LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH THÁI BÌNH CHỈ đạo PHÁT TRIỂN KHU, cụm CÔNG NGHIỆP từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 38

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

3

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH THÁI BÌNH VỀ PHÁT TRIỂN KHU, CỤM
11

1.1.

CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Yêu cầu khách quan phát triển khu, cụm công nghiệp ở

11

1.2.

tỉnh Thái Bình (2001-2010)
Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển

25

1.3.

khu, cụm công nghiệp (2001-2010)
Đảng bộ tỉnh Thái Bình chỉ đạo phát triển khu, cụm

công nghiệp (2001-2010)
Chương 2 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

triển các K,CCN có ý nghĩa quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực để phát
triển công nghiệp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thực
hiện CNH, HĐH ở Việt Nam. Các K,CCN có vai trò to lớn đối với phát triển
kinh tế, củng cố quốc phòng - an ninh trong quá trình hội nhập quốc tế
hiện nay. Xây dựng các K,CCN cho phép phát huy tối đa những lợi thế hiện
có của cả nước và của từng địa phương. Mặt khác, K,CCN là nơi thu hút vốn
đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế. Bên cạnh đó K,CCN còn là nơi thu hút và tạo thêm nhiều việc làm
cho người lao động, góp phần giải quyết một số vấn đề KT - XH khác, tạo
điều kiện cho chúng ta tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại của các
nước tiên tiến thông qua đó chúng ta học hỏi cách quản lý khoa học và nâng
cao tay nghề của đội ngũ công nhân.
Thái Bình là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, có vị trí
quan trọng trong phát triển KT - XH và củng cố quốc phòng - an ninh; nằm
trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế: Hà Nội, Hải
Phòng, Quảng Ninh. Những năm qua, tỉnh Thái Bình đã có bước phát triển
mạnh mẽ về KT - XH, song nhìn chung vẫn là một tỉnh nghèo, nông nghiệp
là chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ chưa thực sự phát triển. Để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại sớm đưa tỉnh Thái Bình thoát khỏi tỉnh
nghèo và chậm phát triển, văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ
XVII khẳng định: “Tập trung phát triển các khu, cụm công nghiệp và làng
nghề để tạo bước đột phá tăng trưởng kinh tế” đây là một trong 5 trọng tâm
cần tập trung tạo bước đột phá tăng trưởng kinh tế của Tỉnh.
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng thực tế từ năm
2001 đến năm 2010 phát triển các K,CCN mới chỉ chú trọng tới việc thu hút
đầu tư, lấp đầy, chưa quan tâm đúng mức đến tính hiệu quả và sự bền vững;
quá trình phát triển các K,CCN trên địa bàn Tỉnh còn những hạn chế bất cập

3



4


phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội; Ngô Thế
Bắc (2000), “Khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, (5), tr.30-32; Đề tài cấp Bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(2002), Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp, khu chế xuất
ở Việt Nam; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), “Phát triển khu công nghiệp và khu
chế xuất ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Kỷ yếu hội thảo; Nguyễn
Chơn Chung, Trương Giang Long (2004), Phát triển các khu công nghiệp, khu
chế xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; Trương Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và
hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế
xuất, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Vũ Anh Tuấn (2004), “Phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất, những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (2);
Nguyễn Ngọc Dũng (2005) “Một số vấn đề xã hội trong việc xây dựng và phát
triển các khu công nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (383), tr.3335; Nguyễn Hữu Dũng (2008), “Phát triển khu công nghiệp với vấn đề lao động
việc làm ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (149), tr.19-22; Nguyễn Văn Hùng
(2009), “Một số vấn đề về đổi mới công tác quy hoạch và phát triển khu công
nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở nước ta”, Tạp chí Khu công nghiệp (135),
tr.37-39; Đỗ Đức Quân (2010), Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững
nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu
công nghiệp, Nxb Chính tri quốc gia, Hà Nội; Võ Thanh Thu (2010), “Những
giải pháp cho sự phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Việt Nam”, Tạp chí
Phát triển kinh tế, (77), tr.10-13; Vũ Quốc Huy (2011), “Quản lý nhà nước về
môi trường khu công nghiệp, thực trạng và nhiệm vụ cần triển khai trong thời
gian tới”, Tạp chí Khu công nghiệp, (162), tr.4-6.
Trong các công trình khoa học này hầu hết các tác giả đều đề cập đến vị
trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của K,CCN trong phát triển KT-XH.

