Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các lễ hội ở bắc ninh phục vụ phát triển du lịch - Pdf 95

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các
lễ hội ở Bắc Ninh phục vụ phát triển du lịch

Đỗ Hải Yến

Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Du lịch
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Văn Lƣu
Năm bảo vệ: 2010

Abstract: Hệ thống hóa chọn lọc một số khái niệm, vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
và kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của các lễ hội phục vụ phát triển du lịch. Phản
ánh và phân tích, đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội phục vụ
phát triển du lịch ở Bắc Ninh. Đề xuất một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy
giá trị lễ hội phục vụ phát triển du lịch ở Bắc Ninh.

Keywords: Lễ hội; Giá trị văn hóa; Du lịch; Bắc Ninh

Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chuyển mình sang thế kỷ XXI- Thế kỷ của khoa học và công nghệ hiện đại, nhân loại đã
và đang bƣớc vào nền kinh tế tri thức. Du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc
của đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội ở các quốc gia trên thế giới. Thế giới đang hƣớng về
châu Á trong nhiều lĩnh vực và một trong số lĩnh vực đó là lĩnh vực di sản văn hóa dân gian
trong du lịch. Trong dòng chủ lƣu ấy, Việt Nam và di sản văn hóa Lễ hội Việt Nam truyền
thống có một vai trò hết sức quan trọng.
Trấn Kinh Bắc xƣa và Bắc Ninh ngày nay, hai tên gọi cho một là vùng quê hƣơng của
nhiều di sản dân gian lễ hội truyền thống, trong đó không ít lễ hội lớn đƣợc vinh danh có quy
mô vùng miền và quốc gia. Lễ hội Bắc Ninh truyền thống là di sản quý và đặc sắc của nền
văn hiến Kinh Bắc xƣa. Từ rất sớm, Bắc Ninh thu hút đƣợc một lƣợng khách tứ phƣơng đông

Trần Linh Quý đƣợc xuất bản. Năm 1984: Cuốn sách Lễ hội truyền thống và hiện đại của hai
tác giả Thu Linh và Đặng Văn Lung cũng góp phần vào việc nghiên cứu lễ hội. Ngoài ra, còn
có nhiều bài viết và sách nghiên cứu về lễ hội Bắc Ninh khác nhƣ: Vai trò của hội Làng với sự
phát triển bền vững của văn hóa làng của Bùi Văn Thành; Trần Đình Luyện với cuốn Góp
phần tìm hiểu lễ hội ở Hà Bắc; Lê Hồng Lý đề cập đến Những yếu tố cơ bản để xây dựng lễ
hội ở Hà Bắc…
Các tác giả công trình nghiên cứu trên đã có các bài viết hoặc tài liệu đề cập đến lễ
hội, hoặc lễ hội Bắc Ninh, lễ hội Hà Bắc. Tuy nhiên để nghiên cứu đến vấn đề bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa của lễ hội Bắc Ninh một cách có hệ thống, phục vụ phát triển du lịch
đến nay vẫn là nội dung chƣa có công trình nào công bố.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu: Góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục vụ
phát triển du lịch ở Bắc Ninh
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa chọn lọc một số khái niệm, vấn đề lý luận liên
quan đến đề tài và kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của các lễ hội phục vụ phát triển du
lịch. Phản ánh và phân tích, đánh giá thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị của các lễ hội phục
vụ phát triển du lịch ở Bắc Ninh. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó, luận văn sẽ đề xuất một số
giải pháp góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục vụ phát triển du lịch ở Bắc Ninh.

3
4. Đối tượng nghiên cứu
Lễ hội truyền thống của ngƣời Việt ở địa bàn Bắc Ninh. (Lễ hội văn hóa, lễ hội anh
hùng chống giặc ngoại xâm, lễ hội nông nghiệp, lễ hội dân gian); Các cơ quan chủ quản; Các
điều kiện khó khăn, thuận lợi trong việc phục hồi và phát huy di sản văn hóa lễ hội của Bắc
Ninh trong hoạt động kinh doanh du lịch.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn sử dụng
các phƣơng pháp cụ thể nhƣ: Phƣơng pháp điền dã và khảo sát thực địa, phỏng vấn nhóm
ngƣời cao tuổi ở Bắc Ninh (khảo sát hồi cố), mô tả và quan sát tham dự. Đƣợc sử dụng nhƣ


