LUẬN VĂN:
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông
Bắc nước ta hiện nay Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Không phải ngẫu nhiên mà năm 2002 được Liên hợp quốc chọn là năm quốc
tế về miền núi. Qua thực tế và qua hàng loạt Hội nghị quốc tế về môi trường từ năm
1972 đến nay, đặc biệt là Hội nghị Môi trường Quốc tế lần thứ nhất tại Stốckhôm năm
1972, Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất tại Rio De Janeiro năm 1992 và ở Johan
Nesburg (Nam Phi) năm 2002, nhân loại đã phải chứng kiến biết bao thảm họa về môi
trường do chính mình gây ra. Một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên các
cuộc khủng hoảng sinh thái cục bộ và đang đe dọa một cuộc khủng hoảng sinh thái
vững của đất nước, mà trước tiên là phát triển bền vững các vùng đặc biệt này. Vấn đề
này luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, và khẳng định: "Tăng trưởng
kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc,
bảo vệ môi trường sinh thái" [12, tr. 72]
(*)
.
Khu vực miền núi Đông Bắc nước ta là một vùng có nhiều dân tộc khác nhau
cùng sinh sống, do đó ở đây, trải qua nhiều thế hệ đã hình thành nên một vùng văn hóa
đặc thù và đa dạng. Vùng này có vị trí địa lý và môi trường tự nhiên rất đặc biệt, là nơi
khởi nguồn cung cấp nước cho các con sông chính của đồng bằng Bắc bộ. Nơi đây còn
có rừng rậm, núi cao nên được coi là "lá phổi", là "mái nhà" của cả nước. Do đó, việc
nghiên cứu và bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng này là
một đóng góp không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển bền vững của đất nước.
Trong khi đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở
vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế do các điều kiện kinh tế, xã
hội và sự nhận thức của con người ở đây còn nhiều bất cập so với yêu cầu đặt ra. Vì
(*)
Từ đây: - Số đầu là số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo.
vậy, vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng này
hiện nay đang là vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn
thực tiễn.
Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài " Vấn đề bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta
hiện nay " làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xây dựng, phát triển văn hóa luôn được Đảng ta chú ý ngang tầm với
những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội và đã xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
dân tộc, Hà Nội, 1999); "Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng"
(Nông Quốc Chấn - Huỳnh Khái Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), Các
công trình trên về cơ bản chỉ nghiên cứu văn hóa của một số dân tộc ít người tương đối
điển hình trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta như: Tày, Nùng, Dao, Mông,
Thái, Ê đê, vẫn còn văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số khác chưa được nghiên cứu
và công bố rộng rãi.
Vấn đề sinh thái và môi trường đã có một số công trình đề cập đến như: "Môi
trường sinh thái - Vấn đề và giải pháp" (Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội 1997); "Xã hội học môi trường" (Vũ Cao Đàm, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội, 2002); cuốn "Sinh thái học và môi trường" (Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002), Nhìn chung, qua các công trình nêu trên, vấn đề sinh
thái và môi trường đã được khai thác có hệ thống, nhất là những cảnh báo từ môi
trường và các tương tác của nó đến sự phát triển đã được đề cập tương đối rõ nét.
