Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các lễ hội ở Bắc Ninh phục vụ phát triển du lịch - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐỖ HẢI YẾN
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA CÁC LỄ HỘI Ở BẮC NINH PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Lưu

HÀ NỘI, 2010

1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
3.1. Mục đích nghiên cứu: 11
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 11
4. Đối tượng nghiên cứu 11
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 12
6. Cấu trúc luận văn 13

2.2.2. Phát triển du lịch lễ hội ở Bắc Ninh 94
2.3. Đánh giá công tác bảo tồn, phát huy giá trị các lễ hội phục vụ phát
triển du lịch trong thời gian vừa qua 101
2.3.1. Những ưu điểm của việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục
vụ du lịch thời gian qua và nguyên nhân 101
2.3.1.1. Ưu điểm: 101
2.3.1.2. Nguyên nhân của ưu điểm bảo tồn và phát huy tốt các giá trị
phục vụ cho du lịch lễ hội thời gian qua: 104
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 107
2.3.2.1. Hạn chế 107
2.3.2.2. Nguyên nhân của những tiêu cực còn tồn tại trong việc bảo tồn
và phát triển du lịch lễ hội Bắc Ninh: 113
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương 3: 119
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ LỄ HỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở BẮC NINH 119

3

3.1. Định hướng phát triển du lịch lễ hội ở Bắc Ninh 119
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh: 119
3.1.2. Chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục vụ phát triển du
lịch 122
3.1.2.1.Tổ chức không gian cho lễ hội 122
3.1.2.2. Tổ chức thời gian và cơ sở hạ tầng cho du lịch lễ hội 123
2.1.2.3. Tổ chức về các điều kiện xã hội và nhân lực 125
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch lễ hội ở Bắc Ninh 126
3.2.1. Những thuận lợi và khó khăn của Bắc Ninh trong phát triển du
lịch lễ hội 126
3.2.1.1. Những thuận lợi 126

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
KẾT LUẬN 158
CHÚ THÍCH TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Từ viết tắt
Chú thích
Al
Âm lịch
CP
Chính Phủ
CT-TTg
Chỉ thị Thủ Tướng
CTTW
Chỉ thị Trung Ương
DN
Doanh Nghiệp
MICE
M(Meetings-gặp gỡ); I(Incentive- khen thưởng); C(Conferences-hội
họp) và E(Exhibition - triển lãm)
QH
Quốc hội
P
Phường
Q/c
Quảng cáo
TP
Thành Phố
TW
Trung Ương
UBND
Ủy Ban Nhân Dân


Hình 2.6. Bản chất của vấn đề bảo tồn và phát triển du lịch lễ hội
Bắc Ninh đối với giới nghiên cứu và người làm du lịch 97

Biểu đồ 3.1. Cơ sở lưu trú của tỉnh Bắc Ninh 127

Biểu đồ 3.2. Số lượng nhà hàng của tỉnh Bắc Ninh 127

Hình 3.6. Thống kê điều tra mong ước các nhóm đối tượng và biện
pháp tác động phát triển du lịch lễ hội Bắc Ninh 142

5

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển mình sang thế kỷ XXI- Thế kỷ của khoa học và công nghệ hiện
đại, nhân loại đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức. Từ đó đặt ra đòi hỏi
về tính thích ứng, điều chỉnh và lượng chất xám cực lớn. Hòa cùng dòng thở
gấp gáp đó, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của đời
sống kinh tế, văn hóa và xã hội ở các quốc gia trên thế giới. Du lịch được xem
là thước đo chất lượng cuộc sống của người dân các nước. Ngành Du lịch đã
và đang phát triển, đóng góp vai trò trong xu hướng phát triển và hội nhập
toàn cầu.
Thế giới đang hướng về châu Á trong nhiều lĩnh vực và một trong số
lĩnh vực đó là lĩnh vực di sản văn hóa dân gian thông qua con đường du lịch.
Đây là một vùng đất còn nhiều bí ẩn cần được khám phá. Từ đó đặt ra cho
con người đương đại thái độ trân trọng, hoạch định, khôi phục lại và phát huy

