa xã hội

DTDCND

dân tộc dân chủ nhân dân

ĐLDT

độc lập dân tộc

Ha

Hécta

HĐH

hiện đại hóa

HTX

hợp tác xã

KH-KT


2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội khẳng định nông nghiệp từ lâu đã
được coi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong những
năm 1961 – 1975, nền kinh tế nông nghiệp miền Bắc đã góp phần trọng yếu
trong xây dựng, củng cố hậu phương, đảm bảo đời sống của nhân dân, quân
đội, tăng cường tiềm lực kinh tế, tiềm lực quốc phòng. Phát triển kinh tế nông
nghiệp trong thời kỳ này, không những miền Bắc tiếp tục hoàn thành cải tạo,
củng cố QHSX mới trong nông nghiệp, đưa sản xuất nông nghiệp phát triển
theo hướng toàn diện, phá thế độc canh cây lúa, làm cơ sở phát triển công
nghiệp và các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân, mà còn đảm bảo
cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Những thành tựu
về phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm này tác động trực tiếp đến
công cuộc xây dựng và bảo vệ hậu phương miền Bắc XHCN, ảnh hưởng to
lớn đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Đây là
vùng đất phù sa màu mỡ, có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho phát triển
nông nghiệp. Những năm 1961 – 1975, thực hiện chủ trương của Đảng về
phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc, Thái Bình là
một trong những tỉnh đầu tiên của miền Bắc đạt năng suất lúa 5 tấn/ha. Kinh
tế nông nghiệp của tỉnh Thái Bình đã đạt được những thành tựu quan trọng,
góp phần ổn định đời sống nhân dân, đóng góp tích cực vào chi viện cho tiền
tuyến lớn miền Nam.
.
Vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo phát
triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1961 đến năm 1975” làm luận văn cao học,

liệt của chiến tranh (1965 – 1975). Trên cơ sở quá trình nghiên cứu, các tác
giả đi đến kết luận: Mô hình HTX nông nghiệp tỏ ra thích hợp trong điều kiện
thời chiến, nhưng dưới góc độ kinh tế chưa phù hợp với đặc điểm của nông
nghiệp, nông thôn miền Bắc.
4


- Nguyễn Huy: Đưa nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã
hội chủ nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983. Tác giả trình bày có tính
tổng kết về quá trình lãnh đạo của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp
(1954 – 1982). Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối,
quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp từ năm 1954 đến 1975, tác giả
trình bày khái quát về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp ở miền Bắc
Việt Nam, trong đó tập trung làm rõ bước chuyển biến lớn về cải cách ruộng
đất, khôi phục sản xuất nông nghiệp, tiến hành xây dựng tổ đổi công từng
bước tiến lên xây dựng HTX nông nghiệp ở miền Bắc, làm cơ sở bước đầu để
thực hiện đưa sản xuất nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN.
Về phát triển sản xuất nông nghiệp (1961 – 1975), tác giả chủ yếu tập trung
trình bày về những thành tựu, hạn chế trong xây dựng HTX nông nghiệp, về
phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đầu tư cơ sở VC – KT, thủy lợi, trên cơ sở đó
khẳng định tính tất yếu của việc đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất lớn
XHCN.
- Bên cạnh các công trình trên, còn một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ đề cập
đến các khía cạnh khác nhau của việc phát triển kinh tế nông nghiệp những
năm 1954 - 1975, như “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 1961 đến năm 1975”, Luận án tiến sĩ khoa học, Nguyễn
Mạnh Hùng, Hà Nội, 2010. Luận án đi sâu phân tích đường lối, chính sách
của Đảng trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp miền Bắc từ 19611975; vị trí, vai trò của kinh tế nông nghiệp trong công cuộc xây dựng CNXH
ở miền Bắc và đúc kết những kinh nghiệm, làm cơ sở vận dụng vào quá trình
đổi mới phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng ở nước

tế nông nghiệp của Đảng bộ; đánh giá những thành tựu, hạn chế, nguyên
nhân, ý nghĩa lịch sử của quá trình Đảng bộ lãnh đạo phát tirển kinh tế nông
nghiệp. Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng bộ tỉnh Thái Bình đề ra chủ
trương, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1961 đến năm 1975.