Vấn đề văn hóa sinh thái mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần đây, khi
mà thực trạng môi trường sống đang có nhiều vấn đề có liên quan đến văn hóa, lối
sống Nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể ra một số công trình như: "Văn hóa sinh
thái - nhân văn" (Trần Lê Bảo (chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001);
"Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên" (Nguyễn Viết Chức
(chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin, 2002); "Kỷ yếu diễn đàn phát triển bền vững
miền núi Việt Nam" (ủy ban dân tộc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2003); "Một số vấn đề
về bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi" (ủy ban dân tộc, Nxb Thống kê, Hà
Nội, 2003); "Những giá trị văn hóa sinh thái nhân văn Hồ Chí Minh" (Phạm Thị Ngọc
Trầm, Tạp chí Triết học, số 12, 2003); "Về cách tiếp cận triết học - xã hội đối với hiện
trạng môi trường sinh thái nhân văn ở Việt Nam: các vấn đề, nguyên nhân và giải
pháp" (Phạm Thị Ngọc Trầm, Tạp chí Triết học, số 6, 2004); ngoài ra cũng có một số
luận án tiến sĩ triết học đã bước đầu đi vào nghiên cứu văn hóa sinh thái như: "Mối
quan hệ giữa thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên của con người trong quá trình
hoạt động sống" Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Ngọc Lan bảo vệ năm 1995, với nội dung
chủ yếu bàn về mối quan hệ giữa thích nghi và biến đổi môi trường tự nhiên của con
Những tài liệu trên chỉ có tác dụng tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả
luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số giá trị văn hóa sinh thái truyền
thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta; chỉ ra sự cần thiết và một số giải pháp nhằm bảo
tồn và phát huy mặt tích cực, còn phù hợp của các giá trị đó trong điều kiện đổi mới
hiện nay, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước nói chung và của vùng
đất đặc biệt này nói riêng.
- Với mục đích đó, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm "giá trị văn hóa sinh thái truyền thống" và xác định
một số giá trị văn hóa sinh thái truyền thống của vùng núi Đông Bắc nước ta.
Thứ hai, làm rõ thực trạng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc: những kết quả đã đạt được và những vấn
đề cần khắc phục, bổ sung.
Thứ ba, chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng. Từ đó, bước đầu
đề xuất một số phương hướng và giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay nhằm hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững.
- Về giới hạn nghiên cứu đề tài:
Đây là một đề tài rộng có liên quan đến nhiều ngành khoa học. ở đây luận văn
chỉ giải quyết vấn đề dưới góc độ chuyên ngành triết học. Trên cơ sở lý luận chung về
văn hóa, chúng tôi xem xét vấn đề văn hóa sinh thái từ cách tiếp cận giá trị.
Khu vực miền núi Đông Bắc nước ta về mặt phân giới địa lý chỉ mang tính
tương đối và ở khu vực này có rất nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống, nên văn
hóa sinh thái truyền thống của các dân tộc ở đây rất đa dạng, phong phú. Trong phạm
vi của luận văn này chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu những giá trị văn hóa sinh thái
truyền thống của một số dân tộc tiêu biểu như: Tày, Nùng, Dao, Mông vì đây là những
dân tộc chiếm tỷ lệ cao trong tổng số dân cư của vùng, văn hóa sinh thái của họ hiện
nay còn lưu giữ lại được nhiều giá trị truyền thống, họ lại đại diện cho các tộc người
phát triển bền vững của vùng này cũng như của cả nước.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về văn hóa sinh thái, nhất là các
giá trị văn hóa sinh thái truyền thống. Từ đó, góp phần nâng cao sự nhận thức đúng
đắn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, tạo cho con người có một thái độ đúng
đắn, hợp quy luật trong quá trình khai thác và sử dụng tự nhiên. Luận văn còn có thể
sử dụng vào việc nghiên cứu những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở miền núi
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết.
Chương 1
Các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống
ở vùng núi Đông Bắc nước ta
1.1. Giá trị văn hóa sinh thái - một số vấn đề lý luận
1.1.1. Khái niệm văn hóa sinh thái và những đặc trưng của giá trị văn hóa
sinh thái
Văn hóa là một khái niệm rộng, nó được xem xét dưới nhiều góc độ khác
nhau. Hiểu theo nghĩa khái quát:
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra trong quá trình hoạt động sống và làm nên lịch sử, được lưu giữ
và truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm duy trì và phát triển
cuộc sống của cộng đồng người ở các mức độ tổ chức xã hội khác nhau,
hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp (Chân - Thiện - Mỹ) [44, tr. 14].
