Tiểu luận Phương án bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Mường tại xã Mậu Lâm huyện Như Thanh - Pdf 27

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng luôn có một vị trí, vai trò quan
trọng trong đời sống của con người cũng như trong bản sắc văn hóa của mỗi dân
tộc. văn hóa không chỉ làm nên sự khác biệt, tính đặc thù của mỗi dân tộc mà
qua đó làm cho đời sống nói chung thêm phong phú, đa dạng giúp cho con
người vun đắp lòng tự hào đối với bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc đều có sự khác nhau và tạo thành tiếng
nói, phong tục, tập quán và trang phục khác nhau, người Kinh có tiếng nói, trang
phục lối sống riêng của họ và người Mường cũng vậy, nó đã tạo nên nét đẹp văn
hóa riêng của mỗi dân tộc.
Dân tộc Mường hiện còn khoảng gần 1 triệu người, cư trú chủ yếu ở Hòa
Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Sơn La, Thanh Hóa, trong đó nhiều nhất là ở Thanh
Hóa (trên 22 vạn người) phân bố hầu hết ở 27 huyện thị thành phố, và riêng ở xã
Mậu Lâm - huyện Như Thanh người Mường sống ở tất cả các thôn trong toàn
xã.
Người Mường có hai loại: Mường trong và Mường ngoài họ sống hiền hòa
trong các thung lũng được khép kín bởi những triền núi đá vôi bao quanh,
Mường Bi (Hòa Bình) là một trong những Mường cổ nhất, người Mường ở xã
Mậu Lâm - huyện Như Thanh chủ yếu là người Mường ở Hòa Bình di cư vào,
ngôn ngữ chủ yếu của người Mường thuộc hệ ngôn ngữ Việt - Mường (hệ ngữ
Nam Á).
Di sản văn hóa nói chung, bản sắc văn hóa của dân tộc Mường nsoi riêng
luôn đóng một vị trí quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của một
quốc gia, dân tộc, vùng miền, đó không chỉ là tài sản riêng của một vùng đất hay
con người địa phương mà còn là tài sản của một quốc gia, phản ánh tập trung
nhất, tiêu biểu nhất truyền thống văn hóa Việt Nam.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế nước ta
đang chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của nhà nước, lĩnh vực văn hóa rất dễ bị mai một và luôn tiềm ẩn nguy
cơ biến mất nhanh chóng. Vì vậy, với lý do trên và qua quá trình tìm hiểu thực

Chương 3: Thực trạng, phương án bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống
văn hóa dân tộc Mường tại xã Mậu Lâm - huyện Như Thanh
B. NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát về xã Mậu Lâm
1.1. Địa lý tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý: Mậu Lâm là xã miền núi cách huyện Như Thanh 5km
về phía đông bắc, cách thành phố Thanh Hóa 40km về phía tây, diện tích toàn xã
là 42km
2
, chiếm 20% diện tích toàn huyện phía bắc.
Phía nam giáp xã Phú Nhuận
Phía tây giáp xã Hải Long, Xuân Khang
Phía đông giáp xã Phượng Nghi, Cán Khê
1.1.2. Địa hình: Mậu Lâm là xã miền núi chủ yếu là đồi núi thấp bao bọc
xung quanh nên địa hình tương đối phức tạp và khó khăn.
1.1.3. Khí hậu: Mậu Lâm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4
mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình năm 16000-23000mm, mỗi năm có khoảng 90
- 130 ngày mưa, độ ẩm tương đối 85% - 87% số giờ nắng bình quân từ 16000-
18000 giờ.
Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi
dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp.
1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên: Mậu Lâm là xã có tài nguyên rừng lớn thứ
3 toàn huyện, với diện tích rừng chủ yếu là cây lá sông, có hệ thực vật đa dạng,
phong phú, cây chủ yếu là tre, nứa, giang, luồng, bạch đàn, keo, và có tài nguyên
khoáng sản đa dạng và phong phú có trữ lượng lớn như quặng crom
1.2. Địa lý hành chính - dân cư: Xã Mậu Lâm có diện tích tự nhiên là
4.264,53ha, về dân số xã Mậu Lâm có 17 thôn, tổng số hộ là 1760 hộ, 8260 nhân
khẩu gồm 4 dân tộc Kinh, Mường, Thái, Thổ cùng sinh sống. Dân tộc thiểu số
chiếm 50,7% dân tộc Kinh chiếm 40,3% các dân tộc anh em trong xã c ùng đoàn
kết chung sống và làm ăn theo lịch sử phát triển của xã hội.