Phật (chùa Dâu), đạo Nho và có vô vàn công trình kiến trúc, đình chùa, miếu
mạo rất đa dạng như: Chùa Dâu, Bút Tháp, Đình làng Đình Bảng, Đền Bà
chúa Kho, Thành cổ Luy Lâu, Văn miếu Bắc Ninh… Mỗi năm vào các ngày
kỷ niệm khác nhau, Bắc Ninh thu hút được một lượng khách tứ phương đông
đảo đến thăm.
Kinh Bắc từ xưa đã nổi tiếng có nhiều phong cảnh đẹp, có núi, có sông,
có đồng bằng phẳng rộng, cao ráo không bị ngập lụt, thích hợp cho việc phát
triển hoa mầu. Ngoài lúa gạo và các cây công nghiệp đặc sản như ngô, khoai,
sắn, đậu, đay, mía dâu, tầm… Bắc Ninh còn nổi tiếng với một hệ thống làng
nghề thủ công đa dạng khắp địa bàn tỉnh như: làng gốm ven sông Cầu, gốm
Thổ Hà, Đại Tâm, làng cày bừa Đông Xuất, nghề đúc đồng Đại Bái, làng rèn
Đa Hội, nghề sơn Đình Bảng, nghề làm pháo Đồng Kỵ, làng thợ nề Viềng,
Tiêu, nghề Mộc, nghề chạm khắc gỗ ở Tiên Sơn, Phù Khê, các nghề chăn
tằm, dệt lụa, nghề thêu thùa ở nhiều làng, nghề nấu rượu làng Vân nổi tiếng…

7

Nhờ nghề làm nông và chế tác thủ công nghiệp phát triển, lại nằm ở
đầu mối giao thông thuận lợi nên từ xa xưa, nơi đây cũng đã là đầu mối buôn
bán. Thời Hùng Vương, bộ Vũ Ninh là đầu mối thông thương, kinh tế phát
đạt, thời bắc thuộc Luy Lâu, Long Biên xưa là trung tâm đô hộ của Hán tộc là
cửa ngõ thông thương với phương Bắc. Thời phong kiến tự chủ cũng như thời
Pháp thuộc, Kinh Bắc nằm cận Thăng Long, Hà Nội gắn đời sống kinh tế thị
trường với thị trường trung tâm lớn nhất đất nước… Ở nông thôn, hệ thống
làng, chợ, đình chùa rất phát triển. Cả tỉnh Hà Bắc (cũ) có tới150 chợ to, nhỏ
các loại để từ xưa, tầng lớp tiểu thương buôn bán ở đây cũng khá đông đảo,
góp phần kích sản xuất vùng phát đạt nơi đây đã từng nức tiếng thơm bởi các
danh tiểu thương trên khắp cả nước
Những điều kiện về tự nhiên và văn hóa như vậy là lợi thế để khai thác
du lịch. Đặc biệt là tiềm năng về văn hóa dân gian, nổi bật là tiềm năng về du

rơi vào dốc thoái trào và tàn lụi. Vấn đề khai thác để đưa tài nguyên di sản lễ
hội Bắc Ninh phục vụ phát triển du lịch sâu rộng và bền vững, để tài nguyên
du lịch lễ hội Bắc Ninh được tỏa sáng thực sự, được đầu tư đúng hướng, được
quy hoạch chuyên nghiệp hơn như một tài nguyên du lịch tiêu biểu là thế
mạnh của ngành Du lịch như sự thành công của dân ca Quan họ ở Bắc Ninh
gần đây thì đến nay, vì nhiều lí do khác nhau mà lễ hội Bắc Ninh còn bị cản
trở trong vấn đề phát triển đúng tầm di sản của nó. Lễ hội Bắc Ninh thực sự là
một di sản văn hóa dân gian tiêu biểu của quốc gia cần có được sự quan tâm
và định hướng khẩn cấp hơn.
Tác giả luận văn cũng thấy rằng những vấn đề thuộc về hiện trạng khai
thác giá trị lễ hội ở Bắc Ninh chưa được tác động đúng hướng. Nó đòi hỏi
phải có sự thay đổi, sự tham vấn để các giá trị của tài nguyên lễ hội Bắc Ninh
thực sự được “tỏa sáng”. Vì vậy việc bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội

9

truyền thống Bắc Ninh ngày nay và Kinh Bắc khi xưa trong thời điểm hiện
nay và thời gian tới là một việc làm cấp thiết. Xuất phát từ thực tại khách
quan trong xu thế phát triển du lịch văn hóa ngày nay và điều kiện tự thân của
quê hương Kinh Bắc với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát
triển loại hình du lịch lễ hội ở Bắc Ninh; mặt khác, trong quá trình tham gia
nghiên cứu về quê hương của những làn điệu quan họ và trò chơi dân gian xứ
Bắc đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa lễ
hội để phục vụ cho phát triển du lịch” làm luận văn thạc sỹ. Mục đích của
việc chọn đề tài này là để đóng góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng quê
hương khai sinh ra 8 vị vua Lý, quê hương khai sinh ra làn điệu quan họ du
dương trữ tình và đặc biệt là quê hương của các trò chơi, các hoạt động lễ
hội nông nghiệp từ bao đời nay có thể thực sự phát huy tiềm năng của mình,
trở thành một tài nguyên du lịch văn hóa tiêu biểu và giá trị trong kinh doanh
du lịch.

1974. Năm 1972, trong cuốn “Một số vấn đề về dân ca quan họ” tác giả Lê
Thị Nhâm Tuyết cũng có bài “Mấy ý kiến về vấn đề tìm hiểu dân ca quan họ
Bắc Ninh”; Cao Huy Đỉnh có cuốn “Bàn về đặc trưng của dân ca quan họ”;
Mã Giang Lân có bài “Từ những lề lối của hát Quan Họ”. Năm 1978, Trần
Linh Quý, Đặng Văn Lung và Hồng Thao có cuốn “Quan Họ, nguồn gốc và
quá trình phát triển”. Năm 1981, Tô Nguyễn- Trịnh Nguyễn có viết cuốn “Hà
Bắc- Kinh Bắc” nội dung nói về lễ hội ở Hà Bắc. Năm 1982: Cuốn địa chí Hà
Bắc của tác giả Trần Linh Quý được xuất bản. Năm 1984: cuốn sách Lễ hội
truyền thống và hiện đại của hai tác giả Thu Linh và Đặng Văn Lung cũng
góp phần vào việc nghiên cứu lễ hội
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết và sách nghiên cứu về lễ hội Bắc Ninh
khác như: Vai trò của hội Làng với sự phát triển bền vững của văn hóa làng
của Ths. Bùi Văn Thành; TS. Trần Đình Luyện với cuốn Góp phần tìm hiểu lễ

11

hội ở Hà Bắc; TS. Lê Hồng Lý đề cập đến Những yếu tố cơ bản để xây dựng
lễ hội ở Hà Bắc…
Các tác giả công trình nghiên cứu trên đã có các bài viết hoặc tài liệu đề
cập đến lễ hội, hoặc lễ hội Bắc Ninh, lễ hội Hà Bắc. Tuy nhiên để nghiên cứu
đến vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội Bắc Ninh một
cách có hệ thống nhằm phục vụ phát triển du lịch, đến nay vẫn chưa có công
trình nào công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu:
Góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục vụ phát triển
du lịch ở Bắc Ninh
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa chọn lọc một số khái niệm, vấn đề lý luận liên quan đến
đề tài và kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của các lễ hội phục vụ phát

