Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh Hòa trong hoạt động du lịch - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỖ PHƢƠNG QUYÊN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HÓA - DANH THẮNG TỈNH
KHÁNH HÒA TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH )
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THÚY ANH HÀ NỘI – 2014

3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU 7
1. Lý do chọn đề tài 8
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 13
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 14
6. Đóng góp của luận văn 16
7. Bố cục luận văn 17

2.1.3. Loại hình và sản phẩm du lịch 64
2.1.4. Thị trường khách 66
2.1.5. Công tác quản lý nhà nước về Du lịch 66
2.1.6. Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch 67
2.1.7. Doanh thu từ hoạt động du lịch 72
2.2. Thực trạng khai thác và bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ở
Khánh Hòa 75
2.2.1. Vấn đề trùng tu, tôn tạo di tích 75
2.2.2. Vấn đề khai thác các di tích trong du lịch 78
2.2.3. Kết quả bảo tồn di tích 80
2.3. Vai trò của du lịch trong bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Khánh Hòa 82
2.3.1. Vai trò của các cơ quan quản lý du lịch trong bảo tồn di tích 82
2.3.2. Vai trò của các doanh nghiệp du lịch trong bảo tồn di tích 83
2.3.3. Vai trò của cộng đồng cư dân địa phương trong bảo tồn di tích 84
2.3.4. Vai trò của du khách trong bảo tồn di tích 85
2.3.5. Nhận xét chung 86
2.4. Vai trò của du lịch trong phát huy di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh
Khánh Hòa 86
2.4.1. Giới thiệu, quảng bá di tích với du khách trong và ngoài nước 86
2.4.2. Thu hút các hoạt động phát huy giá trị di sản 87
2.4.3. Tăng cường nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng đối với di tích 87
Tiểu kết chƣơng 2 89
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH GẮN VỚI BẢO TỒN DI TÍCH LỊCH
SỬ - VẮN HÓA VÀ DANH LAM THẮNG CẢNH Ở KHÁNH HÒA 91
3.1. Giải pháp về chính sách nhà nƣớc trong tổ chức quản lý gắn với bảo tồn 91
3.2. Giải pháp về đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gắn với
bảo tồn 93
3.3. Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn 94
3.4. Giải pháp về khai thác sản phẩm du lịch gắn với bảo tồn 99

- DV Dịch vụ
- ĐH Đại học
- HĐND Hội đồng nhân dân
- ICOMOS International Council on Monuments and Site
Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ
- KDL Khu du lịch
- MICE Meetings – Incentives – Conventions –Exhibitions
Gặp gỡ - Khen thưởng - Hội nghị - Triển lãm
- SPSS Statistical Package for the Social Services
Phần mềm xử lý thống kê dùng trong các ngành khoa học xã hội
- TCN Trƣớc công nguyên
- TTQLDT-DLTC Trung tâm quản lý di tích – danh lam thắng cảnh
- TUE Tewntyfoot equivalent units
Đơn vị tương đương 20 foot
- UBND Ủy ban nhân dân
- UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
- VHTT và DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Đánh giá của khách du lịch về chất lƣợng dịch vụ du lịch Khánh Hòa…58
Bảng 2.2. Trình độ đào tạo khối kinh doanh ngành du lịch Khánh Hòa từ năm 2006
đến năm 2010 59

phát triển thành sản phẩm du lịch nhờ vào sự kỳ vĩ, độc đáo và duy nhất của chúng,
nhƣng những tài nguyên này thƣờng ít có khả năng phát triển thêm theo thời gian;
trái lại dễ bị hao mòn hoặc suy thoái do sự biến đổi của thiên nhiên cũng nhƣ quá
trình khai thác của con ngƣời. Tài nguyên du lịch nhân văn thƣờng dồi dào hơn về
số lƣợng và cũng rất đa dạng, nó tồn tại và phát triển cùng với hoạt động của con
ngƣời. Tính đa dạng của tài nguyên du lịch nhân văn bắt nguồn từ sự khác biệt giữa
các cá nhân, các cộng đồng, các dân tộc và các quốc gia với nhau; bên cạnh đó là
khả năng biến đổi của tài nguyên du lịch nhân văn theo thời gian, theo những chuẩn
mực mới của từng thời đại, từng xã hội, qua tiếp xúc giao thoa. Chính sự khác biệt
và khả năng tự lớn lên của tài nguyên nhân văn đã giúp nó trở thành nguồn vốn quý
giá cho phát triển du lịch. Do đó, cần có sự quan tâm đặc biệt đối với nguồn tài
nguyên này.
Ngành Du lịch ở Việt Nam đến nay khá phát triển và có vị trí tốt trên bản đồ
du lịch thế giới, Việt Nam hấp dẫn khách du lịch quốc tế không chỉ bởi vẻ đẹp của
thiên nhiên mà còn do yếu tố văn hóa, với nhiều di sản văn hóa đƣợc Unesco công
nhận. Tuy nhiên, sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam đối với việc bảo tồn các cổ
tích đã tiến hành từ trƣớc đó, trong sắc lệnh 65 ngày 23 tháng 11 năm 1945 nêu rõ:
“Xét rằng việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần trong công cuộc kiến thiết nƣớc Việt
Nam”, Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa VIII nêu: “văn hoá là nền tảng của xã hội, là
mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”, Nghị quyết cũng xác định 10 nhiệm
vụ để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, trong đó nhiệm vụ thứ tƣ chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và
giao lƣu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa
9

truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha
ông để lại”, ngày 18 tháng 12 năm 2011 Thủ tƣớng Chính phủ đã ký Quyết định số
2406/QĐ-TTg: Ban hành “Danh mục các Chƣơng trình mục tiêu quốc gia giai đoạn

Tuy nhiên trong những năm qua việc phát triển du lịch ở tỉnh Khánh Hòa còn
tồn tại một số bất cập. Đó là hoạt động du lịch mới chỉ tập trung khai thác nguồn tài
nguyên du lịch tự nhiên nhƣ: biển, đảo, các rạn san hô, nguồn suối khoáng, bùn
khoáng. Việc khai thác nguồn tài nguyên thế mạnh này đã đem lại cho tỉnh Khánh
Hòa những thuận lợi nhất định trong quá trình phát triển du lịch nhƣng cũng kéo
theo một số hệ quả tiêu cực. Do khai thác quá mức nguồn tài nguyên du lịch tự
nhiên; kèm theo là các hoạt động nhƣ: xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng - kỹ
thuật phục vụ du lịch đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên và môi trƣờng tự nhiên
có nguy cơ bị ô nhiễm, các hệ sinh thái biển tại khu vực các đảo, rạn san hô đứng
trƣớc nguy cơ bị suy thoái hoặc huỷ diệt do hoạt động du lịch.
Trong khi đó với lịch sử hơn 350 năm khai phá và phát triển, Khánh Hoà là
mảnh đất giàu tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi
vật thể có khả năng khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch nhƣ: các công trình
kiến trúc, các phong tục tập quán, các tín ngƣỡng, các lễ hội truyền thống, làng nghề
thủ công, văn hóa ẩm thực; nhiều DT và danh thắng đang đƣợc khai thác khá hiệu
quả nhƣ Tháp Bà Ponagar, chùa Long Sơn, Hòn Chồng, vịnh Nha Trang, Đầm Nha
Phu… Tuy nhiên hoạt động du lịch gần đây gây ra một số tác động tiêu cực đến giá
trị của DT và danh thắng. Nếu tỉnh thực hiện tốt công tác nghiên cứu, bảo tồn kết
hợp với khai thác nguồn tài nguyên du lịch văn hóa này không chỉ góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phƣơng mà nó còn góp phần bảo tồn và phát
huy giá trị văn hoá quí báu, đem lại sự phát triển bền vững cho ngành du lịch của
tỉnh nói riêng và cho cộng đồng nói chung. Hiện nay ở tỉnh Khánh Hòa chƣa có
công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về vấn đề này. Vì vậy tác giả lựa chọn
đề tài: “Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa - danh thắng tỉnh Khánh
Hòa trong hoạt động du lịch” để nghiên cứu. Bản thân tác giả luận văn là ngƣời
11