Thường xuyên kiểm tra nắm bắt tình hình đời sống nhân dân đặc biệt đối
với các hộ khó khăn, kịp thời cấp gạo cứu tế cho các hộ thiếu đói trong dịp tết và
thời kỳ giáp hạt.
Cấp tiền cho học sinh thuộc các đối tượng: học sinh khó khăn, học sinh
thuộc các đối tượng chính sách, người có công.
1.4.2. Hoạt động dân số và y tế
Công tác dân số gia đình và trẻ em: Được tiến hành thường xuyên với
nhiều hình thức phong phú, góp phần thực hiện giảm sinh con thứ 3, đảm bảo
sức khỏe sinh sản, kết quả thực hiện áp dụng các biện pháp tránh thai khác đối
với 408 đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ.
Số trẻ em sinh ra trong năm: 150 cháu
Số người chết: 63 người
Tỷ lệ sinh: 1,78%
Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên tăng: 1,4%
Năm 2012 trạm y tế đã duy trì tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân, điều trị cho 6364 lượt bệnh nhân, cấp thuốc cho các đối tượng BHYT 4814
lượt người.
1.4.3. Công tác giáo dục
Đầu năm học 2012 - 2013 các trường làm tốt công tác khai giảng năm học
mới đúng quy định bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, lãnh đạo giáo viên trong các
trường đảm bảo đủ số lượng và cơ sở chất lượng trường lớp học được quan tâm
đầu tư xây dựng ngày càng tốt hơn.
Hiện nay số học sinh ở các trường trong xã là: 1.354 em
Trong đó: Học sinh trường mầm non: 421 em (22 lớp)
Học sinh trường TH Mậu Lâm 1: 258 em (14 lớp)
Học sinh trường TH Mậu Lâm 2: 253 em (12 lớp)
Học sinh THCS: 422 em (14 lớp)
Chương 2: Một số giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Mường tại
xã Mậu Lâm - huyện Như Thanh
2.1. Văn hóa vật chất

Khăn: khăn của phụ nữ Mường có 2 màu đen và trắng là chủ đạo. Khăn có
tác dụng che đầu khi nắng gió làm ấm đầu, khi mùa đông lạnh giá và cái buộc
tóc gọn gàng khi người phụ nữ lao động, dễ dàng khi chạy nhảy mà vẫn không
vương tóc. Khăn còn là vật trang sức quan trọng của các cô gái Mường trong
sinh hoạt hàng ngày, là lúc đi chơi, hay trong lễ hội.
Khăn đội trên đầu của phụ nữ Mường không chỉ mang giá trị thẩm mỹ cao
mà còn mang tính xã hội nữa. Ngoài váy, áo, khăn còn góp phần tạo nên sắc thái
riêng của trang phục dân tộc Mường.
Xà tích: nói đến trang phục phụ nữ Mường ngoài những thứ kể ở trên còn
có bộ xà tích, nếu thiếu nó sẽ làm mất đi sự hoàn hảo của người phụ nữ. Phụ nữ
Mường thường đeo xà tích cài vào thắt lưng buông xuống một bên hông. Xà tích
là dây bạc mà phụ nữ dùng để đeo chìa khóa và các đồ nữ trang khác, một bộ xà
tích gồm dây đeo chìa khóa bằng bạc, hộp đựng kim bằng bạc, túi vải đựng tiền,
dao, nhíp, trong những ngày bình thường các cô gái Mường thường ít đeo xà
tích, họ chỉ đeo trong những lễ, cưới hỏi.
2.1.1.2. Trang phục nam giới
Quần (khố): nếu như nữ giới mặc váy thì người nam giới mặc quần, quần
của nam giới Mường cũng giống người Kinh, do phụ nữ cắt may và dùng chủ
yếu là màu chàm, đen.
Áo: nhìn chung áo của nam giới dân tộc Mường được tạo nên hình dáng
theo một nguyên tắc nhất định "thượng thu, hạ thách", khi mặc vào người ngực
nở, căng, gấu áo xòa chuyển tiếp xuống quần, áo của nam giới thường do mẹ
hoặc vợ cắt cho và may bằng vải bông.
Khăn: không chỉ riêng ở phụ nữ mà nam giới Mường cũng thắt khăn đội
khă. Tuy nhiên, khăn của nam giới không giống khăn thêu hoa văn đpẹ của phụ
nữ mà chỉ là một miếng vải màu chàm đen quấn lên đầu khi lao động hoặc trong
sinh hoạt. khăn thưởng quấn hai đầu khi đi xa hoặc dùng trong hội hè, lễ tết,
khăn sử dụng khi làm nương rẫy và trong lao động khác cũng như khăn của phụ
nữ khăn của nam giới có tác dụng như cái mũ giúp cho con người bảo vệ cái đầu
che nắng, che mưa, tránh rét.