đối cao. Nhận thức được điều đó ngay từ công tác nghiên cứu để thực hiện
khóa luận, tác giả đã có một quá trình chuẩn bị tương đối lâu để có thể biết
đến cụ thể các địa điểm, thời gian, không gian, nội dung của những lễ hội tiêu
biểu của Bắc Ninh nhằm tiếp cận, thực hiện các hoạt động nghiên cứu và lấy
tài liệu, số liệu của mình. Tác giả nhận thức được các lễ hội chủ yếu được
thực hiện vào những dịp nông nhàn, “ra giêng” là những thời điểm hoạt động
lễ hội ở Kinh Bắc thường diễn ra. Tuy nhiên, để “biết đến” các lễ hội này một
cách chính xác đòi hỏi sự kết hợp giữa việc “khảo sát hồi cố” và thăm dò,
khảo sát tương đối chặt chẽ bởi “ra giêng ở xứ Bắc ngày nào hầu như cũng có
hội” nhưng hội nào mới đặc sắc nhất cho một đặc thù nào đó, có cái riêng cho
một đặc điểm nào đó… Từ đó đòi hỏi phải có sự phối hợp với các sở, ban,
ngành quản lý và sự nỗ lực trong thu thập tư liệu từ những nhân chứng sống
từ nhiều phía… Tác giả đã đến nhiều cơ quan địa phương và trung ương có
lưu trữ tài liệu liên quan đến hoạt động lễ hội trong cả nước nói riêng và đặc

13

biệt nhấn vào hoạt động lễ hội Bắc Ninh nói riêng để tổng kết, đánh giá, và
chọn lọc tư liệu tập trung cho đề tài.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn này, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1. Một số khái niệm và kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị
của các lễ hội phục vụ phát triển du lịch
Chương 2. Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội phục
vụ phát triển du lịch ở Bắc Ninh
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá
trị lễ hội phục vụ phát triển du lịch ở Bắc Ninh.
tiêu kinh tế”. Theo nhà kinh tế học người Anh Odgil VI: “Khách du lịch là
loại khách đi xa nhà một thời gian nhất định, tiêu những khoản tiền tiết kiệm
được”. Theo Morval: “Khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều

15

nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chính không phải làm thương
mại”. Cùng nghiên cứu về phạm trù du lịch, Nhà nghiên cứu Kunz (học giả
người Thụy Sĩ) cho rằng: Du lịch là hiện tượng người chỗ khác đi đến nơi cư
trú không thường xuyên của họ bằng phương tiện vận tải và dùng các dịch vụ
du lịch. Hai học giả là Giáo sư- Tiến sĩ Hunsiker và Kraf cho rằng : “Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành
trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không
phải cư trú thường xuyên và không dính dáng đến các hoạt động kỹ thuật,
kinh tế và tổ chức liên quan đến các cuộc hành trình của con người và việc
lưu trú của họ ở ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại
trừ mục đích ngành nghề, kiếm lời hoặc đến thăm có tính chất thường xuyên”.
Theo Hiệp hội Du lịch Quốc tế: “Khách du lịch quốc tế là những người lưu
lại tạm thời ở nước ngoài và sống ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
trong thời gian 24h trở lên”
Như vậy, ta thấy được có bao nhiêu nhà nghiên cứu về du lịch thì có
bấy nhiêu quan điểm về du lịch. Mỗi nhà nghiên cứu đều có quan điểm riêng
của mình. Tuy nhiên, từ quan điểm cá nhân, tác giả thấy các định nghĩa, mới
xuất phát từ đặc điểm di động của khách du lịch để đưa ra định nghĩa, chưa đi
sâu vào bản chất của du lịch.
Xuất phát từ hiện tượng, bản chất cơ bản của du lịch đã có một số khái
niệm tổng thể về du lịch như sau:
Du lịch là quá trình hoạt động của con người, rời khỏi quê hương, đến
một nơi khác với mục đích chủ yếu là thẩm nhận các giá trị vật chất và tinh
thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lợi