6


- Trình bày hệ thống diễn biến lịch sử sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thái Bình về phát triển kinh tế nông nghiệp, trong thời gian trên.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế của quá trình Đảng bộ tỉnh Thái
Bình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, từ đó phân tích, luận giải làm rõ
ý nghĩa lịch sử và rút ra một số bài học kinh nghiệm.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thái Bình
nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1961 đến năm 1975.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát
triển kinh tế nông nghiệp.
- Thời gian: Từ năm 1961 đến năm 1975
- Không gian: tỉnh Thái Bình
5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn sử liệu
- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1961 – 1975.
- Các sách chuyên khảo của các tác giả về kinh tế nông nghiệp miền
Bắc, trong những năm 1961 – 1975.



Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TRONG KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT
(1961 – 1965)
1.1. Những yếu tố có ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh và chủ
trương của Đảng bộ
1.1.1. Tình hình kinh tế nông nghiệp của tỉnh trước năm 1961 và chủ
trương của Đảng
1.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên và KT -XH
Thái Bình là một tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc Bộ, được bao bọc chung
quanh bởi sông Hồng, sông Hoá, sông Luộc và biển Đông. Diện tích rộng
1.347 km2, đất nông nghiệp có 107.930 ha, trong đó có 98.406 ha canh tác,
chiếm 91,1% so với đất nông nghiệp của tỉnh và chiếm khoảng 5% đất nông
nghiệp của miền Bắc [159, tr.2]. Đất đai Thái Bình phì nhiêu, màu mỡ, tươi
tốt do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Ngoài diện tích
cấy lúa, đất đai Thái Bình thích hợp cho phát triển các loại cây thực phẩm và
cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả nhiệt đới, hoa, cây cảnh...
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình trong
năm là 23 - 240C. Lượng mưa trung bình 1.400 mm - 1.800 mm. Độ ẩm trung
bình vào khoảng 85 - 90% [159, tr .3].
Tiềm năng về nguồn thủy sản là một trong những thế mạnh của tỉnh
Thái Bình. Thái Bình có 3 thủy vực khác nhau: vùng nước mặn, vùng nước
lợ, vùng nước ngọt, với nhiều khả năng khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Các triền cỏ ven đê, ven sông và hệ thống kênh mương ao hồ rộng khắp là
điều kiện để phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt, cá...
Dân cư đông đúc, với trên một triệu hai mươi vạn người [159, tr. 2].
Nguồn nhân lực dồi dào, với kinh nghiệm thâm canh lâu đời.
9


công chấm điểm. Về HTX, tỉnh có 220 cơ sở với 5.767 hộ xã viên chiếm 2%
tổng số hộ nông dân lao động [4, tr. 2].
Cuối năm 1959, tỉnh đã có: 2.605 HTX gồm 111.734 hộ xã viên (chiếm
48,62% tổng số hộ nông dân trong tỉnh), trong đó có 15 HTX cấp cao gồm
1.844 hộ (tỷ lệ 0,81%). Đến năm 1960, toàn tỉnh có: 3.063 HTX gồm 196.540
hộ xã viên (chiếm 48,70%), trong đó HTX cấp cao có 235 so với 29.631 hộ
12,9% so với toàn thể nông dân (bằng 15,3% so với số hộ đã vào HTX). Ở
vùng thiên chúa giáo số hộ giáo dân tham gia HTX có 2.282 hộ (chiếm
23,8%) số hộ giáo dân [4, tr. 2].
Đến hết năm 1960, toàn tỉnh gồm 292 xã, trong đó có 233 xã căn bản
hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp, trong đó 82 xã tỷ lệ nông hộ hợp tác hoá
đạt trên 90%, 10 xã đã căn bản hoàn thành cấp cao. Quy mô của HTX cấp
thấp bình quân năm 1959 là 42 hộ đến năm 1960 lên 59 hộ và HTX cấp cao là
126 hộ. Vùng biển, tỉnh có 7 HTX cá cao cấp với 603 hộ tỷ lệ 71% số hộ ngư
dân. 5 HTX muối với 444 hộ chiếm 97,7% số hộ diêm dân (không kể những
hộ nghề cá, nghề muối vào HTX hỗn hợp). Qua đợt kiểm tra phân loại về cấp
thấp, tỷ lệ HTX tốt chiếm 32,3%, trung bình 49% và kém là 12,5%. Phân loại
cấp cao tỷ lệ khá chiếm 51,5%, trung bình 38,5% và kém có 10%. Đến cuối
năm 1960, các HTX đều thực hiện khoán việc và 52% đã tiến hành 3 khoán
[4, tr. 3].
Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong những năm 1958 – 1960,
không những phát triển về số lượng mà chất lượng cũng có những chuyển
biến nhất định: từ tổ đổi công lên HTX, từ quy mô nhỏ lên lớn, từ HTX cấp
thấp lên cấp cao, mỗi một bước tiến về hình thức cũng đồng thời là một bước
tiến trong nội dung của phong trào. Về năng suất, HTX cao hơn tổ đổi công,
HTX cấp cao cao hơn HTX cấp thấp. Lao động trong các HTX quy mô càng
rộng càng được hợp lý hoá, thu nhập của xã viên cũng tăng lên, không những
vì HTX đã có điều kiện mạnh dạn áp dụng kỹ thuật cải tiến, nông cụ cải tiến,


