Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2015 - Pdf 56

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. PGS,TS. Trịnh Thị Hồng Hạnh
2. TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền


liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN

7
25
30

KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005

2.1. Những căn cứ để xác định chủ trương phát triển kinh tế công
nghiệp (1997 - 2005)
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển kinh tế
công nghiệp (1997 - 2005)
2.3. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển kinh tế công nghiệp
(1997 - 2005)
Chƣơng 3: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH

30
47
55
73

PHÁT TRIỂN KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2005 ĐẾN
NĂM 2015

3.1. Tình hình mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về
đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp (2005 - 2015)
3.2. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế
công nghiệp (2005 - 2015)
Chƣơng 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

xã hội, nhất thiết phải trải qua công nghiệp hóa. Từ Đại hội Đảng lần thứ III
(9/1960), Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung
tâm của cả thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đảng xác định thực chất
của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là "Quyết tâm thực hiện cách mạng kỹ
thuật, thực hiện phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích lũy xã hội
chủ nghĩa để không ngừng thực hiện tái sản xuất mở rộng" [62]. Đảng luôn khẳng
định kinh tế công nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm đổi mới, đi đôi với tăng trưởng ổn định, nền kinh tế
Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ. Xu hướng của quá trình này
là công nghiệp tăng nhanh gắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng đa
dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc
độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu, đem lại giá
trị kinh tế lớn, qua đó góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân v.v... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát
triển của công nghiệp Việt Nam cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như trình
độ thấp, chủ yếu phát triển theo chiều rộng, quá nhiều mũi nhọn, phụ thuộc
vào doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này dẫn đến, sự phát triển
công nghiệp thiếu bền vững, khả năng cạnh tranh của khu vực công nghiệp
còn yếu, trong khi tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp khá cao thì
tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm còn thấp, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm


chưa cao, hầu hết các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu ở nước ta dưới dạng
nguyên liệu hoặc dưới dạng gia công (giày dép, dệt may), lắp ráp (điện tử, vi
tính), tỷ lệ sản phẩm chế tạo rất thấp, giá trị mới tạo ra trong sản phẩm chiếm
tỷ trọng nhỏ, công nghiệp chế biến phụ thuộc vào nguyên, vật liệu phụ nhập
khẩu với chi phí cao dẫn đến giá cao. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp quy
mô nhỏ, chưa chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, chủng loại
sản phẩm chưa phong phú, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý,
trình độ khoa học - công nghệ yếu kém… Những bất cập này, ở mức độ nhất

những thành công và hạn chế của quá trình lãnh đạo, chỉ đạo; rút ra một số
kinh nghiệm Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vận dụng vào lãnh đạo phát triển kinh
tế công nghiệp trong giai đoạn mới. Để có thể góp phần làm sáng tỏ những
điều đó, chúng tôi lựa chọn đề tài "Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát
triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2015" làm luận án tiến sĩ
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối
với phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2015, đúc kết những
kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với quá trình phát triển kinh tế công
nghiệp ở địa phương trong thời gian tiếp theo.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá những căn cứ để xác định chủ trương lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển kinh tế công nghiệp ở Thái
Nguyên từ năm 1997 đến năm 2015;
- Khái quát quan điểm, chủ trương của Đảng; phân tích chủ trương và
sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển kinh tế công nghiệp từ
năm 1997 đến năm 2015;
- Đánh giá những thành công, hạn chế, nguyên nhân; đúc kết những
kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ
tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2015.


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động lãnh đạo phát triển kinh
tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2015.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Kinh tế công nghiệp bao gồm nhiều nội dung. Trong

luận án có liên quan đến đề tài.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên
ngành, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
đồng thời kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như thống kê, đối
chiếu, phân tích, so sánh, tổng hợp quá trình phát triển kinh tế công nghiệp ở
Thái Nguyên, cụ thể:
Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ quát trình lãnh đạo phát
triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến
năm 2015 qua hai giai đoạn.
Phương pháp lôgíc được sử dụng nhằm làm rõ mối liên hệ giữa các
chủ trương, biện pháp với quá trình chỉ đạo thực hiện, những kết quả đạt được.
Đánh giá được những ưu điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm trong quá
trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ
năm 1997 đến năm 2015.
Các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm làm
sáng tỏ hơn những vấn đề mà luận án đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên về phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2015.
- Nhận định, đánh giá thành tựu, hạn chế trong hoạt động lãnh đạo
phát triển kinh tế công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997
đến năm 2015.