đang sinh sống tại tỉnh Khánh Hoà và công tác trong ngành du lịch nên có những
thuận lợi nhất định cho việc nghiên cứu, thực hiện đề tài này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

theo quan điểm tạo ra sự hài hòa giữa kiến trúc mới và kiến trúc cũ. Tác giả cũng
khảng định cần phải làm cho các công trình DT gần gũi và rộng mở hơn đối với các
hoạt động đô thị ở Việt Nam.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, dự án về bảo tồn di sản và phát
triển du lịch đƣợc tiến hành ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam; tiêu biểu là công trình: Quảng Nam và hành trình
bảo tồn các di sản văn hóa (Mỹ Châu), Bảo tồn giá trị di sản gắn với phát triển du
lịch: Góc nhìn từ cố đô Huế (Tổng cục du lịch). Các công trình cho thấy nhận thức
và hành động thực tiễn của Nhà nƣớc về vấn đề bảo tồn di sản và phát triển du lịch.
Năm 2005, Tổng cục Du lịch phê duyệt đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về
“Chủ trƣơng và giải pháp để bảo tồn, phát huy có hiệu quả giá trị các di sản văn hóa
phục vụ phát triển du lịch” đã xây dựng các nhóm giải pháp chung để bảo tồn và
phát huy di sản phục vụ du lịch.
Một số bài báo trên tạp chí Du lịch Việt Nam và các báo cáo trong các cuộc
hội thảo về du lịch của Việt Nam nhƣ: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn
hóa phục vụ phát triển du lịch thủ đô (Bùi Thanh Thủy, Tạp chí nghiên cứu văn hóa
Trƣờng ĐH Văn Hóa Hà Nội), Bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa - thiên
nhiên thế giới phục vụ phát triển ở nƣớc ta (Nguyễn Quốc Hùng, Cục di sản văn
hóa)…
Từ cuối thế kỷ XX những cảnh đẹp và văn hóa Khánh Hòa đã đƣợc nhiều
nhà nghiên cứu tìm hiểu và viết thành tác phẩm có giá trị về mặt khoa học, tiêu biểu
là các tác giả nhƣ: Quách Tấn, Nguyễn Văn Khánh, Ngô Văn Doanh, Vũ Ngọc
Phƣơng, Nguyễn Công Bằng. Nhƣng hầu hết mới đi vào nghiên cứu về giá trị văn
hóa, lịch sử tiêu biểu và miêu tả một số danh thắng của tỉnh Khánh Hòa.
Trong những năm qua có một số công trình nghiên cứu về du lịch của Khánh
Hòa, nhƣng chỉ dừng lại ở các luận văn thạc sĩ chủ yếu nghiên cứu về: môi trƣờng
13

tự nhiên, môi trƣờng kinh doanh từ đó đƣa ra các định hƣớng và chiến lƣợc cho
phát triển ngành du lịch của tỉnh nói chung. Tiêu biểu nhƣ: Thu hút vốn đầu tƣ

5.1. Phƣơng pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, dữ liệu cơ bản từ nhiều nguồn khác nhau: Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh, TTQLDT và DLTC tỉnh, Bảo tàng tỉnh, Thƣ viện
tỉnh, Internet, báo và tạp chí chuyên ngành, đài truyền hình, sách, giáo trình, văn
bản pháp luật (Luật du lịch, Luật di sản…), Văn bản của tỉnh Khánh Hòa về du lịch
và vấn đề bảo tồn DT… tác giả đã có đƣợc một hệ thống tài liệu toàn diện về chủ đề
nghiên cứu và là dữ liệu phục vụ cho phân tích, dẫn luận tại chƣơng 1 và chƣơng 2.
Các tài liệu thống kê luôn đƣợc bổ sung, cập nhật và đƣợc tác giả chọn lọc, tổng
hợp, phân tích tính liên hợp các yếu tố trong mối tƣơng quan, ảnh hƣởng lẫn nhau làm
mục đích nghiên cứu của luận văn.
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các công trình liên quan của các tác giả đi
trƣớc, sử dụng phƣơng pháp so sánh, đối chiếu với những tài liệu thu đƣợc trên thực
địa, rút ra những điểm chung.
5.2. Phƣơng pháp quan sát
Thông qua những chuyến điền dã tại các KDL, điểm du lịch, nơi có tài
nguyên du lịch nhân văn đa dạng sẽ là cơ sở cơ bản để đánh giá đƣợc thực tế tình
hình phát triển cũng nhƣ những tiềm năng của lĩnh vực mà mình đang nghiên cứu.
Từ đó, cho phép tác giả tiếp cận vấn đề một cách chủ động, sâu sắc, có điều kiện
đối chiếu, bổ sung các thông tin cần thiết, cũng nhƣ thẩm nhận đƣợc giá trị của tiềm
năng du lịch, hiểu đƣợc những khía cạnh khác nhau của thực tế, trên cơ sở đó đề
xuất những giải pháp hợp lý có tính chất khả thi, phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
Các chuyến điền dã gồm:
Đợt 1: 4/8/2012 – 6/8/2012
Đợt 2: 10/4/2013 – 12/4/2013
Đợt 3: 28/4/2013 – 2/5/2013
Đợt 4: 2/9/2013 – 8/9/2013
Đợt 5: 22/9/2013 – 29/9/2013
Đợt 6: 1/10/2013 – 4/10/2013
15