thời hạn 4 tháng [4, tr. 14]. Về kiến thiết cơ bản, tỉnh đã sửa chữa những

12


đường lớn rải đá trên 20 km đường, rải nhựa 3.422 m2, làm 8 cầu mới dài 156
m, đắp gần 2 triệu m3 đất trên 428 km đường đất, sửa chữa 22 cầu cũ và tiến
hành giao khoán dưỡng lộ trên 52 km đường… Sự lãnh đạo công tác giao
thông vận tải trong những năm 1958 - 1960 được chú ý, đã đặt trọng tâm giải
quyết tốt những công trình lớn, công tác chính trị đối với cán bộ và công nhân
được chú trọng, đồng thời biết dựa vào quần chúng hoàn thành tốt kế hoạch
[4, tr. 14].
Về lúa: Trong những năm 1958 - 1960, công tác sản xuất lúa được coi
là công tác trung tâm, được các cấp uỷ tập trung lãnh đạo. Năm 1959, tổng
sản lượng cả năm đạt 466.418 tấn - là sản lượng cao nhất từ năm 1959 về
trước, dẫn đầu toàn miền Bắc về năng suất lúa. Bình quân lương thực theo đ ầu
người là 425 kg, riêng thóc là 405,7 kg (miền Bắc là 326 kg/người). Năm 1960, do
bị thiên tai nặng, vụ chiêm nắng hạn kéo dài, vụ mùa khi cày bừa thì thiếu nước,
đến lúc cấy lại bị mưa ngập, sâu bệnh phá hoại nghiêm trọng, thêm vào đó là một số
khó khăn về khách quan và chủ quan, nên năng suất lúa bình quân cả năm 1960 chỉ
đạt 38,58 tạ/ha; bình quân lương thực theo đầu người là 297,1 kg, riêng thóc là
283,2 kg (miền Bắc là 277 kg/người) [160, tr. 151].

Về hoa màu: Những năm 1958 – 1960, cùng với việc đẩy mạnh thâm
canh tăng năng suất lúa, Đảng bộ và nhân dân Thái Bình quan tâm đến việc
phát triển các loại hoa màu. Nhiều loại hoa màu như ngô, khoai, đậu… đều
tăng qua các năm. Năm 1958, hoa màu quy ra thóc đạt 13.681 tấn, chiểm tỷ
trọng 3,3%; năm 1959, đạt 22.020 tấn (chiếm 4,3%); năm 1960, đạt 16.378
tấn (chiếm 4,6%) [160, tr. 148].
Về cây công nghiệp: Thực hiện chủ trương đưa nông nghiệp phát triển toàn

nên sản xuất chưa được phát triển mạnh. Với mật độ dân số đông, bình quân
ruộng đất ít, việc làm luân canh, tăng vụ còn kém; chăn nuôi, thả cá… phát
triển chưa đúng mức. Năng suất lao động trong nông nghiệp không cao, thu
nhập của nông dân thấp, đời sống vẫn còn khó khăn, thiếu thốn. Vấn đề lương
thực chưa được giải quyết vững chắc, chỉ một vụ mất mùa là đời sống nhân
dân trong tỉnh lâm vào khó khăn, túng đói.