- Đúc rút kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo phát triển kinh tế công nghiệp từ năm 1997 đến năm 2015 để có thể vận
dụng trong lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Góp phần tổng kết sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát

các nhóm công trình khoa học sau đây.
1.1.1. Nhóm nghiên cứu về phát triển công nghiệp của một số
nƣớc trên thế giới
Quá trình đổi mới toàn diện đất nước đã đạt được những thành tựu cơ
bản trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, Đảng và Nhà nước
đang thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nỗ lực đẩy nhanh tiến trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình này, rất nhiều yêu
cầu, nhiệm vụ được đặt ra. Do đó, Việt Nam cần xây dựng và thực thi các chủ
trương, chính sách phát triển sản xuất hợp lý cũng như các định hướng đầu tư,
phát triển thương mại vừa phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước
vừa đáp ứng và hỗ trợ cho các đòi hỏi trong quá trình hợp tác quốc tế và hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong bối cảnh đó, để thực hiện các
nhiệm vụ trên một cách có hiệu quả, bên cạnh việc nghiên cứu lý thuyết kinh
tế của các thị trường hiện đại, nghiên cứu kinh nghiệm của các nước ngoài thì
việc nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có nhiều điểm tương đồng với
Việt Nam về kinh tế, văn hóa, địa lý v.v... có những thành công đáng kể trong
quá trình chuyển sang phát triển kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp


hóa, hiện đại hóa đất nước là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
cho Việt Nam trên con đường phát triển đất nước. Do đó, đây cũng là nội
dung được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm.
Trung Quốc là quốc gia láng giềng của Việt Nam. Những bài học kinh
nghiệm trong phát triển kinh tế của Trung Quốc được các nhà nghiên cứu Việt
Nam quan tâm. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: Phạm Thái Quốc,
Trung Quốc quá trình công nghiệp hóa trong 20 năm cuối thế kỷ XX [163];
Lê Hữu Tầng, Lưu Hàm Nhạc, Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt
Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc [173]; Bùi Văn Hưng, Công nghiệp
hóa nông thôn Trung Quốc thời kỳ cải cách và mở cửa [123] v.v... Trên cơ sở
lý luận và thực tiễn về công nghiệp hóa ở Trung Quốc, tác giả Phạm Thái

Nguyễn Minh Tú, Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Chính sách công nghiệp và các
công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học rút ra
cho công nghiệp hóa của Việt Nam [198]; Kazushi Ohkawa, Hirohisa
Kohama, Kinh nghiệm công nghiệp hóa của Nhật Bản và sự thích dụng của
nó đối với các nền kinh tế đang phát triển [128]. Có thể khẳng định rằng,
chính sách của Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của bất
kỳ lĩnh vực nào. Chính sách đúng đắn, phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ và ngược lại. Trong số các công trình nghiên cứu trên, đáng kể phải đề cập
đến công trình Chính sách công nghiệp của Nhật Bản. Cuốn sách này là kết
quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc của tập thể tác giả người Nhật Bản. Nền
kinh tế Nhật Bản đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, trong suốt thời gian dài từ khi
kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai cho đến những năm 1980 với ba thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất (1945 - 1960), gồm các giai đoạn tái thiết và tạo đà cho sự
tăng trưởng nhanh. Đây cũng chính là giai đoạn phục hồi nền kinh tế từ khi ra
khỏi chiến tranh và sau đó đã duy trì được mức tăng trưởng xấp xỉ 10%. Thời
kỳ thứ hai là kỷ nguyên tăng trưởng nhanh của những năm 1960 và kéo dài đến
trước cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới lần thứ nhất vào năm 1973 với tốc
độ tăng trưởng chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản. Thời kỳ thứ ba được đánh
dấu bằng cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, chấm dứt kỷ nguyên tăng trưởng


nhanh của nền kinh tế Nhật Bản. Những sự bứt phá đi lên thần kì của nền
kinh tế, chính sách tạo động lực cho kinh tế phát triển, việc khắc phục thảm
họa chiến tranh nhanh chóng, các vấn đề phát triển kinh tế công nghiệp v.v…
của Nhật Bản là những kinh nghiệm bổ ích, gợi mở cho Việt Nam trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sự phát triển nhanh chóng của Hàn Quốc - quốc gia có sự khởi sắc
mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã trở thành hiện tượng tiêu biểu
của các nước phát triển trên thế giới, cũng mang lại những bài học quý giá
cho Việt Nam trên con đường đổi mới, phát triển đất nước. Do đó, có rất

