TRẦN BÁ ĐỒNG
ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN
HÓA TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2013
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ:
60 22 03 15
HÀ NỘI - 2015
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban chấp hành Trung ương
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Nhà xuất bản
Xã hội chủ nghĩa
Ủy ban nhân dân
Chữ viết tắt
BCHTW
CNXH
CNH, HĐH
HĐND
Nxb
25
1.3.
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa (1998 – 2013)
Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị
Chương 2
2.1.
các di tích lịch sử - văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo
30
52
tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
2.2.
(1998 - 2013)
Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo
52
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
(1998 - 2013)
67
mang tính cấp bách.
Di sản văn hóa của bất kỳ quốc gia nào cũng được cấu thành bởi di sản
văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Đó là những sản phẩm vật chất, tinh
thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Trong di sản văn hóa vật thể thì di tích lịch sử - văn hóa là bộ phận
cấu thành quan trọng nhất, là bằng chứng cụ thể, sinh động về quá trình phát
triển lịch sử, văn hóa, khoa học lâu đời của mỗi dân tộc, là tài sản vô cùng
quý giá của quốc gia.
Trong quá trình hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông
cha ta đã để lại các thế hệ ngày nay hàng ngàn di tích lịch sử - văn hóa có giá
trị. Những di tích này không những là bằng chứng chắc chắn để nghiên cứu
lịch sử và nền văn hóa lâu đời của dân tộc, mà còn là cơ sở rất quan trọng để
xây dựng nền văn hóa mới, giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc
trong mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân khác
nhau, nhiều di tích bị xuống cấp, hư hại và đứng trước nguy cơ trở thành phế
tích. Vì vậy, bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa là trách nhiệm của toàn thể
cán bộ và nhân dân ta đối với lịch sử và các thế hệ mai sau.
4
Hà Tĩnh là địa phương có nhiều di tích lịch sử - văn hóa. Sau ngày tái
lập Tỉnh (1991), đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
BCHTW Đảng khóa VIII (7/1998), dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa đã đạt
được những thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, văn
hóa - xã hội địa phương. Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế bất cập và
chưa theo kịp với tình hình thực tiễn.
Thực trạng trên đặt ra yêu cầu khách quan là cần tiếp tục làm tốt công
Các bài báo, tạp chí: Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Vai trò của di sản
văn hóa trong sự phát triển ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Di sản văn hóa, số
2(23); Trịnh Thị Hòa (2009), “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích trong bối
cảnh hội nhập và phát triển”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2(27); Hoàng Tuấn
Anh (2009), “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa - cơ hội mới, thách
thức mới”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3(28); Đoàn Bá Cử (2009), “Làm gì để
nâng cao chất lượng tu bổ, bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa”, Tạp chí
Di sản văn hóa, số 3(28); Lưu Trần Tiêu (2011), “Mấy vấn đề về hoạt động tu
bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3(36);
Đoàn Bá Cử (2011), “Công tác tu bổ di tích - thực tiễn và quản lý nhà nước”,
Tạp chí Di sản văn hóa, số 2(35).
Các luận văn, luận án: Trần Văn Thiện (2002), Báo chí Thừa Thiên Huế
với công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hoá Huế: Qua báo Thừa Thiên
Huế, tạp chí Sông Hương, tạp chí Huế xưa và nay từ 1990 đến 1997, Luận văn
thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Hoàng Hương Trà (2007), Báo chí với vấn
đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc
gia Hà Nội; Nguyễn Thị Sao (2012), Phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát
huy giá trị của di sản văn hóa vật thể tại Hải Dương, Luận văn thạc sĩ, Đại học
Quốc gia Hà Nội; Đỗ Phương Quyên (2014), Bảo tồn và phát huy các di tích
lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch , Luận
văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
6
Các công trình khoa học trên đều nghiên cứu về di sản văn hóa Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử; làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, trên cơ
sở đó đưa ra những giải pháp bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa nói
chung, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nói riêng.