gồm các bước sản xuất, thiết kế chương trình, lưu thông (bán-mua) chương

17

trình, tổ chức thực hiện chương trình và thanh quyết toán chương trình. Đó
cũng là cung trong thị trường du lịch.
Theo Luật Du lịch thì: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời
gian nhất định.
Thống kê nghiên cứu trên thực tế đến nay có nhiều loại hình du lịch khác
nhau tùy theo tiêu chí phân chia. Các loại hình du lịch thường được nhắc đến là:
Thứ nhất: Loại hình du lịch tham quan di tích - thắng cảnh tự nhiên,
với các danh thắng nổi tiếng ở ba miền tiêu biểu như: Vịnh Hạ Long, động
Phong Nha, đền Ngọc Sơn, và hồ Hoàn Kiếm, chùa Trấn Quốc và Hồ Tây.
Thứ hai: Du lịch lễ hội với một số lễ hội tiêu biểu phải kể đến như:
Festival Huế, hội chùa Hương, hội Lim… Du lịch phố cổ: Hội An, Hà Nội,
phố Hiến- Hưng Yên…
Thứ ba: Du lịch sinh thái- tự nhiên, hay nhà vườn với các danh thắng
như: Nhà vườn Huế, bãi biển Lăng Cô, rừng Cúc Phương, hồ Ba Bể…
Thứ tư: Du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh với tắm nước khoáng Kim
Bôi - Hòa Bình, nhà nghỉ ở Phan Thiết, Nha Trang, châm cứu ở Hà Nội…
Thứ năm: Du lịch MICE, hay còn gọi là “du lịch sự kiện”. Du lịch
MICE đang là một xu hướng mới của du lịch hiện đại. Đây là loại hình du lịch
theo dạng gặp gỡ xúc tiến, hội nghị, hội thảo, du lịch chuyên đề ở Vũng Tàu,
Đà Nẵng… Khái niệm “MICE” theo tiếng Anh là từ ghép viết tắt của 4 thành
phần với nội hàm là: M(Meetings-gặp gỡ); I(Incentive- khen thưởng);
C(Conferences-hội họp) và E (Exhibition - triển lãm).
Thứ sáu: Du lịch dựa vào cộng đồng vì người nghèo nhằm mục tiêu
xóa đói giảm nghèo. Một số địa phương đã được quan tâm ứng dụng nhiều


19

Mười ba: Du lịch mua sắm (shopping tour) đã bắt đầu phát triển ở một
số tỉnh thành có mức sống của khách du lịch tương đối cao như TPHCM, Hà
Nội, Huế…
Mười bốn: Du lịch kết hợp với ẩm thực hoặc tâm linh: Ở các chùa chiền,
công trình miếu mạo linh thiêng, tiệc cung đình Huế hay ẩm thực Hà Nội.
Mười lăm: Du lịch thể thao- mạo hiểm: Lặn biển ở Nha Trang, leo núi
Tây Bắc, xuyên rừng Cúc Phương, dù lượn ở Nha Trang, Tuần Châu, sân gôn
Đồng Mô…
Bên cạnh các loại hình du lịch kể trên, đã trở lên phổ biến ở Việt Nam
hiện nay, trên thế giới cũng đã phát triển một số loại hình khác như: Du lịch
thời trang thường được tổ chức ở Pari (Pháp) hay Bắc Kinh (Trung Quốc);
Điện ảnh đi trước du lịch theo sau: thăm trường quay, rạp chiếu phim công
nghệ cao, gặp gỡ thần tượng điện ảnh…
Tóm lại, đề cập đến du lịch và các loại hình du lịch, có thể có nhiều
quan điểm và cách nghiên cứu khác nhau. Một cách chung nhất, ta có thể hiểu
du lịch là hoạt động tham quan của khách du lịch khi rời khỏi nơi cư trú
thường xuyên với thời gian lớn hơn 24h, có lưu trú lại điểm đến với mục đích
tham quan, vui chơi, giải trí và trải nghiệm (mà không bao gồm mục đích
kinh tế). Dễ nhận thấy có thể đa dạng hóa các loại hình du lịch một cách hiệu
quả theo hướng phát triển bền vững. Điều đó muốn thực hiện được cần phải
có kế hoạch khai thác hợp lý và đầu tư thích đáng nhằm tăng cường khả năng
khai thác nhiều lần của tài nguyên du lịch. Nó cũng đòi hỏi vào ý thức và
hành động của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, gắn kết với lợi ích,
vai trò của người dân, của từng tập thể, từng ngành hữu quan và điều không
thể thiếu là tác động cần thiết của các nguồn lực kinh tế - xã hội với sự phát
triển du lịch.


Trích đoạn Thực hiện việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa lễ Khuyến khích và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá lễ hội du lịch Bắc Với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục Du lịch Với chính quyền địa phương các cấp tại Bắc Ninh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status