14


Về mặt lãnh đạo, Đảng bộ Thái Bình còn nhiều khuyết điểm: Chủ quan
trong khi nhận thức vấn đề lương thực; tỉnh đã đánh giá quá cao việc sản xuất
và quá thấp sức tiêu thụ của quần chúng. Trong chỉ đạo sản xuất tỉnh mới chú
trọng đến lúa mà chưa phát triển được hoa màu. Ngay trong sản xuất lúa, tỉnh
cũng chưa chú ý cấy tăng vụ để tích cực lãnh đạo nhân dân thực hiện. Chỉ đạo
cải tiến kỹ thuật, cải tiến nông cụ còn hiện tượng bảo thủ, rụt rè, do đó chưa
tận dụng và phát huy được hết tính tích cực và khả năng sáng tạo của quần
chúng. Chỉ đạo điển hình tuy có đề ra song chưa chú ý đầy đủ và liên tục,
chưa phát huy được kinh nghiệm trọng điểm để chỉ đạo chung, chưa khuyến
khích được quần chúng dám nghĩ, dám làm, áp dụng và có sáng kiến cải tiến
kỹ thuật.
Từ thực tế trên, để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo
hướng toàn diện, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng, cải thiện
đời sống nhân dân, trong những năm tiếp theo tỉnh Thái Bình cần tập trung
giải quyết tốt các vấn đề sau:

Về xây dựng và phát triển HTX nông nghiệp: Muốn đưa phong trào
vững bước tiến lên mạnh mẽ, về mặt tư tưởng, tỉnh không những phải
thường xuyên tăng cường giáo dục quần chúng, mà còn phải tiếp tục bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý tốt các mặt; vế sản xuất, tỉnh phải có kế

phát triển sản xuất công nghiệp và chi viện cho chiến trường; đồng thời vừa
tận dụng được lao động lúc nông nhàn, tăng thu nhập cho nông dân.

Đẩy mạnh hoạt động thương nghiệp, phát triển giao thông vận tải
làm đòn bẩy thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tạo ra nhiều sản
phẩm nông nghiệp…
Tóm lại: Việc phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện,

, vững

chắc ở tỉnh Thái Bình là yêu cầu khách quan của tình hình KT – XH của tỉnh,
là phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình đó không
phải đến năm 1961 mới bắt đầu mà là tiếp tục các chủ trương của Đảng và
của Đảng bộ tỉnh Thái Bình. Trong hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới hết sức
nặng nề, quá trình đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình phát huy trí
tuệ và tinh thần sáng tạo để khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, phát
triển kinh tế nông nghiệp phù hợp và hiệu quả hơn.

16


1.1.1.3. Chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp miền Bắc
(1961 – 1965)
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9 - 1960) khẳng định:
“Muốn đưa miền Bắc tiến lên CNXH, chúng ta phải đi từ nông nghiệp, phải
dựa vào lực lượng của nông dân lao động và phát huy tính tích cực của họ. Do
vậy, để tạo điều kiện thuận lợi xây dựng một bước cơ sở vật chất – kĩ thuật
cho một nền công nghiệp hiện đại XNCH, trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
phải tiếp tục đẩy mạnh cải tạo và phát triển nông nghiệp. Cần ra sức hoàn
thành hợp tác hóa nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển nông trường

bộ cấp trên về giúp các HTX một cách lâu dài.

Chủ trương của Đảng về củng cố, phát triển HTX nông nghiệp giai
đoạn 1961 – 1965, trong điều kiện Đảng lãnh đạo tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng trên phạm vi cả nước là từng bước xác định mô hình
HTX nông nghiệp và nông trường quốc doanh ở miền Bắc.
Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng (7 - 1961) đã ra Nghị quyết về vấn đề
phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965).
Nghị quyết xác định phải kết hợp việc hoàn thiện QHSX mới với việc phát
triển sức sản xuất, xây dựng cơ sở VC – KT cho nông nghiệp; kết hợp chặt
chẽ việc phát triển hợp tác hóa với thủy lợi hóa dần dần, cải tiến công cụ, cải
tiến kĩ thuật, tiến tới một bước cơ giới hóa, nhằm hướng mở rộng diên tích
bằng tăng vụ, khai hoang, đồng thời ra sức: “Thực hiện thâm canh tăng năng
suất, theo phương châm toàn diên, mạnh mẽ và vững chắc, giải quyết tốt vấn
đề lương thực là trọng tâm, đồng thời hết sức coi trọng cây công nghiệp, đẩy
mạnh chăn nuôi, mở mang thêm nghề rừng, nghề cá, nghề phụ; sử dụng tốt
sức lao động tập thể là chính, đồng thời tận dụng sức lao động của gia đình
của xã viên” [167, tr. 422]
Phương hướng phát triển chung: Đưa nông nghiệp có tính chất hầu như
độc canh trở thành một nền nông nghiệp có nhiều ngành, nghề, nhiều sản
phẩm hàng hóa; lương thực từ chỗ thường bị thiếu lúc giáp hạt, đến có dự trữ
khá; thực phẩm từ thiếu, tiến đến có dự trữ một phần; cây công nghiệp từ chỗ
thiếu, tiến đến chỗ đủ cung cấp trong nước và xuất khẩu được nhiều hơn. Phát
triển mạnh sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng, đồng thời phải phát triển một