nhà bởi một tấm liếp. Đây cũng là nơi người phụ nữ thay quần áo và ngủ nghỉ.
2.1.3. Ẩm thực của người Mường
Người Mường rất thích ăn các thức ăn có vị chua: củ kiệu, quả cà muối
chua với cá, rau cải muối dưa, quả đu đủ muối dưa tép, rau sắn muối dưa cá, lá
bầu nấu thịt trâu, thịt bò. Đặc biệt trong gác bếp của mỗi gia đình Mường không
thể thiếu những hũ măng chua, nguồn thức ăn quanh năm sẵn có nơi núi rừng,
măng chua có thể xào nấu với cá, thịt gà, vịt, nước măng chua kho thịt trâu, kho
cá, chấm rau sống hay ngâm ớt tươi.
Vị đắng cũng là vị người Mường rất yêu thích, măng đắng, lá, hoa, quả đu
đủ không chỉ là món ăn thường ngày mà còn là món để thờ phụng trong nhiều
nghi lễ dân gian. Ngoài ra còn có rau đốm, lá kịa, vừa là thức ăn vừa là thuốc
đau bụng.
Gắn với vị cay, người Mường còn có món ớt nổi tiếng, ớt được băm lẫn với
lòng cá, hay đầu, tiết luộc, ruột cắt nhỏ của con gà, vịt, băm nhỏ cho tất cả lên
màu nâu sẫm, cắt nhỏ vài loại rau thơm trộn vào là được món ớt. Vị ớt cay của
người Mường thường dùng để chế biến thành những món ăn riêng chứ không
làm gia vị xào nấu như một số dân tộc khác.
Truyền thống của người Mường là thích bày cỗ trên lá chuối trong tất cả
những bữa cỗ cộng đồng: lễ hội, cưới xin, tang ma hoặc lễ lớn trong năm. Trong
mỗi dịp lễ tết, hội hè món ăn và cách bày trí nó đều có những nét riêng, chứa
đựng cả một tín ngưỡng.
Trong văn hóa ẩm thực người Mường, tục uống rượu đúng ra là một nét
văn hóa riêng, văn hóa rượu cần, rượu cần người Mường luôn phải uống tập thể,
mỗi lần uống rượu cần là ta lại được hòa mình vào những luật vui của các tuần
rượu, được nghe hát dân ca Thường rang - Bộ mẹnh, hát đối đáp của các bên
tham gia. Có thể nói rằng văn hóa ẩm thực người Mường cùng văn hóa rượu cần
đã thể hiện được tính cộng đồng và tính huyết thống rất cao của dân tộc.
Cơm đồ: muốn có cơm đồ, trước hết phải có miếng bằng đồng, có gạp nếp
ngon ngâm qua nước từ 8 - 10 tiếng, đồ cơm bằng hông lá cọ quạt, đồng thời lấy
đũa bếp xới ra đều cho đến lúc cơm nguội đều lại cho vào hông đậy kín lại cho