4
thành phố (city tour); Du lịch mua sắm (shopping tour), Du lịch kết hợp với ẩm thực hoặc
tâm linh; Du lịch thể thao- mạo hiểm.
- Bên cạnh các loại hình du lịch kể trên đã trở lên phổ biến ở Việt Nam hiện nay, trên thế
giới cũng đã phát triển một số loại hình khác nhƣ: Du lịch thời trang thƣờng đƣợc tổ chức ở
Pari (Pháp) hay Bắc Kinh (Trung Quốc); Điện ảnh đi trước du lịch theo sau: thăm trƣờng
quay, rạp chiếu phim công nghệ cao, gặp gỡ thần tƣợng điện ảnh…
Tóm lại, có thể có nhiều quan điểm và cách nghiên cứu khác nhau về du lịch và các
loại hình du lịch. Một cách chung nhất, ta có thể hiểu du lịch là hoạt động tham quan của
khách du lịch khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên với thời gian lớn hơn 24h, có lưu trú lại
điểm đến với mục đích tham quan, vui chơi, giải trí và trải nghiệm (mà không bao gồm
mục đích kinh tế)…
1.1.2 Điều kiện để phát triển du lịch:
Trên cơ sở các tƣ liệu nghiên cứu tác giả luận văn chia thành hai nhóm điều kiện cơ
bản để phát triển du lịch đó là: Đó là những điều kiện chung và điều kiện đặc thù để phát triển
du lịch.
-Điều kiện chung:
1. Điều kiện về thời gian nhàn rỗi
2. Kinh tế của đất nƣớc
3. Giao thông vận tải
4. Tiêu chí chính trị hòa bình và điều kiện an toàn
-Điều kiện đặc trưng:
1. Môi trƣờng tự nhiên
2. Giá trị văn hóa lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế
3. Sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch
1.1.3 Tài nguyên du lịch
- Theo Luật du lịch (số 44/2005/QH11 do quốc hội ban hành ngày 14/06/2005-
chƣơng 1): Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn
hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử

hợp tác về kinh tế liên vùng và liên quốc gia rộng lớn. Cũng từ đó, lễ hội và làng nghề có cơ
hội bảo tồn thông qua con đƣờng du lịch lễ hội
- Lễ hội tạo ra môi trƣờng văn hóa truyền thống lành mạnh.
- Lễ hội du lịch cũng là cơ hội để địa phƣơng có cơ hội trao đổi đồng ngoại tệ, tạo ra
giá trị thặng dƣ từ khách du lịch quốc tế đem lại.
- Du lịch lễ hội là cơ hội giới thiệu và tôn vinh các di sản văn hóa của địa phƣơng đến
với các tổ chức bảo tồn và thông tin thế giới…
1.2.2. Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội
Có nhiều con đƣờng bảo tồn Lễ hội nhƣ: Bảo tồn vốn tri thức văn hóa dân gian đƣợc
tích lũy trong lễ hội; đƣa thành các điều cụ thể trong luật giáo dục dƣới hình thức ngoài trời,
seminar, tham quan gặp gỡ các nghệ nhân trình diễn lễ hội, tham dự lễ hội trực tiếp và tính
vào giờ học ngoại khóa ở trƣờng học. Bảo tồn lễ hội thông qua trái tim nhân dân cũng là một
cách làm khôn ngoan và khả thi mang tính giáo dục cao.
Khi phát huy và bảo tồn mặt mạnh của lễ hội để phục vụ du lịch, du khách tham dự lễ
hội thu đƣợc những thành quả lớn về tâm hồn, là những ích lợi tinh thần không thể định lƣợng
thô thiển theo cách thông thƣờng.

1.2.3. Tác động của của giá trị lễ hội đến sự phát triển du lịch
- Du lịch và lễ hội có mối quan hệ hữu cơ, là tài nguyên tạo ra sức hấp dẫn để góp
phần làm cho du lịch phát triển.
- Du lịch lễ hội góp phần tôn tạo và phát huy các giá trị của lễ hội.