Nhóm các công trình đề cập đến bảo tồn và phát huy giá trị các di
Vinh; Hoàng Văn Bình (2006), Lịch sử - văn hóa dòng họ Nguyễn Duy ở
Trường Lưu (Can Lộc, Hà Tĩnh) từ thế kỉ XV đến nay, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Vinh; Lê Thị Ngọc Hà (2006), Góp phần tìm hiểu đặc điểm
kiến trúc và giá trị di tích danh thắng chùa Thiên Tượng trên vùng đất Trung
Lương - Hà Tĩnh, Luận văn tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Vinh; Hoàng
Quốc Bảo (2006), Tìm hiểu một số di tích văn hoá lịch sử ở huyện Nghi Xuân
- Hà Tĩnh, Luận văn tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Vinh; Hồ Trà Giang
(2007), Lịch sử - văn hoá dòng họ Đặng ở Nghi Xuân (Hà Tĩnh) từ đầu thế kỷ
XV đến nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh.
Các công trình trên đã nghiên cứu, tiếp cận di sản văn hóa Hà Tĩnh ở
nhiều góc độ khác nhau, phản ánh tương đối cụ thể từng mặt của hoạt động
văn hóa, luận giải một cách khoa học về cơ sở lý luận và thực tiễn quá trình
bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Hà Tĩnh, bước đầu rút ra một số nhận
xét và kinh nghiệm trong quá trình bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Hà
Tĩnh. Qua đó, phần nào đã phác họa vị trí, vai trò bảo tồn và phát triển các di
sản văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng tỉnh Hà Tĩnh ngày càng giàu mạnh,
văn minh. Đây là những tài liệu quý liên quan trực tiếp đến quá trình nghiên
cứu, hoàn thiện luận văn của tác giả.
Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập một cách toàn diện, đầy đủ,
có hệ thống thành một công trình khoa học nhằm tập hợp và luận giải đầy đủ
về vị trí, vai trò to lớn của hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử - văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh. Vì
vậy, nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn và phát huy
giá trị các di tích lịch sử - văn hóa vẫn là đề tài chưa có một công trình nào đề
cập đầy đủ, toàn diện dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.
8
Trên cơ sở kế thừa những công trình đã công bố, tác giả hệ thống và
Về thời gian: Từ năm 1998 đến 2013.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
phương pháp luận sử học macxít.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch
sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic; đồng thời có sử dụng kết
hợp các phương pháp khác như: thống kê, khảo sát, so sánh, phân tích, tổng
hợp, lịch đại, đồng đại, điền dã, phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013.
- Cung cấp thêm những tư liệu liên quan đến bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử - văn hóa của Đảng ở tỉnh Hà Tĩnh.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên
cứu ở tỉnh Hà Tĩnh và nghiên cứu, giảng dạy lịch sử và văn hóa ở các học
viện, nhà trương trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH
10
11
- văn hóa và danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được xếp thành 3
hạng như sau:
Di tích cấp tỉnh: Là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của
địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của
địa phương trong các thời kỳ lịch sử; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần
thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm
vi địa phương; địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; cảnh
quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với
công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.
Di tích quốc gia: Là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của
dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị,
văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến
trình lịch sử của dân tộc; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc,
tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai
đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; địa điểm khảo cổ có giá trị nổi
bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; cảnh quan thiên
nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công
trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa
chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù.
Di tích quốc gia đặc biệt: Là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của
quốc gia, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu
bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh
hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch
sử của dân tộc; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể
nhiều với 2 mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 với đặc trưng là
nắng gắt kèm theo gió Tây Nam khô nóng (từ tháng 5 đến tháng 7). Từ tháng
8 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập lụt nhiều
13
nơi; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiều đợt gió mùa Đông
Bắc và mưa phùn, nhiệt độ giảm xuống thấp, gây rét và ẩm ướt.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo kết quả điều tra dân số năm 2011 thì Hà Tĩnh có 1.229.197 người
với 5 dân tộc sinh sống gồm Kinh, Thái, Chứt, Mường và Lào. Trong đó
người Kinh chiếm khoảng gần 99% dân số của Tỉnh.
Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, bao
gồm tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản. Diện tích rừng
khoảng 276.000 ha, trong đó rừng tự nhiên khoảng 199.850 ha, độ che phủ
rừng đạt gần 45%. Bờ biển dài 137 km, với 18.000 km 2 mặt biển với nhiều
bãi tắm, cảng biển,… rất thuận lợi để phát triển du lịch, trao đổi hàng hóa,
đánh bắt và chế biến hải sản. Tài nguyên khoáng sản rất đa dạng như sắt,
titan, vàng, mangan, thiếc, đá granit,…
Hà Tĩnh có mạng lưới giao thông vận tải tương đối rộng khắp với các
tuyến đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển tạo thành hệ thống liên
hoàn, thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa, đối nội và đối ngoại. Có 3
trục giao thông quốc gia chạy qua gồm Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và
đường sắt Bắc Nam. Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có Quốc lộ 8A nối liền với nước
bạn Lào. Với điều kiện vị trí thuận lợi, Hà Tĩnh trở thành nút giao thông quan
trọng, cửa ngõ giao lưu quốc tế giữa các nước trong khu vực.
* Truyền thống lịch sử - văn hoá
Kết quả nghiên cứu các di chỉ khảo cổ học ở nhiều địa phương trên địa
bàn Hà Tĩnh và nhiều cứ liệu về văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ,... đã chứng minh
Thiên Nhẫn là đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn trong kháng chiến
chống giặc Minh xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ
XIX, núi rừng Vũ Quang (Hương Khê) trở thành đại bản doanh của cụ Phan
Đình Phùng tụ hội anh hùng chí sỹ bốn phương, tiến hành cuộc kháng chiến
10 năm kiên cường, bền bỉ.
Năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nhân
dân Hà Tĩnh cùng với nhân dân Nghệ An đã làm nên cao trào Xô Viết Nghệ
15
Tĩnh - cuộc diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hàng vạn
người con Hà Tĩnh đã hăng hái tham gia chiến đấu, chịu đựng gian khổ hy
sinh, góp phần to lớn vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến, thống
nhất Tổ quốc, bảo vệ vững chắc nền độc lập tự do của dân tộc.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nhân dân
Hà Tĩnh kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của quê hương, giành
được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội,
quốc phòng - an ninh. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ
và nhân dân Hà Tĩnh đang tập trung mọi nguồn lực, nổ lực phấn đấu xây
dựng quê hương trở thành một trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn khu
vực Bắc miền Trung.
Thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng, Hà Tĩnh được xem là vùng đất “địa
linh nhân kiệt”, thời kỳ nào cũng xuất hiện những danh nhân, anh hùng chí sỹ.
Hà Tĩnh là quê hương của nhiều danh nhân như: Mai Thúc Loan, Nguyễn
Thiếp, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công Trứ, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du,...
Đây cũng là quê hương của hai nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng: Cố Tổng
Bí thư Trần Phú và cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập.
Hà Tĩnh có nhiều làng nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng và
cũng như chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về xây dựng văn hóa Hà Tĩnh
nói chung, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa nói riêng.
Kết quả là đã tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của một bộ
phận cán bộ, đảng viên và nhân dân trong bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa.
Nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nhận thức được di tích lịch sử - văn
hóa là tài sản quý giá cần phải bảo vệ, giữ gìn. Các hiện tượng vi phạm di tích
như lấn chiếm đất, trộm cắp, đào bới các cổ vật trong các đền, chùa,… giảm
hơn so với trước.
17
Thứ hai, công tác quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích lịch sử - văn hóa ngày càng hiệu quả. Một số di tích lịch sử - văn hóa
được đầu tư trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp.