Còn sinh thái có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống của các sinh vật từ
Những giá trị văn hóa sinh thái không phải là toàn bộ những gì con người sáng
tạo ra trong quá trình tác động và cải biến giới tự nhiên, mà nó chỉ là những cái góp
phần tạo ra cho con người một môi trường sống tốt đẹp hơn, trong lành hơn và hài hòa
hơn với tự nhiên được lưu giữ và được truyền lại qua các thế hệ cho đến ngày nay.
Trong lịch sử đã từng xuất hiện những quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau
trong cách ứng xử của con người đối với tự nhiên. Có quan niệm cho rằng, con người
là "chúa tể của vạn vật" trong vũ trụ nên con người hoàn toàn có quyền khai thác tự
nhiên một cách không có giới hạn, con người thống trị tự nhiên như một dân tộc này
thống trị một dân tộc khác mà không cần tuân theo các quy luật của tự nhiên. Quan
niệm này đã từng thống trị trong triết học phương Tây, điều này đã dẫn tới mâu thuẫn
ngày càng gay gắt giữa con người và tự nhiên. Thực tế ở các nước phát triển về mặt
công nghiệp phương Tây đã cho thấy đời sống kinh tế càng phát triển, của cải vật chất
làm ra càng nhiều thì tự nhiên càng bị tàn phá, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt và
môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Do đó, xét trên bình diện những giá trị văn hóa sinh
thái thì những gì mà họ đạt được không chỉ là giá trị mà còn có những phản giá trị. Sở
dĩ có hiện tượng như vậy vì con người không hiểu được rằng: "Không nên quá tự hào
về những lần thắng lợi của chúng ta đối với tự nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được
một thắng lợi là một lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta" [30, tr. 654]. Ngược lại, có
quan niệm lại cho rằng, giữa con người và tự nhiên phải có mối quan hệ hòa hợp với
nhau, con người phải coi mình cũng là một bộ phận của giới tự nhiên và giới tự nhiên
chính là thân thể vô cơ của con người (C. Mác). Vì vậy:
Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ
xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự
nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc
chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên. Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên,
và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác
với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự
nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác [30, tr.
655].
được cả cộng đồng người thừa nhận và tuân theo trong quá trình tác động và biến đổi
giới tự nhiên của mình, ở các giá trị phổ quát về cái đúng, cái tốt, cái đẹp đối với tự
nhiên đã được kinh nghiệm toàn nhân loại chấp nhận. Song, các giá trị văn hóa sinh
thái còn mang tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại nên trong một phạm vi nhất
định, giá trị văn hóa sinh thái còn mang tính chủ quan. Trong thực tế đã có những hiện
tượng đối với dân tộc, giai cấp và ở một thời đại nhất định được coi là giá trị văn hóa
sinh thái, thì vẫn những hiện tượng đó, nhưng đối với dân tộc, giai cấp và ở thời đại
khác lại bị coi là phản giá trị văn hóa sinh thái, là cái cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời cần xóa
bỏ. Trong lịch sử loài người đã xảy ra rất nhiều hiện tượng như vậy, ví dụ như, tình
trạng du canh du cư trong canh tác ruộng đất nông nghiệp. ở thời kỳ cổ đại do dân số
còn ít, rừng nguyên sinh còn rất nhiều và do khoa học chưa phát triển nên hình thức du
canh du cư còn mang tính hợp lý và phù hợp với thời đại lúc đó, vì đây là một biện
pháp hữu hiệu để cải tạo đất đai nhằm bù đắp lại độ màu mỡ cho đất đai trong điều
kiện con người chưa có khả năng sản xuất và sử dụng phân bón và các hợp chất vi sinh
khác để cải tạo đất. Lúc đó, hình thức du canh du cư là một phương thức thích ứng của
con người với tự nhiên và nó có giá trị nhất định. Nhưng ở thời kỳ hiện nay, với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và với tình trạng rừng bị tàn phá nặng nề
thì hình thức du canh du cư đã trở nên lạc hậu, đó là một sự phản giá trị văn hóa sinh
thái mà con người cần phải loại bỏ.