6
- Hoạt động du lịch lễ hội thúc đẩy hoạt động giao lƣu văn hoá một cách trực tiếp và
nhanh nhất.
- Tạo nên một nguồn kinh phí thu về để „nuôi hội‟, để „bảo tồn hội‟
- Du lịch góp phần giới thiệu giá trị lễ hội của đất nƣớc, địa phƣơng qua xúc tiến du
lịch lễ hội
-Giáo dục lòng yêu nƣớc, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc.
Tuy nhiên, tác động tiêu cực của du lịch lễ hội đối với lễ hội cũng cần đƣợc chú ý, nhƣ

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở BẮC NINH 7
2.1. Khái quát về lễ hội ở Bắc Ninh
2.1.1. Khái quát về Bắc Ninh và Du lịch Bắc Ninh
- Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ, nằm trong tiểu vùng du
lịch trung tâm thuộc vùng du lịch Bắc Bộ. Với các tiềm năng sẵn có thực sự thuận lợi về: Vị
trí địa lý thuận lợi, Giao thông, nhiều phƣơng tiện vận chuyển công công cộng ; Có lịch sử vẻ
vang, là xứ sở của chùa chiền. Bắc Ninh cũng là đất từng có nhiều ngƣời đạt danh hiệu Trạng
Nguyên nhất trong lịch sử Việt Nam với 15/49 ngƣời, đƣợc vinh dự đƣợc nhà nƣớc phong kiến từng
cho lập văn miếu; bảo tồn đƣợc nhiều hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian vafheej thống các làng
nghề nổi tiếng trong cả nƣớc
- Du lịch Bắc Ninh tồn tại hai “thực trạng” đó là tính: “Tiềm năng” và “tiềm ẩn” sâu
sắc
2.1.2. Lễ hội ở Bắc Ninh
2.1.2.1. Khái quát về lễ hội ở Bắc Ninh:
- Theo thống kê của TS. Trần Đình Luyện: Bắc Ninh có tới 547 lễ hội truyền thống
diễn ra hàng năm. Theo thống kê lễ hội của Cục Văn hóa Cơ sở (tập 1, xuất bản năm 2008)
thì toàn tỉnh Bắc Ninh có 442 lễ hội. Lễ hội truyền thống của Bắc Ninh diễn ra suốt bốn mùa
trong năm nhƣng phần lớn lễ hội nơi đây thƣờng đƣợc tổ chức vào mùa xuân. Hầu nhƣ ngày
nào của ba tháng ngày xuân ở vùng quê Bắc Ninh cũng có lễ hội Quy mô và tính chất hội
làng ở Bắc Ninh đã chứng tỏ mối quan hệ nguồn gốc và truyền thống đồng thời cũng phản ánh
những nét chung trong phong tục, truyền thống sinh hoạt văn hóa và đời sống tâm linh, tín
ngƣỡng tôn giáo của vùng. Lễ hội Bắc Ninh có nội dung lịch sử và ý nghĩa về giáo dục sâu sắc.
2.1.2.2. Giá trị của lễ hội Bắc Ninh:
- Biểu hiện qua sinh hoạt cộng đồng phong phú, sinh động trong suốt lễ hội. Có giá trị
về sự hài hòa các tôn giáo cùng tồn tại; Là hoạt động sinh hoạt mang tính văn hóa nghệ thuật
đặc sắc và hấp dẫn…Có nhiều lễ hội mang tầm quốc gia và cũng là hoạt động lễ hội là hoạt
động có giá trị sinh hoạt văn hóa tâm linh lành mạnh đặc biệt.

-Cần phải có các biện pháp điều chỉnh chênh lệch cung cầu đồng bộ, các phƣơng án
đối phó với thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho khách khi
đi du lịch lễ hội. Các đơn vị tổ chức cần nắm đƣợc chắc các nội dung hoạt động trong lễ hội
sắp đến, chuẩn bị các điều kiện cụ thể cho du khách có thể tham gia hội tốt nhất.
- Chú trọng hơn trong công tác quảng bá, tiếp thị với thị trƣờng khách du lịch đa dạng
- Cần có “chiến lƣợc dài hơi chuyên nghiệp” cho việc tổ chức kinh doanh du lịch
nhằm vào đối tƣợng khách quốc tế và đa dạng hóa thị trƣờng khách ở Lễ hội Bắc Ninh
-Thực hiện “bảo tồn-phát triển- tài nguyên lễ hội và Du lịch cần đảm bảo theo mô hình
bảo tồn du lịch lễ hội bền vững:
Hình 2.6. Bản chất của vấn đề bảo tồn và phát triển du lịch lễ hội
Bắc Ninh đối với giới nghiên cứu và người làm du lịch