Sau ngày tái lập tỉnh, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Hà Tĩnh đã chú trọng đến
công tác bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa. Ngày 18/12/1992, UBND Tỉnh
ban hành Chỉ thị số 55CT/UB “Về việc tiến hành tổng kiểm kê các di tích lịch
sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trong Tỉnh” với mục đích nắm lại danh
mục toàn bộ di tích lịch sử - văn hóa; khảo sát thực tế tiến hành lập hồ sơ,
chụp ảnh đo đạc, quay băng hình, đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa từng di
tích và thực trạng di tích hiện tại. Trên cơ sở đó nghiên cứu các phương án,
đưa ra các giải pháp trùng tu, tôn tạo và phát huy các di tích. Giai đoạn từ
năm 1991 đến năm 1997, ngành văn hóa Hà Tĩnh đã tiến hành kiểm kê được
hơn 300 di tích lịch sử - văn hóa. UBND Tỉnh cũng đã lập hồ sơ đề nghị lên
Bộ văn hóa - Thông tin (nay là Bộ văn hóa - Thể thao và Du lịch) công nhận
hơn 40 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Từ năm 1994, Chính phủ bắt đầu triển khai “Chương trình mục tiêu
chống xuống cấp và tôn tạo di tích”. Từ năm 1994 đến năm 1997, Nhà nước
đã đầu tư trên 10 tỉ đồng để trùng tu, tôn tạo một số di lịch sử - văn hóa ở Hà
Những di tích không bị tháo bỏ thì sử dụng làm nơi cất giữ lương thực, trụ sở
Hợp tác xã,…Bên cạnh đó, nạn trộm cắp cổ vật diễn ra khá phổ biến ở nhiều
di tích. Rất nhiều cổ vật ở các di tích lịch sử - văn hóa như đồ thờ cúng,
chuông, tượng, tranh ảnh, sắc phong,… đã bị lấy cắp. Những hiện tượng trên
đã làm cho nhiều di tích lịch sử - văn hóa bị xuống cấp, hư hại nghiêm trọng.
Hai là, ngân sách dành cho tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị các di
tích lịch sử - văn hóa còn hạn hẹp. Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, bảo tồn,
khai thác và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa chưa tương xứng với
vùng đất có truyền thống văn hóa như ở Hà Tĩnh.
Sau ngày tái lập tỉnh (1991), Hà Tĩnh vẫn còn là một tỉnh nghèo, đời
sống của cán bộ và nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Vì vậy, ngân
19
sách dành cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn
hóa còn hạn hẹp. Chính vì ngân sách hạn hẹp nên việc quan tâm đầu tư cho
hoạt động nghiên cứu, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị các di tích lịch sử
- văn hóa còn hạn chế. Nhiều di tích nhanh chóng bị xuống cấp, hư hỏng do
không được đầu tư tôn tạo.
Ba là, nguồn nhân lực cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di
tích lịch sử chưa đáp ứng được yêu cầu.
Cũng giống như nhiều địa phương trong cả nước, đội ngũ cán bộ phụ
trách công tác bảo tồn, trùng tu di tích lịch sử - văn hóa ở Hà Tĩnh còn nhiều
hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đại bộ phận cán bộ chưa được
đào tạo chuyên sâu về công tác bảo tồn di sản văn hóa. Vì vậy, kiến thức cũng
như kinh nghiệm bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa chưa đáp ứng được yêu cầu.