Khắc Thanh (2007), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng khu công
nghiệp trong những năm đổi mới từ năm 1986 đến năm 2005, Luận án tiến sĩ
Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quân sự; Nguyễn Quốc Nghi (2009), “Nhu
cầu nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Cần
Thơ thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (192), tr.47- 50;

6


Đinh Phi Hổ (2010),“Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của cộng đồng dân
cư đối với sự phát triển các khu công nghiệp - trường hợp nghiên cứu điển
hình ở tỉnh Bến Tre”, Tạp chí Phát triển kinh tế, (7), tr.2-9; Trần Văn Liễu
(2010), “Các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương vững bước trên con đường
phát triển”, Tạp chí Kinh tế và dự báo, (17), tr.37-39; Nguyễn Thị Thanh
Huyền (2012), Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển khu công nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trung tâm đào tạo,
bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Những công trình trên, các tác giả đã trình bày tổng quan về sự phát
triển các K,CCN tập trung, đánh giá thực trạng phát triển K,CCN tập trung ở
một số địa phương. Đồng thời, luận giải khá sâu sắc về cơ sở lý luận và thực
tiễn của việc phát triển các K,CCN tập trung ở một số địa phương nói chung
và nhất là vấn đề phát triển các K,CCN tập trung trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
nói riêng, trong đó chỉ ra những tác động của quá trình đó đến khu vực phòng
thủ trên địa bàn tỉnh trên cả phương diện thành tựu và hạn chế, đề xuất một số
giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của phát
triển các K,CCN tập trung đến khu vực phòng thủ tỉnh thời gian tới. Từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút
đầu tư vào phát triển các K,CCN ở các địa phương trong những năm tới. Đặc
biệt hai công trình nghiên cứu dưới góc độ Lịch sử Đảng, các tác giả đã đi sâu
phân tích làm rõ thành tựu, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai và

liệu có giá trị giúp tác giả tiếp cận đối chiếu, so sánh trong quá trình
nghiên cứu về phát triển các K,CCN ở tỉnh Thái Bình (2001-2010).
Từ các nhóm công trình nghiên cứu trên cho thấy, nhiều tác giả đã quan
tâm nghiên cứu về K,CCN nói chung, phát triển K,CCN ở Thái Bình nói riêng.
Các công trình khoa học đã có những cách tiếp cận khác nhau để lý giải cho tính
tất yếu phát triển K,CCN; khẳng định vai trò của K,CCN trong chiến lược phát
triển KT-XH, đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta và đề xuất nhiều giải pháp có tính
khả thi cao theo góc độ tiếp cận của từng ngành khoa học, nhằm phát triển
K,CCN tương xứng với tiềm năng, lợi thế của từng địa phương . Nhìn chung các
công trình nghiên cứu trên đều thống nhất nhận định về bản chất, đặc điểm, lợi

8


thế của mỗi địa phương trong xây dựng, phát triển các K,CCN hiện nay. Đánh
giá về thực trạng, vai trò, hiệu quả, tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ của K,CCN
đối với sự phát triển KT-XH. Những công trình đó là tài liệu có giá trị quan
trọng làm cơ sở để tác giả tham khảo kế thừa, phát triển trong triển khai
nghiên cứu luận văn. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng còn
nhiều “khoảng trống”, nhất là về sự lãnh đạo và chỉ đạo phát triển K,CCN của
Đảng bộ tỉnh Thái Bình. Vì vậy, đề tài tác giả lựa chọn là vấn đề mới, không
trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình về phát triển K,CCN
từ năm 2001 đến năm 2010, trên cơ sở đó đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình
Đảng bộ tỉnh lãnh đạo phát triển K,CCN để vận dụng trong những năm tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày yêu cầu khách quan phát triển K,CCN ở tỉnh Thái Bình
trong những năm 2001-2010.

chính sách về phát triển K,CCN ở tỉnh Thái Bình trong thời kỳ mới.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu để tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy, học tập các chuyên đề về Lịch sử Đảng trong các nhà trường.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm phần mở đầu, 2 chương, 5 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.