18


bước ở miền núi, phát triển toàn diện các ngành vốn có trong nông nghiệp là
chủ yếu, đi đôi với phát triển thêm nghề thủ công, xây dựng một số cơ sở

làm đúng thời vụ, tăng sản lượng của cây trồng, vật nuôi. Phương châm tiến
hành: kết hợp chặt chẽ công cụ cải tiến, công cụ nửa cơ giới với máy móc
nông nghiệp, nhưng phải hết sức coi trọng trâu, bò cày kéo với công cụ cải
tiến, nửa cơ giới.
Về kỹ thuật trồng trọt: Đặc biệt chú ý các biện pháp cải tạo đất, làm
phân bón, chọn giống, gây giống tốt, phòng trừ sâu bệnh, làm đúng thời vụ.
Về kỹ thuật chăn nuôi: Chú trọng các biện pháp giải quyết vấn đề thức
ăn, cải tạo giống, phòng trừ dịch bệnh.
Công tác khoa học kỹ thuật nông nghiệp: Gắn công tác nghiên cứu kinh
nghiệm tiên tiến của nước ngoài với thực tiễn sản xuất trong nước, phát huy
sự sáng tạo của quần chúng và tổng kết kinh nghiệm của quần chúng [167, tr.
430-431].
Xây dựng cơ sở VC – KT, tích cực cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp
là chủ trương đúng đắn của Đảng và phù hợp với phát triển kinh tế nông
nghiệp trong điều kiện miền Bắc vừa trải qua thời kỳ khôi phục, cải tạo
XHCN và chưa có một nền công nghiệp phát triển.
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ
(1961 – 1965)
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của
Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng, tại Đại hội Đại
biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ V (2 - 1961), Tỉnh ủy Thái Bình xác định
nhiệm vụ và phương hướng phát triển nông nghiệp trong 5 năm (1961 – 1965)
của tỉnh là: Tập trung lãnh đạo và chỉ đạo cải tiến công tác quản lý HTX,
đồng thời đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của hợp tác xã. Sử
dụng phổ biến công cụ sản xuất cải tiến, trong nông nghiệp và phương tiện
giao thông vận chuyển. Hoàn thiện quy hoạch thủy lợi. Áp dụng các biện
pháp thâm canh tăng năng suất trên toàn bộ diện tích gieo trồng, đồng thời
tích cực tăng vụ, đưa hết diện tích 1 vụ lên 2 vụ, đưa một số lớn 2 vụ lên 3 vụ
(chủ yếu là 2 vụ lúa 1 vụ màu). Đẩy mạnh và mở rộng khai thác miền biển, mặt
20

phối theo lao động là chính, nhưng đối với hộ đông con, ít lao động thì cần
chiếu cố phân phối thêm số điểm hợp với khả năng để họ làm dần. Đối với