5.4. Phƣơng pháp chuyên gia
Phƣơng pháp chuyên gia là phƣơng pháp quan trọng đƣợc vận dụng thông
qua việc xin ý kiến chỉ đạo, góp ý về nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu. Trong
quá trình thực hiện đề tài, tác giả tham khảo ý kiến của các cán bộ, các nhà nghiên
cứu trong vấn đề khai thác và bảo tồn giá trị văn hoá trong hoạt động du lịch tỉnh
nhà từ các cơ quan: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, TTQLDT và danh thắng tỉnh
Khánh Hòa, cán bộ quản lý tại khu du lịch, điểm du lịch trong tỉnh.
5.5. Phƣơng pháp bản đồ
Luận văn có sử dụng các bản đồ hành chính, bản đồ kinh tế để nhận định vai
trò của du lịch trong cơ cấu nền kinh tế tỉnh Khánh Hòa.
Sử dụng bản đồ du lịch xác định phạm vi phân bổ của tài nguyên du lịch nhân
văn, hỗ trợ cho công tác khảo sát thực tế, trên cơ sở này đề xuất các phƣơng án nối
kết các điểm có khả năng khai thác du lịch thành tuyến du lịch mới, góp phần đa
dạng sản phẩm du lịch tỉnh Khánh Hòa.
5.6. Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp
Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong quá trình lựa chọn, sắp xếp dữ liệu,
thông tin từ nguồn sơ cấp và thứ cấp nhằm định lƣợng chính xác phục vụ cho mục
đích nghiên cứu, từ đó tổng hợp thành các nhận định, báo cáo hoàn chỉnh nhằm có
cái nhìn tổng thể về đối tƣợng nghiên cứu. Tác giả đã sử dụng một số công cụ hỗ trợ
phân tích và tổng hợp dữ liệu là phần mềm EXCEL, SPSS.
Phƣơng pháp này đƣợc tiến hành từ tháng 8/2013 đến tháng 10/2013.
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần khẳng định giá trị văn hóa nổi bật qua các DTLSVH và DLTC tỉnh
Khánh Hòa, giúp chính quyền địa phƣơng và các doanh nghiệp du lịch định hƣớng
sản phẩm du lịch mới nhằm hoàn thiện hệ thống sản phẩm du lịch tỉnh Khánh Hòa;
đồng thời có nhận định đúng mức đối với giá trị các di sản trong tỉnh nhằm hoạch
định những chủ trƣơng, giải pháp bảo tồn phù hợp.
Kiến nghị một số giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn DTLSVH và
DLTC Khánh Hòa nhằm khai thác hiệu quả và bền vững di sản văn hóa của tỉnh.

số. Qua nghiên cứu giá trị DTLSVH cho phép thế hệ sau lĩnh hội đƣợc rất nhiều về
tinh hoa, trí tuệ, tài năng, văn hóa nghệ thuật của tiền nhân; và vấn đề đặt ra là làm
sao bảo tồn, khai thác, sử dụng những di sản văn hóa phục vụ cho quá trình phát
triển của xã hội.
Văn hóa nhân loại muốn ngày càng đa dạng và phát triển thì chỉ có một
phƣơng pháp đó là con ngƣời phải luôn luôn sáng tạo ra văn hóa, đồng thời tích cực
gìn giữ những tài sản văn hóa vốn có. Từ thời cổ đại xa xƣa đến thời kì hiện đại
ngày nay, con ngƣời đã rút ra bài hoc quý giá là: không thể thiếu di sản văn hóa
trong quá trình phát triển tri thức. Lênin cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc bảo tồn và khai thác di sản văn hóa nhƣ sau: “Phải tiếp thu toàn bộ nền văn hóa
do chế độ tƣ bản để lại và dùng những nền văn hóa đó để xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Phải tiếp thu toàn bộ nền khoa học kỹ thuật, tất cả những tri thức, tất cả nghệ
thuật, không có cái đó chúng ta không thể xây dựng cuộc sống xã hội cộng sản
đƣợc” [55, tr.67]
19