10


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH THÁI BÌNH VỀ PHÁT TRIỂN KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

1.1. Yêu cầu khách quan phát triển khu, cụm công nghiệp ở tỉnh
Thái Bình (2001-2010)
1.1.1. Vị trí, vai trò của khu, cụm công nghiệp đối với phát triển kinh
tế, xã hội ở tỉnh Thái Bình
* Quan niệm về khu công nghiệp

Việt Nam tiến hành phát triển công nghiệp, thực hiện quá trình công nghiệp
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế muộn hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới. Do vậy, sự hình thành và phát triển các KCN ở Việt Nam có nhiều điều
kiện học hỏi, kế thừa những kinh nghiệm của các nước đi trước. Trên cơ sở kinh
nghiệm của các nước trên thế giới gắn với điều kiện kinh tế cụ thể của Việt Nam,
Nghị định số 36/CP của Chính phủ ngày 24/07/1997 đã đưa ra khái niệm về KCN
như sau: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính

ta thuật ngữ “Cụm công nghiệp” thường được dùng để chỉ các KCN có quy
mô nhỏ, và đôi khi để chỉ các “Khu công nghiệp địa phương”. Có ý kiến cho
rằng CCN là các KCN vừa và nhỏ được hình thành ngoài quy định của Nghị
định 36/CP ngày 24/ 07/1997 của Chính phủ, tức là các KCN không nằm
trong quy hoạch của Chính phủ phê duyệt thành lập, mà do chính quyền địa
phương (cấp tỉnh) ra quyết định thành lập. Có địa phương lại cho rằng CCN là
địa điểm đã phát triển công nghiệp trước đây nay quy hoạch lại để phát triển
theo mô hình công nghiệp.
Ngày 19/8/2009 Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 105/2009/QĐTTg về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý CCN thống nhất trên cả
nước. Theo Quy chế này, CCN là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở
sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân
cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các

12


cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa
phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do UBND các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương quyết định thành lập.
* Vị trí, vai trò của K,CCN đối với phát triển KT-XH ở tỉnh Thái Bình
Thực hiện đường lối CNH, HĐH đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng, trong thời gian qua Nhà nước đã tập trung huy động
các nguồn lực vào việc thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp và phát
triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn cả nước. Phát triển các K,CCN là một hướng
quan trọng trong Chương trình phát triển công nghiệp. Chủ trương phát triển
các K,CCN đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là từ năm 1990
trở lại đây. Việc phát triển các K,CCN và khu chế xuất trong những năm qua
thực sự là một động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (1996), những

thuận lợi trong việc sử dụng lao động, giảm được các chi phí trong việc xây
dựng nhà ở và các dịch vụ sinh hoạt cho công nhân. Khi các doanh nghiệp
K,CCN mới đi vào hoạt động (1996) giải quyết việc làm cho 3.320 lao động,
trong đó chủ yếu là lao động địa phương. Đến năm 2000, các K,CCN Thái
Bình đã giải quyết việc làm cho 6.000 lao động [48, tr.3]. Việc thu hút nhiều
lao động làm việc tại các K,CCN cho thấy hiệu quả xã hội đem lại từ các
K,CCN của Tỉnh là rất lớn.
Các K,CCN tạo điều kiện huy động một lượng vốn lớn, từ nhiều nguồn
để phát triển kinh tế
Các K,CCN có vai trò quan trọng trong việc tập trung các doanh nghiệp
sản xuất chế biến công nghiệp nhằm thu hút vốn và công nghệ tiên tiến trong
và ngoài nước và hoạt động sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình nghiên cứu
và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới, xây dựng các ngành công
nghiệp mũi nhọn, nâng cao vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh
tế; bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững; phát triển công nghiệp
chế biến, nông, lâm, thủy sản, hỗ trợ các ngành này và phục vụ xuất khẩu,
phân bố lại các khu vực sản xuất và sinh hoạt, thực hiện đô thị hóa nông
thôn, cải tạo môi trường sống cho dân cư đô thị; tạo nhiều việc làm cho dân
cư, đặc biệt là dân cư sống tại vùng đất bị giảm do chuyển thành đất công
nghiệp. Hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc rất lớn vào các K,CCN, đặc

14


biệt là các khu chế xuất. Sản lượng xuất khẩu của các K,CCN thường
chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng xuất khẩu của các ngành công nghiệp
toàn Tỉnh. Chính vì vậy, việc phát triển các K,CCN có tác động rất lớn
trong việc cân bằng cán cân xuất-nhập khẩu và dần dần đến xuất siêu. Như
vậy, tăng sản lượng hàng hóa xuất khẩu là mục tiêu trực tiếp của việc thiết
lập và phát triển K,CCN của Tỉnh.

* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Thái Bình là tỉnh ven biển, thuộc đồng bằng châu thổ sông
Hồng, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế:
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.Tỉnh Thái Bình cách Hà Nội 110 km về phía
Đông Nam, có tọa độ từ 20017’ đến 20044’ độ vĩ Bắc và từ 106006’ đến 106039’
độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải
Phòng, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định, Hà Nam, phía Đông giáp
vịnh Bắc Bộ.
Đất đai, địa hình: Tỉnh Thái Bình có diện tích đất tự nhiên 1.543,93
km2, chiếm 0,5% diện tích đất đai của cả nước. Địa hình tương đối bằng
phẳng, độ dốc nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ 1 đến 1,5 m so với
mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Từ Tây sang Đông dài
54 km, từ Bắc xuống Nam dài 49 km. Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống
sông, biển khép kín, có bờ biển dài 54 km và bốn con sông lớn chảy qua địa
phận của Tỉnh (sông Hóa, sông Luộc, sông Trà Lý, đoạn hạ lưu sông Sồng); có 5
cửa sông lớn đổ ra biển (Văn Úc, Diêm Điền, Trà Lý, Lân và Ba Lạt).
Khí hậu: Tỉnh Thái Bình thuộc vùng khí hậu đặc trưng của vùng châu
thổ sông Hồng là nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình trong năm 23 0C240C, nhiệt độ thấp nhất ở mức 40C, cao nhất ở mức 380C-390C; số giờ nắng
trong năm từ 1.600-1.800 giờ. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 mm
đến 1.900 mm; độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm 85%-90%.
Tài nguyên khoáng sản: Tỉnh Thái Bình có mỏ khí đốt tự nhiên tại
huyện Tiền Hải, với sản lượng khai thác bình quân hàng năm lên tới hàng
triệu m3, phục vụ đắc lực cho ngành công nghiệp sản xuất đồ sứ, thủy tinh,
gạch ốp lát, xi măng trắng của Tỉnh. Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450
m. Ngoài ra còn có mỏ nước nóng 570C (ở độ sâu 50 m) và mỏ nước nóng
720C (ở độ sâu 178 m) tại xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà.

16




17


lâm, ngư nghiệp 38,95%; công nghiệp, xây dựng 26,85%; dịch vụ 34,2 %) kết
quả trên có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp, trong đó các K,CCN giữ
vai trò đột phá. Theo thống kê của Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình Tỉnh,
tính đến ngày 31/12/2010 dân số toàn tỉnh Thái Bình là: “1.944.546 người, số
phụ nữ từ 15-49 tuổi là 503.489, số trẻ sinh ra trong 12 tháng 25.486 cháu, giảm
so với cùng kỳ năm 2009 là 374 cháu, tỷ lệ sinh đạt 13,1%, giảm 0,25% so
với năm 2009...” [21, tr.15].
Đơn vị hành chính: Tỉnh Thái Bình có 7 huyện và 1 thành phố (loại II);
285 xã, phường, thị trấn. Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Thái Bình. Các huyện
đều bao quanh Thành phố, huyện xa nhất cách Thành phố 30 km.
* Về kết cấu hạ tầng đảm bảo phát triển các K,CCN trên địa bàn Tỉnh
Giao thông vận tải
Đường bộ: Tuyến Quốc lộ 10 chạy dọc từ Bắc xuống Nam Tỉnh dài
khoảng 41 km, nối liền giao thông với Hải Phòng và Nam Định; Quốc lộ 39
nối liền giao thông với tỉnh Hưng Yên qua cầu Triều Dương; Quốc lộ 39B nối
liền thị trấn Tiền Hải với thị trấn Diêm Điền và nối liền với địa phận Hải Phòng.
Một số tuyến tỉnh lộ như 217, 223, 219, 221A... đã được Tỉnh đầu tư nâng cấp.
Đến nay toàn Tỉnh đã có 4.092 km đường các loại, trong đó quốc lộ là 98,97 km,
tỉnh lộ 328 km, huyện lộ 589 km và đường liên xã, liên thôn, xóm là 3.076 km.
Vận tải hành khách đường bộ những năm gần đây phát triển mạnh, đáp ứng
được nhu cầu đi lại của người dân trên tất cả các tuyến liên tỉnh, liên huyện.
Đường thủy: Hiện có 16 cảng biển, cảng sông và dự kiến xây dựng mới
đều nằm trên các tuyến sông chính, cải tạo nâng cấp trang, thiết bị đầy đủ đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Sông Hồng chạy dọc theo phía Tây Nam của
Tỉnh có chiều dài 67 km; sông Trà Lý có chiều dài 65 km; sông Luộc có chiều
dài 53 km; sông Hóa có chiều dài 35 km, các sông này có khả năng lưu thông