Như vậy, từ những kết quả đạt được cùng những yếu kém hạn chế của
công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa trước năm 1998 đặt
ra yêu cầu đối với cấp ủy Đảng, chính quyền và ngành văn hóa tỉnh Hà Tĩnh
phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Giai đoạn 2001 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước bình quân 7,26%/năm. Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) năm 2010 gấp 3,26 lần so với năm 2000; GDP bình
quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD. Đối với tỉnh Hà Tĩnh, giai đoạn
2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 8,6%/năm, giai đoạn 2006 - 2010 là
9,6%. Nếu như năm 2000, thu nhập bình quân của mỗi người dân Hà Tĩnh là
4,253 triệu đồng, thì đến năm 2010 là 12,944 triệu đồng. Đời sống của nhân
dân càng cao thì nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng lớn. Nhiều di tích lịch
sử - văn hóa ở Hà Tĩnh đã trở thành địa chỉ thu hút ngày càng nhiều nhân dân
tham gia các hoạt động lễ hội, tín ngưỡng và tham quan du lịch.
Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của nhân
dân ngày càng được nâng lên, việc nghiên cứu tìm hiểu về truyền thống lịch
sử, văn hóa của vùng đất Hà Tĩnh trở thành nhu cầu của mỗi người cả nước
nói chung, của nhân dân Hà Tĩnh nói riêng. Di tích lịch sử - văn hóa chính là
nguồn tư liệu sống, là cơ sở khoa học rất quan trọng để nghiên cứu, tìm hiểu
21
về lịch sử, đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội và con người Hà Tĩnh qua các
thời kỳ lịch sử.
Với truyền thống yêu nước nồng nàn, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”,
“ăn quả nhớ người trồng cây”, nhân dân Hà Tĩnh luôn hướng về cội nguồn
với lòng biết ơn sâu sắc những thế hệ đi trước. Đất nước và quê hương ngày
càng đổi mới, phát triển giàu mạnh là điều kiện thuận lợi để nhân dân Hà Tĩnh
quan tâm chăm sóc, giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa mà cha ông đã
gây dựng nên. Đối với nhân dân Hà Tĩnh, việc giữ gìn các di tích lịch sử - văn
hóa còn nhằm giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
truyền thống hiếu học của quê hương cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
1.1.5. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
gia. Trên cơ sở đó, Nghị quyết nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo tồn và phát
huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa:
Có những chủ trương và biện pháp có hiệu lực bảo tồn lâu dài các di
tích lịch sử và các giá trị văn hoá để giáo dục nhân dân về lòng yêu
nước và tự hào dân tộc, về truyền thống lịch sử và văn hoá, tạo điều
kiện cho nhiều thế hệ có thể thưởng thức, tiếp thu, nghiên cứu các giá
trị văn hoá cổ truyền, tiếp tục sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới thể
hiện được tầm cao của thời đại và chiều sâu của truyền thống, vừa dân
tộc, vừa hiện đại [33, tr. 896].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) thông qua
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ” chỉ rõ một trong những
đặc trưng của xã hội XHCN mà Nhân dân ta xây dựng là “có nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử - văn hóa, Đảng nhấn mạnh phải “giữ gìn và nâng cao các loại
hình văn hoá, nghệ thuật truyền thống, bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hoá,
lịch sử. Nhà nước đầu tư thích đáng và có cơ chế quản lý thích hợp với các
hoạt động văn hoá, nghệ thuật” [31, tr.528].
23
Trên cơ sở phát triển đường lối văn hoá đúng đắn của Đảng qua các
thời kỳ trước, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã
khẳng định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”. Đối với công tác bảo tồn và
phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, Nghị quyết Đại hội thứ VIII của
Đảng xác định “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị
văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân
tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh” [32, tr.111].
Mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của Đảng
văn hoá với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch [ 35, tr.107 ].
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), các quan
điểm về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam theo mục tiêu tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được khẳng định. Đối với công tác bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc, Nghị quyết Đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng nhấn mạnh:
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở
hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi
vật thể của dân tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn
nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch
và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị
văn hoá trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ [36, tr.225].
Như vậy, trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa của dân
tộc. Đảng luôn xác định bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn
hóa là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; bảo
tồn và và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa góp phần xây dựng nền
văn hóa mới và con người mới XHCN, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
25