Ở nƣớc ta, trong pháp lệnh bảo vệ và sử dụng DTLSVH và DLTC, công bố
ngày 4/4/1984 thì DTLSVH và DLTC đƣợc quy định nhƣ sau:
“DTLSVH là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác
phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng nhƣ có giá trị văn hóa khác, hoặc
liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội”.
“Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên có cảnh đẹp, hoặc công
trình xây dựng cổ nổi tiếng”.
Từ những đoạn văn bản quy định về DTLSVH và DLTC trích dẫn trên đây,
có thể rút ra nhận định chung là cả DT và danh thắng đều do bàn tay con ngƣời làm
nên, đồng nghĩa chúng đều là sản phẩm văn hóa. DT – danh thắng là sản phẩm do
cá nhân hoặc tập thể để lại, đã đƣợc lịch sử khẳng định vai trò và giá trị, chúng tồn
tại khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của thế hệ sau. Vì vậy, chúng ta chỉ có
thể tiến hành bảo tồn sao cho đúng với đối tƣợng khách quan đó.
Hoạt động bảo tồn văn hóa bao gồm hai chức năng:

Tầm quan trọng của bảo tồn văn hóa đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới chú ý
từ lâu, thậm chí đi đến thống nhất quan điểm trong các văn bản chung nhƣ: Hiến
chƣơng Venice năm 1964 về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ, Công ƣớc 72
UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới. Tất cả đều đi đến
khẳng định bảo tồn di sản là việc làm cấp thiết của nhiều thế hệ.
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành
những văn bản pháp lý làm cơ sở cho công tác quản lý, bảo vệ DT.
Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65/SL “ấn định
nhiệm vụ của Đông phƣơng Bác cổ học viện”. Sắc lệnh đã nhấn mạnh việc bảo tồn
cổ tích là việc cần thiết của nƣớc Việt Nam. Sắc lệnh khẳng định toàn bộ DTLSVH
là tài sản của nhân dân, nghiêm cấm việc phá hủy đình, chùa, đền, miếu và những
nơi thờ tự khác cùng những DT khác chƣa đƣợc bảo tồn. Cấm phá hủy bi ký, văn
bằng có ích cho lịch sử. Đây là sắc lệnh đầu tiên của Nhà nƣớc ta về việc bảo tồn di
sản văn hóa dân tộc. Sắc lệnh này đƣợc coi là tiền đề của Ngày Di sản văn hóa Việt
Nam đƣợc tổ chức hàng năm (bắt đầu từ ngày 23/11/2005).
21

Tiếp theo là Nghị định 519/TTg ban hành ngày 29/10/1957 về bảo tồn DT,
gồm 7 mục và 32 điều khoản.
Mục I xác định: “Tất cả những bất động sản và động sản có giá trị lịch sử
hay nghệ thuật (kể cả bất động sản còn nằm dƣới nƣớc hay dƣới đất), bất cứ thuộc
quyền sở hữu của ai nay đặt dƣới chế độ bảo vệ của nhà nƣớc”;
Mục II nói về vấn đề Liệt hạng;
Mục III về sƣu tầm và khai quật;
Mục IV những quy định liên quan đến vấn đề xuất khẩu di vật có giá trị;
Mục V về việc Khen thƣởng và kỷ luật.
Đây là văn bản pháp lý mang tính lý luận cao đƣợc sử dụng suốt từ năm
1957 đến năm 1984, Nghị định đã trở thành cơ sở để phát triển sự nghiệp bảo tồn
bảo tàng ở nƣớc ta, đồng thời ngăn chặn đƣợc các hiện tƣợng do vô tình hay hữu ý
phá hoại DT.

Trên cơ sở các văn bản pháp lý của quốc tế và quốc gia mà trong những năm
qua việc bảo tồn di sản văn hóa ở nƣớc ta ngày càng đạt đƣợc những kết quả tốt.
Trong thực tế, vấn đề bảo tồn văn hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
nhƣ: nhận thức về lý thuyết và thực hành của các nhà bảo tồn, trạng thái của DT,
điều kiện môi trƣờng, nhƣng có thể rút ra một số nguyên tắc chung về bảo tồn văn
hóa cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện nghiêm túc Luật Di sản văn hóa trong bảo tồn, tôn tạo
DT: nguyên tắc này đƣợc tiến hành bằng việc nâng cao vai trò quản lý của các cơ
quan công quyền, năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm của các cơ quan
chuyên môn và ý thức pháp luật của công dân, đặc biệt là những ngƣời đang trực
tiếp thực hiện công việc bảo tồn – bảo vệ di sản. Có nhƣ vậy mới huy động và phát
huy đƣợc các nguồn lực trí tuệ và nguồn lực vật chất một cách hiệu qủa nhất trong
công tác bảo tồn, tôn tạo DTLSVH và DLTC.
Thứ hai, giữ nguyên các yếu tố gốc:
Yếu tố gốc (yếu tố nguyên gốc) phải đƣợc hiểu trên nhiều phƣơng diện:
“trƣớc hết có thể hiểu là phải giữ lại tất các yếu tố nhƣ khi bắt đầu xây dựng, cố
gắng không thay thế cái mới, mặc dù cái mới ở đây cũng tuân thủ nhƣ trƣớc về các
23