tại Nghị quyết số 24/2007/NQ-CP ngày 25/4/2007 như sau: Tổng diện tích đất
tự nhiên của Tỉnh là 154.594 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 104.213
ha, đất phi nông nghiệp là 49.508 ha; trong đó đất KCN là 1.221 ha, chiếm tỉ
lệ 1,17% so với diện tích đất tự nhiên của Tỉnh.
Với những đặc điểm nêu trên, tỉnh Thái Bình có một số lợi thế trong
phát triển KT-XH theo hướng đa dạng hóa các ngành nghề. Trong đó công
nghiệp nói chung và phát triển K,CCN nói riêng là một trong những lĩnh vực

19


có nhiều thế mạnh nhất, có khả năng thu hút nhiều dự án đầu tư trong và
ngoài nước, hình thành các K,CCN tập trung. Đồng thời những tiềm năng đó
cho phép tỉnh Thái Bình phát huy thế mạnh, khắc phục những khó khăn, nỗ
lực vươn lên để phát triển các K,CCN góp phần thực hiện thắng lợi nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra.
1.1.3. Chủ trương của Đảng về phát triển khu, cụm công nghiệp
(2001-2010)
Phát triển công nghiệp là quá trình phát triển của phân công lao động
gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ và kinh tế hàng hóa, với sự
hình thành và phát triển của thị trường trong nước và quốc tế. Đó là quá trình
phát triển các ngành công nghiệp riêng biệt nhằm từng bước điều chỉnh cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, trong đó công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng cao,
hướng tới xây dựng đất nước trở thành một quốc gia công nghiệp theo các tiêu
chí tương ứng. Trong chiến lược phát triển KT-XH 10 năm (2001-2010) được
thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng Cộng sản Việt
Nam xác định: “Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ
nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết” [26, tr.164].
Phát triển K,CCN là một trong những phương thức quan trọng để tạo
tiền đề vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Lịch sử phát triển các

Thứ nhất, phát triển K,CCN phải tuân thủ quy hoạch đã được phê
duyệt. Nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm tính hệ thống trong quy
hoạch KCN trên toàn quốc; nghiên cứu và vận dụng cho Việt Nam các mô
hình KCN theo hướng hiện đại với điều kiện thị trường mở.
Thứ hai, xây dựng K,CCN phải gắn với việc thực hiện quy hoạch hạ
tầng kỹ thuật khu vực đồng thời xây dựng và triển khai chính sách phát triển
hạ tầng xã hội; bảo đảm tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về KT-XH
và môi trường; thực hiện cơ cấu trong nội bộ K,CCN theo hướng hiệu qủa và
phù hợp với sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Thứ ba, tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào K,CCN.
Thứ tư, chính sách tạo nguồn vốn, sử dụng vốn ngân sách Nhà nước để hỗ
trợ phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào. Để tạo điều kiện hỗ trợ