Tóm lại, Để mục tiêu bảo tồn và phát triển lễ hội đƣợc thực thi đòi hỏi các biện pháp
nghiên cứu để các 4 nhân tố tham gia vào bảo tồn, nuôi dƣỡng và kinh doanh lễ hội đều đƣợc
tham gia, đánh giá đúng, có biện pháp khuyến khích và hỗ trợ đúng đắn… Bốn nhân tố này

- Đội ngũ lực lƣợng an ninh chƣa thực sự hiệu quả trong việc ngăn chặn và xử lý các
hình ảnh xấu ảnh hƣởng đến tình yêu lễ hội của du khách thập phƣơng
- Một số di tích bị xuống cấp, hƣ hại do thời gian mà chƣa có biện pháp đầu tƣ và tu
sửa kịp thời.
- Nhiều Du khách đi lễ hội nhƣng “thƣơng mại hóa niềm tin và mong ƣớc của mình”
- Chƣa xây dựng đƣợc ý thức cho du khách với vấn đề bảo tồn tài nguyên
2.3.2.2. Nguyên nhân của những tiêu cực còn tồn tại trong việc bảo tồn và phát triển
du lịch lễ hội Bắc Ninh:
- Chƣa định hƣớng đƣợc tốt và rõ ràng giữa vấn đề bảo tồn và phát triển
- Việc thực hiện còn chƣa theo nguyên tắc phát triển bền vững
- Làm du lịch lễ hội còn mang tính tự phát
- Chƣa có những biện pháp thực sự hữu hiệu với các tình trạng hệ thống xấu trong lễ
hội.

10
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Ở BẮC NINH
3.1. Định hướng phát triển du lịch lễ hội ở Bắc Ninh
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Bắc Ninh:
- UBND tỉnh Bắc Ninh, sở Thƣơng mại và du lịch Bắc Ninh trƣớc đây và sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch hiện nay đề ra quan điểm phát triển du lịch nói chung và du lịch lễ hội ở
tỉnh Bắc Ninh nói riêng: nhanh và bền vững; đẩy mạnh xúc tiến và tuyên truyền, quảng bá du
lịch, tập trung đầu tƣ một số khu, tuyến, điểm du lịch lễ hội quan trọng. Xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại và phát triển nhanh nguồn nhân lực, tạo sản phẩm du lịch đa dạng,
phong phú, chất lƣợng, giàu bản sắc dân tộc, có sức cạnh tranh.
3.1.2. Chỉ đạo bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội phục vụ phát triển du lịch

- Đa số cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đã có ý thức về việc tham gia và
phát triển du lịch tỉnh nhà nói chung; “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ; nhân
dân hƣởng ứng, đạt nhiều kết quả tốt.
- Công tác tuyên truyền, đào tạo nhân lực tại các cơ quan, doanh nghiệp, các điều kiện
phát triển du lịch có sự quan tâm
Có đƣợc những thành tựu thuận lợi kể trên là do: Tốc độ tăng trƣởng GDP cả nƣớc từ
0,7-0,8%/năm, tình hình chính trị ổn định tạo tiền đề cho phát triển du lịch nói chung từ đó
kích cầu du lịch; xu hƣớng phát triển du lịch cả nƣớc ngày một gia tăng từ 10-12%/năm. Về
phía tỉnh đã cố gắng quan tâm đầu tƣ đồng bộ hạ tầng kinh tế xã hội cơ bản và công tác quản
lý nhà nƣớc về du lịch đƣợc tăng cƣờng tạo sự liên kết giữa các tỉnh đƣa nguồn khách đến
Bắc Ninh.
3.2.1.2. Những khó khăn:
- Các lĩnh vực kinh doanh du lịch còn chƣa đồng bộ, khả năng hỗ trợ lẫn nhau giữa
các dịch vụ còn thấp.
- Cơ sở vật chất kinh doanh du lịch còn chƣa thực sự cao…
- Một số điều khoản về thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội chƣa cụ thể trong
hƣơng ƣớc dẫn đến tình trạng chung chung, chƣa giải truyết triệt để
- Hiệu quả của công tác tuyên truyền quảng cáo còn chƣa có đƣợc đúng mức và
chuyên nghiệp
- Vấn đề bảo tồn môi trƣờng lễ hội chƣa đƣợc thực hiện tốt
- Hạn chế về chất lƣợng nguồn nhân lực
- Sản phẩm du lịch lƣu niệm Bắc Ninh còn nghèo nàn và lạc hậu, cách phục vụ du lịch
lễ hội còn chƣa chuyên nghiệp.
Nguyên nhân của những tồn tại trên có thể ngắn gọn kết luận từ thực tế nghiên cứu là
do: Các cấp, các ngành, địa phƣơng, doanh nghiệp chƣa thực sự quan tâm đầu tƣ phát triển du
lịch lễ hội ở Bắc Ninh. Công tác lập quy hoạch các khu, tuyến, điểm, vốn đầu tƣ về hạ tầng và
các khu du lịch, kinh phí cho việc tuyên truyền quảng bá còn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát
triển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch còn ít về số lƣợng, yếu về
năng lực chuyên môn và năng lực tài chính, chƣa đủ sức thực hiện đầu tƣ các sản phẩm du
lịch, chƣơng trình, tour du lịch chƣa đa dạng và hấp dẫn khách, đồng thời chƣa lôi cuốn và thu