trong rừng, trước khi đan, ngoài việc chẻ, vót thành các nan để đan còn một số
khâu kỹ thuật xử lý thanh nan bền, đẹp hơn như ngâm nước vôi hay treo gác
bếp.
Nghề đan lát được hình thành và gắn bó mật thiết với đời sống nông nghiệp
và săn bắt hái lượm của người dân tộc Mường. Đây là một nghề có thể sử dụng
tối đa thời gian rảnh rỗi của các thành viên trong gia đình. Trước đây hầu như
người nam giới nào trong xã hội Mường đều biết đan lát nhằm đảm bảo nhu cầu
lao động trong cuộc sống thường ngày.
2.2. Văn hóa tinh thần
2.2.1. Lễ tục
2.2.1.1. Lễ cúng cơm mới: Lễ này thường tổ chức sau khi gặt xong và chỉ tổ
chức nội bộ trong gia đình, không mời khách, gia đình phải chuẩn bị cá và một
số thức ăn khác đủ để gia đình cùng dùng, xôi đồ chín đổ ra quạt không được
nếm trước khi cúng, dọn mâm cúng mời tổ tiên, cầu tổ tiên phù hộ mùa sau bội
thu, cúng xong gia đình dọn cơm cùng ăn.
2.2.1.2. Lễ mừng thọ: Mỗi người con, kể cả trai gái, đầu phải tổ chức lễ
mừng thọ cho bố mẹ, thường vào dịp đầu xuân, lễ mừng thọ dù làm quy mô
khác nhau, nhưng đều phải chuẩn bị con lợn khoảng 30 cân trở lên, may một bộ
quần áo hoặc váy mới cho bố mẹ kèm theo rượu, gạo. gia đình khá giả, có thể
làm trâu bò để mừng thọ cho bố mẹ.
Lễ mừng thọ phải mượn thầy cúng, mâm cúng được bày toàn bộ những thứ
mà các con chuẩn bị, mỗi thứ một ít, thầy cúng giới thiệu con cả hay con thứ,
con út tổ chức, mời vía bố mẹ vào ăn uống trước mọi người, sau đó các con cháu
lạy và buộc chỉ cổ tay cho bố mẹ, ông bà.
2.2.1.3. Tục làm vía: Có các loại vía sau: vía sau sinh đẻ cho trẻ sơ sinh
chóng lớn, vía trước khi đi xa gia đình, cầu không bị mất lạc vía đi vào đám
đông, vái sau ốm đau, vía sau tai nạn, gọi vía không nàm lại nơi bị tai nạn, vái
khi lấy chồng, lấy vợ nhằm để vía vợ chồng cùng chung sống trọn đờ, vía người
cao tuổi, mỗi người con từ vợ chồng con cả đến vợ chồng con út đều làm vía
cho ông bà nội ngoại nhàm đền đáp công sinh thành nuôi dưỡng của cha mẹ hai

Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng, có những trò chơi
được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn, trò đánh
mảng
Chương 3: Thực trạng, phương án bảo tồn và phát huy giá trị truyền
thống văn hóa dân tộc Mường tại xã Mậu Lâm - huyện Như Thanh
3.1. Thực trạng
Mậu Lâm là xã có bốn dân tộc anh em sinh sống trong một cộng đồng lâu
bền vững chắc: Kinh, Thái, Mường, Thổ. Văn hóa truyền thống các dân tộc là cả
một kho tàng vô tận vừa về bề dày lịch sử, văn hóa nổi tiếng như các tác phẩm
dân gian: Đẻ đất đẻ nước, Truyện cổ Mường, các loại trò diễn, pồn poong, múa
sạp, phụ nữ mường ăn mặc lịch sự và trang nhã trong bộ áo khóm và váy của
dân tộc mình, kiến trúc nhà ở truyền thống của người dân tộc Mường ở xã Mậu
Lâm là nhà sàn, nhưng nay tất cả những giá trị truyền thống đấy không được
người Mường quan tâm đến nữa, đặc biệt là lứa tuổi thanh niên bây giờ hầu hết
ít ai quan tâm đến nguồn gốc của dân tộc mình, không ai biết đến các loại trò
chơi, trò diễn của dân tộc, thay vào đó là lối sống theo kiểu phương tây như mặc
quần tây, áo sơ mi, sống trong những ngôi nhà xây bằng gạch, ngói và xi măng
sang trọng, đó là sự mai một bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tại xã Mậu
Lâm - huyện Như Thanh.
3.2. Nguyên nhân
Khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường bước tới nền kinh tế công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thì bộ phận quản lý được tách riêng và được các đơn vị
như bảo tàng, thư viện và được sự quản lý của sở Văn hóa thông tin quản lý,
phòng Văn hóa huyện có trách nhiệm thông tin cho xã biết và phụ trách công tác
văn hóa thông tin thể thao.
Công tác quản lý văn hóa thông tin ở xã chưa có đủ kinh phí để thực hiện
các hoạt động văn hóa, kinh nghiệm quản lý để áp dụng với thực tiễn cũng chưa
đầy đủ cho nên để bảo tồn và phát huy giá trị của trang phục truyền thống hầu
như chưa được quan tâm đúng mức.
Do đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương trong xã còn