21


cho các địa bàn gặp nhiều khó khăn trong phát triển các K,CCN trong từng trường
hợp cụ thể, không chỉ xuất phát từ sự cần thiết thành lập KCN mà còn phải phù hợp
với khả năng cân đối của ngân sách, không hỗ trợ nhỏ giọt và dàn trải.
Thứ năm, chính sách đất đai, cần tuân thủ theo những quy định của
Luật Đất đai và được xử lý trong các quy định liên quan để giải quyết thỏa
đáng quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN cũng
như doanh nghiệp trong các KCN để bảo đảm tính nhất quán của chính sách
ưu đãi về đất đai của Nhà nước đối với tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài
KCN, tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ sáu, chính sách phát triển lao động và đào tạo nghề, phát triển các
cơ sở đào tạo nghề gắn với nhu cầu phát triển các K,CCN.
Thứ bảy, xây dựng các giải pháp về môi trường và phát triển bền vững
đối với phát triển các K,CCN.
Thứ tám, phân cấp quản lý, tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý K,CCN,

ít dân cư. Huy động các nguồn lực (nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, cộng
đồng) để xoá nhà ở dột nát, nhà ở tạm bợ cho người nghèo; phát triển nhanh
quỹ nhà để đáp ứng cơ bản nhu cầu nhà ở cho công chức, viên chức, người
lao động, sinh viên, học sinh, nhất là công nhân các K,CCN.
Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước
ta hội nhập vào khu vực và quốc tế, trước hết thông qua việc thu hút mạnh
đầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia tham gia phát triển
công nghiệp và xây dựng ở Việt Nam.
Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công
nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp quốc
phòng, góp phần xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao
khả năng tự chủ của nền kinh tế. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát
triển công nghiệp phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành
công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều
lao động, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản; may mặc, giày dép, đồ nhựa, đồ gỗ
gia dụng; cơ khí đóng tàu, công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bị điện,
thiết bị xây dựng, máy nông nghiệp, phương tiện giao thông, sản xuất và lắp ráp

23


cơ - điện tử; công nghiệp bổ trợ, công nghiệp công nghệ thông tin, sản xuất phần
mềm. Nâng tỉ trọng sản phẩm công nghiệp xuất khẩu đã qua chế biến. Chú trọng
phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng
lượng; công nghiệp vật liệu và công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu; công nghiệp
dược và các chế phẩm sinh học; công nghiệp bảo vệ môi trường.
Quan điểm phát triển các K,CCN của Đảng là phát triển các K,CCN
theo hướng nâng cao chất lượng; phát triển các K,CCN gắn với phát triển khu
đô thị, khu dân cư và các dịch vụ khác. Xây dựng các K,CCN tiến tới là các

49,5% (2003), trong khi tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm
khoảng 18,5%. Điều đó, đặt tỉnh Thái Bình vào tình thế muốn trở thành
một tỉnh giàu mạnh của cả nước, phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Như kết luận của Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến thăm và
làm việc ở tỉnh Thái Bình đầu tháng 4 năm 2004: “Phát triển công nghiệp
là hướng đột phá cho kinh tế của Thái Bình, theo cả 2 hướng công nghiệp
thu hút nhiều lao động và công nghiệp có trình độ công nghệ cao”.
Với phương châm “Phát triển công nghiệp là hướng đột phá”, Tỉnh uỷ
Thái Bình đã có chủ trương: “Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với
nhịp độ cao, chuyển dần nền kinh tế thuần nông sang nền kinh tế có cơ cấu
nghiêng về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Tạo thuận lợi thu hút đầu tư, hình
thành các khu, cụm công nghiệp” [56, tr.41]. Thực hiện chủ trương đó, UBND
tỉnh có nhiều kế hoạch, biện pháp phát triển công nghiệp mà trọng tâm là phát
triển các KCN tập trung, làm đầu tầu kéo toàn bộ ngành công nghiệp phát triển.
1.2.1. Về phương hướng, mục tiêu
* Phương hướng
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI xác định: “Phát
huy nội lực, tăng cường hợp tác đầu tư, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa…thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh” [56, tr.42].
Đến Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVII xác định:
“...Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp..., phấn

25


đấu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, sớm đưa Thái Bình thoát khỏi tỉnh
nghèo và chậm phát triển” [57, tr.40]. Cụ thể:
Đẩy mạnh và đổi mới công tác xúc tiến đầu tư vào các K,CCN; ưu tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status