Để sinh tồn, con người ở thời đại nào cũng đều phải có sự gắn bó chặt chẽ với
tự nhiên, tác động và cải biến tự nhiên theo mục đích, nhu cầu của mình. Vì vậy, có
các giá trị văn hóa sinh thái đã được con người sáng tạo ra từ lâu đời và được chuyển
giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó đã trở thành các giá trị văn hóa sinh thái truyền
thống. Nhưng cũng cần nhận thức được rằng, không phải giá trị văn hóa sinh thái nào
đã từng tồn tại trong quá khứ thì đến thời kỳ sau đều trở thành giá trị văn hóa sinh thái
truyền thống, bởi vì giá trị văn hóa sinh thái còn mang tính chủ quan và nếu xét theo
quan điểm lịch sử - cụ thể thì trong truyền thống có cả những mặt tích cực, tiến bộ lẫn
những mặt tiêu cực, lạc hậu. Do đó, giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải là
những giá trị tương đối ổn định, tốt đẹp, biểu hiện được bản sắc riêng của dân tộc
hưởng tới môi trường sinh thái.
Ba là, nó phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các giá trị chân - thiện - mỹ trong
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:
Cái chân trong văn hóa sinh thái được hiểu như là cái đúng, cái được kiểm
soát bằng lý trí, bằng khoa học, bằng pháp luật và bằng các quy luật của tự nhiên. Nó
được biểu hiện ở sự thực hiện nghiêm túc, tự giác các điều kiện bảo vệ môi trường
được xây dựng trên nền tảng các quy luật của giới tự nhiên. Cái chân trong văn hóa
sinh thái còn là cái thực dụng trong quan hệ của con người với tự nhiên. Nó được biểu
hiện ở sự tận dụng những lợi thế của tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống con người một
cách tự giác, phù hợp với các quy luật của tự nhiên.
Cái thiện trong văn hóa sinh thái được hiểu đó chính là tình yêu, sự tôn trọng
và bảo vệ các điều kiện thiên nhiên cần cho sự sống, không gây ô nhiễm môi trường,
không phá hoại cảnh quan, không khai thác, sử dụng đến cạn kiệt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, là cách ứng xử thân thiện với môi trường thiên nhiên;
Cái mỹ trong văn hóa sinh thái được hiểu đó chính là tôn trọng vẻ đẹp, là sự
kết hợp khéo léo và hài hòa giữa các vật thể văn hóa với vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên,
nói theo C. Mác là cải tạo thiên nhiên theo quy luật của cái đẹp.
Bản thân giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải hội tụ được cả ba cái chân
- thiện - mỹ, và giữa ba cái này phải có sự thống nhất biện chứng không tách rời nhau.
Vì vậy, trong giá trị văn hóa sinh thái truyền thống, người ta chỉ có thể tính đến tính ưu
tiên tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể chứ không thể duy nhất hóa hay tuyệt đối hóa
một cái nào cả. Đây là một vấn đề có ý nghĩa to lớn trong thời đại hiện nay khi mà
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng và
con người do mải chạy theo "chủ nghĩa thực dụng" đã bỏ qua những giá trị cơ bản của
văn hóa sinh thái. Với quan điểm này đã đặt ra một yêu cầu cho toàn nhân loại trong
việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình tác động và cải tạo tự nhiên là phải
đảm bảo được sự kết hợp hài hòa cả ba yếu tố chân - thiện - mỹ để xây dựng được một
nền văn hóa sinh thái lành mạnh, phát triển có những giá trị văn hóa sinh thái đúng đắn
và cao quý góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả con người và tự nhiên.