của lễ hội
- Lợi ích kinh tế, xã
hội và văn hóa mà lễ
hội có thể đem lại
cho cộng đồng
- Tuyên truyền chủ trƣơng nâng cấp lễ hội
của làng thành lễ hội cấp tỉnh, phân tích
những lợi ích mà họ đƣợc hƣởng và nghĩa vụ
mà họ cần đóng góp.
- Chủ thể lễ hội là chính nhân dân ở các cộng
đồng sở tại (chính họ tuyên truyền và mời
mọc những ngƣời quen của họ đến với lễ hội)
Khách du lịch

- Thỏa mãn nhu cầu
tâm linh
- Hiếu kỳ với cái
giật gân, cái mới
- Tính giải trí cao
- Tổ chức và chính thức hóa những hình thức
trình diễn tôn giáo- tín ngƣỡng (ví dụ liên
hoan hầu đồng có sự giám sát quản lý về nội
dung và biểu diễn ở một số lễ hội lớn ở Bắc
Ninh)
- Sử dụng nghệ thuật đƣơng đại nhƣ là
những thành tố hữu cơ của lễ hội (nhƣ body
art, các trình diễn thi „ngƣời đẹp vùng Quan
họ hàng năm) kèm theo tên tuổi của những
nghệ sỹ đƣơng đại nổi tiếng
- Nhiều hoạt động phụ trợ nhƣ mua bán, trò

ngƣời tham gia lễ hội, số lƣợng các báo, các
Website đƣa tin về lễ hội)
- Tính chuyên nghiệp của nhà tổ chức (thể
hiện ở các hình thức quảng bá, tuyên truyền
nhƣ họp báo, truyền hình trực tiếp, các tài
liệu về lễ hội đƣợc in ấn công phu…và uy tín
của nhà tổ chức)
- Cơ hội để gặp gỡ với các nhà lãnh đạo cao
cấp của địa phƣơng

3.2.2.5. Tăng cƣờng và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc về du lịch trên
địa bàn thông qua việc tuyên truyền, hƣớng dẫn, kiểm tra, thực hiện luật du lịch trên địa bàn
lễ hội Bắc Ninh
3.2.2.6. Khuyến khích và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bằng
nhiều biện pháp
3.2.2.7. Đƣa cộng đồng địa phƣơng vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa lễ hội
trong kinh doanh du lịch

3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Tổng cục Du lịch
- Có quy định, hƣớng dẫn cụ thể hơn về nghi thức trong việc tổ chức lễ hội
- Tập huấn, mở hội thảo, phát hành, in ấn những ấn phẩm nghiên cứu chuyên sâu để
tổng kết, đánh giá thực tiễn triển khai việc thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội.
- Tiếp tục có văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm chỉ thị 27-CT/TW
của Bộ Chính trị, Quy chế 308/2005/QDD-TTG của thủ tƣớng chính phủ.
- Định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện quy chế 308/2005/QDD-Ttg;
- Đầu tƣ kinh phí xây dựng mô hình điểm về thực hiện nếp sống văn minh trong tổ
chức lễ hội cho vùng, miền để từ đó nhân rộng mô hình.
- Xây dựng bản đồ du lịch Bắc Ninh nhằm: Phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin của
khách du lịch. Phục vụ quy hoạch du lịch. Công tác tiếp thị, quảng bá.