21


những cá nhân, đơn vị có nhiều sáng kiến để tăng năng suất lao động, cải
tiến kỹ thuật, chăn nuôi giỏi thì cần khen thưởng, động viên, khuyến khích
kịp thời…[160, tr. 201].
Về trồng trọt: Đến năm 1965, cần có một khối lượng lương thực là
569.530 tấn, trong đó 490.644 tấn thóc, 78.886 tấn hoa màu [39, tr. 3]. Sản
xuất lương thực phải được đẩy mạnh toàn diện gồm lúa, ngô, khoai, sắn, đậu.
Đặc biệt chú trọng về lúa, đồng thời phải tăng nhanh phát triển hoa màu như
khoai lang, khoai ao và các cây có bột khác để đảm bảo phát triển chăn nuôi
gia súc [39, tr. 3]. Phải phát triển mạnh cây công nghiệp đảm bảo cung cấp
nguyên liệu cho trong nước, cho thủ công nghiệp địa phương và yêu cầu xuất
khẩu. Tỉnh cần phải cố gắng phát triển bông, đay, cói, mía, dâu tằm, lạc,
vừng... diện tích cây công nghiệp năm 1965, phải chiếm ít nhất là 6%, tổng số
diện tích trồng trọt. [39, tr.4].
Để đạt được yêu cầu trên, nông nghiệp tỉnh Thái Bình phải tiến hành
thâm canh, tăng năng suất, tăng vụ và khai hoang; phải tích cực tăng năng
suất trên toàn bộ diện tích trồng trọt, đưa năng suất bình quân năm 1965, là 27
tạ/ha [39, tr.5]. Để tăng diện tích phải tận dụng hết những đất đai sẵn có; tận
dụng những đất còn bỏ hoang, bỏ hoá, đất ven sông, ven biển (nhất là những
nơi đã quai đắp đê bao). Phải hết sức chú trọng tăng vụ, trồng xen canh gối
vụ, đưa chỉ số sử dụng ruộng đất từ 1,93 lần (năm 1962) lên 2,007 lần (năm
1963) và 2,3 lần (năm 1965). Tích cực làm công tác thuỷ lợi, tăng thêm diện
tích tưới nước và đẩy mạnh đắp bờ khoanh vùng để đến năm 1965 sẽ chuyển
100% diện tích ruộng cấy 1 vụ thành 2 vụ lúa, hoặc 1 vụ lúa, 1 vụ màu. Đối
với ruộng trũng quá không cấy được vụ mùa thì phải tiến hành thả cá trồng

quýt, nhãn, vải, chuối, dứa... chú trọng ở những nơi có nhiều thổ canh, nhất là
những xã ven sông có nhiều bãi đất tốt. Giá trị sản lượng cây ăn quả đến năm
1965, sẽ tăng 30% so với năm 1960. Tích cực vận động nhân dân trồng nhiều
cây lấy gỗ ở trong vườn, bờ ao ở những nơi công cộng, dọc các đường giao
thông lớn nhỏ các bờ sông ngòi... đặc biệt chú ý trồng nhiều xoan, tre, mây,

23


đảm bảo đến năm 1965, mỗi gia đình đều có đủ tre, gỗ làm được nhà từ 3 đến
5 gian. Về cây chắn

, phát triển mạnh sú, vẹt dọc ven biển, có quy hoạch

tiến hành việc trồng rừng thông và rừng dừa, phục vụ các xí nghiệp công
nghiệp [39, tr. 8].
Về thủ công nghiệp, công nghiệp địa phương và nghề phụ: Mỗi HTX
cần tận dụng điều kiện thuận lợi về thiên nhiên, sức người và dựa vào sản
xuất nông nghiệp, phát triển những ngành nghề thích hợp, cần thiết. Phải kết
hợp đúng đắn các nghề phụ với hoạt động nông nghiệp. Công nghiệp địa
phương và thủ công nghiệp phải phục vụ tốt cho nông nghiệp phát triển.
Để đảm bảo hoàn thành tốt những mục tiêu đề ra cho sản xuất nông
nghiệp trong kế hoạch 5 năm (1961 – 1965), Tỉnh ủy đề ra những biện pháp
cụ thể cần phải thực hiện:
Thực hiện các biện pháp kỹ thuật liên hoàn đối với trồng trọt, chăn nuôi
nhằm cải tạo đất chua mặn, đảm bảo thức ăn cho gia súc. Trong trồng trọt,
nhiệm vụ cải tạo đất chua, mặn phải được đặt lên hàng đầu. Biện pháp chủ
yếu là giải quyết tốt công tác thủy lợi, đi đôi với cày sâu và bón vôi, kết hợp
với các loại phân khác. Song song với việc cải tạo đất chua mặn, cần thực
hiện mọi biện pháp kỹ thuật khác một cách toàn diện như tích cực phòng trừ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status