có hai đặc điểm chính; một là, tập trung vào xây dựng cơ sở kinh tế trong
nước; hai là, công nghiệp hóa hướng nội, thay thế nhập khẩu được chuyển
hướng thành công nghiệp hóa hướng ngoại, khuyến khích xuất khẩu. Chỉ
trong vòng trên dưới ba thập kỷ, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Xingapo
từ những nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến
tranh, trình độ công nghiệp hết sức thấp kém, lạc hậu đã nhanh chóng vươn
lên trở thành những con rồng tiêu biểu của khu vực Đông Á.
Tác giả Trần Thị Tri đã nghiên cứu những đặc điểm, bước đi, thành
tựu của công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á, rút ra một số bài học trong quá trình
thực hiện cũng như chỉ ra hạn chế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở
các quốc gia này. Nghiên cứu những đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra thuận lợi, khó khăn và cả những thời
cơ, thách thức, những tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và NIEs Đông
Á để đưa ra một số kiến nghị về việc vận dụng kinh nghiệm của các quốc gia
này vào một số công việc chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Như vậy, những bài học thành công hay hạn chế trong quá trình thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của một số quốc gia trên thế giới đã được
các nhà nghiên cứu chỉ ra. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, học tập kinh nghiệm là
cần thiết, tránh việc phải mò mẫm, mất thời gian nhưng nếu học hỏi mà thiếu
sáng tạo, áp dụng kinh nghiệm một cách máy móc, nguyên xi thì thời gian còn
kéo dài hơn, thậm chí thất bại. Vấn đề là, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội do


các nước đi trước tạo ra, nhưng nắm bắt cơ hội thế nào để đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta lại đòi hỏi phải có một Nhà nước đủ
năng lực và bản lĩnh.
1.1.2. Nhóm công trình về phát triển kinh tế công nghiệp nói chung
ở Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế công nghiệp ở
Việt Nam

nhờ những đột phá trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986). Việc phân chia các giai đoạn phát triển của
công nghiệp cho thấy những bước phát triển thăng trầm đầy khó khăn của
công nghiệp Việt Nam. Trên cơ sở những bước đi đó, công trình cũng đã đề
xuất các giải pháp cơ bản để đẩy mạnh phát triển công nghiệp Việt Nam trong
thời gian tới.
Thứ hai, nhóm công trình đề cập đến những chủ trương, đường lối của
Đảng; chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế công nghiệp. Có một số
công trình nghiên cứu như sau: Võ Đại Lược, Chính sách phát triển công
nghiệp của Việt Nam trong quá trình đổi mới [136]; Võ Đại Lược, Chính sách
thương mại, đầu tư và phát triển một số ngành công nghiệp chủ lực của Việt
Nam [137]; Lê Hồng Yến, Hoàn thiện chính sách và mô hình tổ chức quản lý
nhà nước đối với việc phát triển khu công nghiệp Việt Nam (thông qua thực
tiễn các khu công nghiệp miền Bắc) [277]; Nguyễn Văn Thành, Tác động của
chính sách công nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp công nghiệp [176]; Vũ Thị Tuyết Mai, Chính sách công nghiệp Việt
Nam trong nền kinh tế toàn cầu hóa [139] v.v...
Chính sách phát triển công nghiệp là sự can thiệp trực tiếp hay gián
tiếp của Chính phủ hướng vào những ngành nhất định để đạt được mục tiêu
đề ra. Mục tiêu này có thể là tăng trưởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo
công ăn việc làm. Do đó, chính sách phát triển công nghiệp đề cập đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới. Mỗi giai đoạn
phát triển của đất nước, của công nghiệp tương ứng với chính sách cũng phải


thay đổi. Chính sách và cách tiếp cận cũ không còn phù hợp với thời kỳ mới
mà đang kìm hãm năng lực cạnh tranh, cản trở sự phát triển của ngành công
nghiệp. Tựu chung, chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam bao gồm ba
nhóm chính sách lớn: Một là, môi trường kinh doanh; hai là, phát triển năng
lực phổ quát; ba là, phát triển công nghiệp theo ngành và tác động trực tiếp

ra những nội dung có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quá trình công nghiệp
hóa; làm rõ tính cấp thiết và tính đúng đắn của chiến lược công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của Đảng như là điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trên cơ sở đó, công
trình này cũng rút ra những kinh nghiệm bước đầu từ quá trình công nghiệp
hóa đất nước.
Thứ sáu, các nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cụ thể của ngành
công nghiệp. Đó là các vấn đề về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp
trong cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay; chiến lược phát triển công nghiệp
gắn với sự phát triển bền vững của nền kinh tế; sự phát triển của các thành
phần kinh tế; vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế; vấn đề
hội nhập và sức cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam trong xu thế toàn cầu
hóa v.v... Những công trình tiêu biểu như: Ngô Đình Giao, Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân [87]; Nguyễn Thị
Hường, Phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp
của nước ngoài vào phát triển công nghiệp Việt Nam [124]; Trần Xuân Kiên,
Chiến lược huy động và sử dụng vốn trong nước cho phát triển nền công
nghiệp Việt Nam [131]; Trần Văn Phùng, Nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của các khu công nghiệp Việt Nam [158]; Lê Thanh Hà, Phát triển nguồn
nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và vai trò của Công đoàn [91]; Nguyễn Thị Cẩm Vân, Các mô
hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước [271]; Nguyễn Thị Hường, Phát triển bền vững công
nghiệp Việt Nam: thành tựu, hạn chế và một số đề xuất chính sách [125] v.v...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã khái quát khá toàn diện về
công nghiệp Việt Nam, những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, yếu tố


cho phát triển ngành công nghiệp; sự tác động của bối cảnh thế giới, khu vực,
trong nước tới chính sách, xu hướng phát triển của ngành; quá trình hình thành