- Tăng cƣờng hơn các hoạt động quảng cáo, Pr về hình ảnh lễ hội Bắc Ninh theo đặc
thù năm hay lễ hội từ trƣớc các thời điểm “thời vụ lễ hội Bắc Ninh”…
- Luôn hƣớng sự phát triển du lịch, khai thác sự phát triển của du lịch lễ hội dựa trên
nguyên tắc thỏa mãn, kết hợp 4 đối tƣợng tham gia vào du lịch bền vững là: Doanh nghiệp-
Ban quản lý (chính quyền địa phƣơng)- Khách du lịch- Tài nguyên tốt…
KẾT LUẬN
1. Định hƣớng của đề tài là tiếp cận du lịch từ ngả đƣờng bảo tồn và phát triển di
sản văn hóa. Lấy một phần tƣ liệu văn hóa ở một quy mô hẹp là lễ hội làm chất bột, chúng tôi
cố gắng gột nên hồ là đề tài « Bảo tồn và Phát huy các giá trị văn hóa của các lễ hội ở Bắc

15
Ninh phục vụ phát triển Du lịch». Ở đây, lễ hội không đƣợc tiếp cận nhƣ một hiện tƣợng văn
hóa đơn thuần mà đƣợc dùng nhƣ những công cụ, những hiện tƣợng ý thức để quy chiếu và
xem xét dƣới góc nhìn du lịch học. Đối tƣợng đƣợc nghiên cứu ở đây là một địa phƣơng rất
đặc sắc của châu thổ Bắc Bộ cổ truyền.
2. Dù còn hạn chế về nhiều mặt, chúng tôi luôn cố gắng tiếp cận đề tài theo
phƣơng pháp liên ngành, từ các ngả đƣờng tâm lý học, xã hội học, sử học, nhân học văn hóa,
và chủ yếu là du lịch học…
3. Việc nghiên cứu những khái niệm về du lịch và vấn đề bảo tồn, phát huy các
giá trị của lễ hội phục vụ phát triển du lịch, đã và đang là vấn đề nóng hổi của giới truyền
thông và các thế hệ nghiên cứu, quan tâm. Điều đó góp phần làm phong phú cho kho tàng lý
luận về du lịch.
4. Bên cạnh đó, trong mục tiêu hƣớng đích chỉ ra các tài nguyên văn hóa của lễ
hội phục vụ cho phát triển du lịch chúng ta cũng thấy có nhiều kinh nghiệm của một số địa
phƣơng khác hay quốc gia khác đã thực hiện thành công có thể định hƣớng cho Bắc
Ninh…Tất nhiên, mỗi một lễ hội có tài nguyên lễ hội đƣợc bảo tồn sẽ có những yếu tố khác
biệt nhất định khi đặt nó trong sự ứng dụng cho việc bảo tồn lễ hội trên quê hƣơng quan họ