3.3. Phương án bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc
Mường tại xã Mậu Lâm - huyện Như Thanh
Ngày nay, với nền kinh tế đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, không những bản sắc văn hóa dân tộc Mường mà bản sắc văn hóa
của các dân tộc khác cũng biến đổi theo, vì vậy chính quyền địa phương và nhân
dân trong toàn xã cần phải có phương án bảo tồn và phát huy giá trị trang phục
truyền thống của dân tộc mình.
Di sản văn hóa tồn tại trong đời sống cộng đồng và chỉ có thể được bảo vệ,
giữ gìn bởi cộng đồng, bởi vậy điều quan trọng là làm cho người dân ý thức
được rằng biện pháp huy động sức dân chỉ có hiệu quả trên một nền tảng ý thức
về giữ gìn di sản văn hóa, nhân dân là chủ thể đóng vai trò quyết định trong việc
bảo tồn một cách bền vững di sản văn hoá của chính họ.
Công tác bảo tồn di sản văn hóa gồm các hoạt động như: bảo tồn nguyên
trạng, trùng tu, phục hồi, tái tạo - làm lại, quy hoạch bảo tồn, các cấp chính
quyền địa phương trong xã Mậu Lâm nói chung, cán bộ quản lý văn hóa cần có
phương án cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Mường
trong xã như:
Xây dựng kế hoạch cụ thể, tăng cường các biện pháp ưu tiên kiểm kê, xếp
hạng những loại hình di sản nào đã biến mất hoặc đang có nguy cơ bị mai một,
loại hình nào đang tồn tại và tồn tại như thế nào để có biện pháp bảo tồn và phát
huy phù hợp.
Đối với trang phục dân tộc thì các cấp chính quyền và nhân dân trong xã
cần phải xây dựng các làng nghề, dệt thổ cẩm để tạo việc làm cho người dân
những lúc rảnh rỗi vừa để giữ gìn được bản sắc văn hóa trang phục của dân tộc
mình.
Đối với sản lượng văn học dân gian văn bia, thần tích, thần phả, địa chí,
hương ước, lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật biểu diễn trò
chơi, ẩm thực với các thiết bị máy móc hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm, máy
quay công việc sưu tầm bản sắc văn hóa truyền thống sẽ mang lại hiệu quả to
lớn khi chúng ta huy động được nhiều thành phần tham gia như: học sinh, sinh

dân tộc trong xã nói chung và dân tộc Mường nói riêng.
C. KẾT LUẬN
Văn hóa là sức mạnh trường tồn của một dân tộc, là đặc trưng của mỗi
quốc gia, nếu chúng ta mất đi bản sắc văn hóa đó thì xã hội sẽ kém phát triển và
phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở sẽ làm cho tất cả
các mặt của văn hóa sẽ được thâm nhập vào mỗi người dân. Vì vậy bản sắc văn
hóa truyền thống là thành tố quan trọng của văn hóa tộc người nên chúng ta cần
phải giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc mình.
Bản sắc văn hóa nó còn phản ánh và ghi dấu một trình độ phát triển cao của
thẩm mỹ dân gian, nghệ thuật tạo hình trang phục, nhất là nữ giới, là nơi tập
trung những quan niệm thẩm mỹ, sự hài hòa và là nơi giữ gìn phản ánh đặc
trưng tộc người. Không những vậy nó còn mang sắc thái rõ nét với các ngành
các vùng trong quá trình cư trú xen kẽ với các thành phần dân tộc khác.
Người Mường còn giữ bản sắc dân tộc của mình vừa tiếp thu những yếu tố
văn hóa khác, đó là quá trình tạo nên phong cách riêng về văn hóa của các ngành
dân tộc.
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội toàn xã việc thực
hiện, tìm hiểu nhận thức dưới các yếu tố truyền thống của dân tộc là nhu cầu tất
yếu khách quan. Tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc Mường góp phần tìm hiểu
văn hóa và tộc Mường trong các mối quan hệ với các dân tộc anh em.
Vườn hoa văn hóa của dân tộc Mường thật giàu sắc hương, vườn hoa đó
đang cần vun xới, chọn lựa góp phần bảo tồn giá trị truyền thống và hiện đại
khởi sắc góp phần xứng đáng với toàn xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status