yếu tố cơ bản nhƣ: chất liệu, kích thƣớc, kỹ thuật chế tác, màu sắc, mỹ thuật, độ
bền ”. [17, tr.180]
Trong trƣờng hợp một yếu tố cũ đã bị phá hủy hoàn toàn và không còn khả
năng duy trì chức năng, thì cần thiết phải sử dụng yếu tố mới để thay thế. Nếu cần
sử dụng vật liệu khác phải lựa chọn cẩn thận, và chắc chắn nhân tố này sẽ in lên DT
dấu ấn của thời đại ngày nay. Điều khó khăn nhất cần cân nhắc là khi các thế hệ sau
nhìn lại quá khứ có tán thành cách sử dụng vật liệu này, họ có thể phân biệt đƣợc
yếu tố gốc và các thành phần mới đƣợc thêm vào.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu chất liệu gốc của DT cần bảo tồn, nếu nhận thấy
công trình có một số loại gỗ kém sức bền và dễ bị tác động của thời tiết, côn trùng
thì nhà bảo tồn có xu hƣớng thay thế bằng loại gỗ tốt hơn; cũng có trƣờng hợp

quả vƣợt trội, từ đó cho phép hình thành các kho lƣu trữ, các ngân hàng dữ liệu, bảo
tàng, trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu không chỉ phục vụ công việc bảo tồn
mà cả việc nghiên cứu lâu dài.
Nguyên tắc bảo tồn sống: lƣu giữ các hiện tƣợng văn hóa phi vật thể ngay
trong môi trƣờng sản sinh ra chúng. Đây cũng là nguyên tắc đƣợc UNESCO và
nhiều quốc gia trên thế giới đề xuất. Nguyên tắc này chính là thƣớc đo tốt nhất
nhằm chứng minh hiệu quả của công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.
Cần lưu giữ di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng bằng cách tái lập
môi trường sống cho di sản. Có thể tiến hành bằng cách thành lập các câu lạc bộ
sinh hoạt tại địa phƣơng, các tổ truyền nghề, các cuộc thi tìm hiểu và trình diễn di
sản dân tộc. Không thể bỏ qua các nghệ nhân, những ngƣời giữ trọng trách nuôi
dƣỡng di sản văn hóa phi vật thể, cũng đƣợc xem nhƣ là báu vật nhân văn sống. Do
đó, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể cũng đồng nghĩa với việc khích lệ
và tạo điều kiện để các nghệ nhân tiếp tục kế thừa di sản. Thực tế ở nƣớc ta đã
chứng minh rằng: “chỉ cần những ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn còn
sống thì những di sản văn hóa truyền thống sẽ không bị biến mất; chỉ cần những
ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn còn tràn đầy sức sống thì di sản văn
hóa phi vật thể sẽ không ngừng đƣợc sáng tạo trong quá trình trao truyền và kế
25

thừa; chỉ cần những ngƣời kế thừa di sản văn hóa phi vật thể vẫn thu nhận đồ đệ để
truyền nghề, thì di sản văn hóa phi vật thể có ngƣời kế thừa, kéo dài mãi mãi”. [10,
tr.2004]
1.1.4. Bảo tồn văn hóa trong du lịch
Văn hóa di sản và du lịch luôn có mối quan hệ cộng sinh. Những năm gần
đây du lịch đã trở thành hiện tƣợng kinh tế xã hội ở hầu hết các nƣớc trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Nhiều chƣơng trình du lịch văn hóa ra đời là một minh
chứng cho tầm quan trọng của di sản văn hóa và mối quan hệ giữa du lịch với văn
hóa. Du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần giới thiệu về văn
hóa và con ngƣời với cộng đồng quốc tế, góp phần bảo tồn văn hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status