hội quan trọng của Bắc Ninh cũng chính là cú hích rất đáng kể với sự phát triển của du lịch
nói riêng, phát triển kinh tế nói chung cho vùng đất rất đặc trƣng này của Bắc Bộ
Di sản văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng là nguồn sáng tạo. Sự sáng tạo dẫn tới cội
nguồn của truyền thống văn hóa nhƣng chỉ phồn thịnh khi tiếp xúc với các nền văn hóa khác.
Vì lý do đó, lễ hội phải đƣợc giữ gìn, đề cao và chuyển giao cho các thế hệ tƣơng lai nhƣ là
bằng chứng cho kinh nghiệm và khát vọng của con ngƣời để khuyến khích sáng tạo trong tất
cả sự đa dạng của nó và truyền đi một cuộc đối thoại chân chính giữa các nền văn hóa. Bởi
vậy, việc nghiên cứu khai thác và phát huy các giá trị của lễ hội ở Bắc Ninh để phục vụ du
lịch cho xứ Kinh Bắc này cũng không phải là một ngoại lệ.
8. Trong mối quan hệ tƣơng tác giữa lễ hội và du lịch thì lễ hội là nguồn lực, là
một trong những bảo đảm cho sự phát triển du lịch bền vững cùng làng nghề, nghệ thuật trình
diễn, danh thắng… Chính hệ thống lễ hội dầy đặc với gần 50 lễ hội cốt lõi đặc sắc đã làm nên
thƣơng hiệu cho du lịch Bắc Ninh.
9. Do lễ hội tập trung vào khoảng thời gian là mùa xuân nên việc điều chỉnh lƣu
lƣợng du khách đến lễ hội theo thời điểm, đặc biệt ở những lúc cao điểm để công việc tổ
chức, thực hiện và cơ sở hạ tầng dịch vụ không bị quá tải là nội dung quan trọng mà Bắc Ninh
cũng cần lƣu ý. Quản lý lễ hội gắn với sự phát triển du lịch Bắc Ninh là một bài toán nan giải,
đòi hỏi quản lý hai nhân tố văn hóa và kinh tế sao cho kế hợp với nhau hài hòa, cùng tồn tại
và phát triển vững bền. Nó đòi hỏi những giải pháp đồng bộ về quản lý. Nó đòi hỏi ý thức của
toàn dân. Nó đòi hỏi sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc, của Tổng cục –Bộ Văn hóa Thể
thao Du lịch và các cơ quan hữu quan. Muốn giải đƣợc bài toán đó cần có thông tin. Nghĩa là,
chúng ta cần xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn lịch sử sâu sắc và xây dựng hồ sơ đầy đủ hệ
thống các lễ hội Bắc Ninh để phát triển một hệ thống thông tin hiện đại có năng lực phục vụ
đắc dụng cho du lịch tỉnh nhà và truyền đi một cuộc đối thoại chân chính giữa Bắc Ninh và
các tỉnh khác, giữa văn hóa Việt Nam và các nền văn hóa khác.!.
10. Cuối cùng, chúng tôi mong mỏi rằng những kết quả nghiên cứu của đề tài này
sẽ là một đóng góp nhỏ bé vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học du lịch nói chung, du lịch vùng
miền và du lịch Bắc Ninh nói riêng.

References

17. Đinh Thị Phƣơng Dung (1999), Các di tích lịch sử văn hóa Bắc Ninh, ĐH Quốc
Gia Hà Nội
18. NXB Chính trị Quốc gia (2002), Luật Di sản văn hoá và nghị định hướng dẫn
thi hành, Hà Nội, 97 trang
19. NXB Chính trị Quốc gia (1999), Pháp lệnh Du lịch, Hà Nội, 32 trang
20. Ngô Đức Thịnh (1999), “Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền ” Tạp chí Văn hoá

18
nghệ thuật số 11 (185), trang 36
21. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thờ thành Hoàng Hà Nội, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, trang 26.
22. Nguyễn Minh Tuệ (1997), Địa lý du lịch, NXB Tp. Hồ Chí Minh, Tr.33
23. Phan Hữu Dật (1994), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại, NXB
Khoa học Xã hội
24. Phan Hữu Dật (chủ biên) (1992), Văn hoá - Lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam
Á, NXB Văn hoá Dân tộc
25. Tô Ngọc Thanh (1994), Niềm tin và lễ hội, trong sách Đời sống xã hội hiện đại-
GS Đinh Gia Khánh- GS Lê Hữu Tầng chủ biên: NXB Khoa học xã hội , Hà Nội,
tr.267-272 (Trang 25)
26. Trần Đình Luyện (2003), Lễ hội Bắc Ninh, Sở văn hóa Thông Tin Bắc Ninh,
Tr.12
27. Trần Nhạn (1995), Du lịch và kinh doanh du lịch, NXB Văn hoá Thông tin
28. Trần Từ (1991), “Từ một vài “trò diễn” trong lễ hội làng”, Tạp chí Nghiên cứu
Văn hoá Nghệ thuật, Số 3 (98),trang 17
29. Trần Quốc Vƣợng (2000), Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, NXB Văn hoá
Dân tộc - Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, 984 trang
30. Trần Ngọc Thêm (1997)), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 682 trang.
31. Trần Nhoãn (2001), Tổng quan cơ sở du lịch và cơ sở lưu trú du lịch, NXB Khoa
học xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status