Chiến, Những giải pháp nhằm phát triển các khu chế xuất và khu công nghiệp
tại Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 [18]; Phan Quốc Tấn, Giải pháp
hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
phát triển đến năm 2020 [172]; Hoàng Công Dũng, Nghiên cứu tổ chức lãnh
thổ công nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh [53] v.v...
Sau 20 năm chia tách (1997 - 2017), Bình Dương đã trở thành tỉnh
công nghiệp. Với sự nhạy bén và sáng tạo trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh, Bình Dương đã có sự bứt phá ngoạn mục và nổi lên như một điểm
sáng, một điển hình về trung tâm công nghiệp của Việt Nam. Những nghiên
cứu về kinh tế công nghiệp tỉnh Bình Dương nhằm chỉ ra những ưu điểm
cũng như những hạn chế để khắc phục cung cấp thêm cơ sở, kinh nghiệm cho
các cấp lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lãnh đạo. Luận văn của tác
giả Nguyễn Thị Nga, Sự phát triển của công nghiệp Bình Dương trong thời kỳ
đổi mới từ 1986 đến 2003 [147]; Luận văn của tác giả Đỗ Minh Tứ, Đảng bộ
tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 1997 - 2007
[200] đã phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, qua đó làm rõ những
lợi thế của Bình Dương trong việc phát triển công nghiệp, đồng thời đánh giá
thực trạng công nghiệp tỉnh Sông Bé giai đoạn 1986 -1996 để làm cơ sở so
sánh. Trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát
triển công nghiệp, luận văn phân tích các chủ trương, chính sách phát triển
công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ 1997 đến 2007. Luận văn đã
làm rõ những thành tựu và hạn chế của công nghiệp Bình Dương từ 1997 đến
2007, qua đó tổng kết những kinh nghiệm, đưa ra những kiến nghị, giúp cho
Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Bình Dương có những chủ trương, chính sách
nhằm phát triển công nghiệp tỉnh nhà mạnh mẽ và bền vững trong những năm
tiếp theo. Tuy nhiên, luận văn chỉ dừng lại năm 2007, còn lại giai đoạn theo
Chương trình công nghiệp phát triển nhanh gắn với bền vững (2006 - 2010)
và các chiến lược phát triển sau này thì luận văn chưa đề cập tới.




Với vị trí là vệ tinh của Thủ đô Hà Nội, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất
so với cả nước, Bắc Ninh đã có những khởi sắc trong phát triển kinh tế công
nghiệp. Trong hơn 20 năm (từ khi tái lập tỉnh 1997), công nghiệp Bắc Ninh đã
đạt được thành tựu to lớn, đóng góp quan trọng vào những thành tựu phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, là điều kiện để giúp Bắc Ninh vươn lên trở
thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư. Về vấn
đề này có công trình của tác giả Bùi Đình Tiệp, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh
đạo phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 [180]; Nguyễn Thị
Như, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển thủ công nghiệp từ năm
1997 đến năm 2012 [151]. Các công trình đã nghiên cứu chủ trương và sự chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển thủ công nghiệp qua các văn kiện, nghị
quyết của Đảng bộ tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh; đúc rút những bài học kinh
nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.
Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương
trên cả nước đánh giá quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh
tế công nghiệp dưới nhiều góc độ khác nhau. Đây là nguồn tư liệu có thể tham
khảo về phương pháp, nội dung để nghiên cứu luận án.
1.1.3. Nhóm nghiên cứu về phát triển kinh tế công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh miền núi và trung du vùng Đông Bắc của Việt
Nam. Những thành tựu quan trọng mà Thái Nguyên đã đạt được trong phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế công nghiệp nói riêng thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Về vấn đề phát triển công nghiệp
ở Thái Nguyên, có các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu phát triển kinh tế công nghiệp trong sự phát
triển bền vững nền kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên.
Về vấn đề này có hai công trình tiêu biểu sau: Nguyễn Hải Bắc,
Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên [3]; Phan Mạnh Cường, Phát triển bền vững các khu công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status