Trong văn hóa sinh thái vật thể
- Kiến trúc:
Tất cả các công trình kiến trúc như đền đài, cung điện, công trình lịch sử, nhà
ở, đều thể hiện rõ nét cái chân, cái mỹ trong đó, bởi vì trong quá trình xây dựng, con
người luôn tính toán phải làm sao phù hợp được với điều kiện tự nhiên và môi trường
xung quanh để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người trong khi sử dụng. Khi thiết
kế và xây dựng các công trình kiến trúc, con người bao giờ cũng phải chú ý đến một số
điểm cơ bản như: đặt hướng chính, hình dáng tổng thể, thiết kế xung quanh, trang trí
nội thất, kết cấu vật liệu, sao cho phù hợp với điều kiện địa lý, mặt bằng xây dựng,
điều kiện về khí hậu, ánh sáng, và còn phải tạo ra được sự tương xứng cân đối, hài
hòa giữa các công trình đó với cảnh quan xung quanh như một chỉnh thể thống nhất.
Những công trình này không những phải đúng, bền về nội dung mà còn phải đẹp, hài
hòa về hình thức. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện được sự tôn trọng đối với các điều kiện
sống của con người, góp phần nâng cao chất lượng sống của con người về mọi mặt.
- Trang phục:
Có thể nói trang phục là một trong những hình thức biểu hiện rõ nhất của văn
hóa sinh thái. Thông qua các trang phục của con người, cái chân, cái mỹ bộc lộ rõ nét.
Từ quần áo đến những đồ dùng kèm theo như khăn cuốn, thắt lưng, một mặt, nó đã
thể hiện được sự hiểu biết về môi trường và khả năng vận dụng những điều kiện cụ thể
của môi trường vào công việc thiết kế trang phục của con người sao cho vừa phù hợp
với hoàn cảnh vừa tạo điều kiện tốt nhất, thoải mái, dễ chịu nhất trong sinh hoạt hàng
ngày cũng như trong các hoạt động khác nhau của họ; mặt khác, nó còn thể hiện rõ
năng khiếu thẩm mỹ, sự sáng tạo và sự khéo léo của con người trong quá trình vươn
tới cái đẹp, cái hài hòa giữa con người và tự nhiên. Trang phục không chỉ thể hiện
được cái đẹp về hình thức bên ngoài, mà nó còn thể hiện được cái đẹp trong tâm hồn
của mỗi con người. Thông qua kiểu cách, hình dáng, chất liệu màu sắc của trang
phục nó phản ánh khả năng thích ứng của con người đối với tự nhiên và phản ánh tình
yêu thiên nhiên, cảm xúc trước vẻ đẹp thiên nhiên để từ đó tạo ra được sự cân đối, hài
hòa giữa trang phục và tự nhiên.
biểu hiện rõ nét của văn hóa sinh thái. Con người muốn tồn tại và phát triển thì trước
hết phải thỏa mãn những nhu cầu về ăn, ở, mặc, nhưng do dân số tăng nhanh và do
sự bừa bãi trong việc ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại đã
dẫn tới tình trạng thiếu hụt và ô nhiễm lương thực, thực phẩm ở phạm vi toàn cầu. Từ
đó đặt ra một vấn đề cấp bách là con người phải tìm mọi cách khắc phục, nói cách
khác là phải phát huy tính thiện của mình trong ẩm thực.
- Các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất:
Để thỏa mãn các nhu cầu của con người trong sinh hoạt và sản xuất, nhất thiết
phải có những vật dụng nhất định với tư cách là công cụ lao động. Công cụ lao động
cũng là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, và
trình độ của công cụ lao động sẽ góp phần quyết định hiệu quả của hoạt động đó. Theo
lý thuyết, chính sự phát triển của khoa học - công nghệ sẽ quyết định trình độ của công
cụ lao động, nhưng trong thực tế, có khi lại không phải như vậy. Trình độ và đặc biệt
là cấu trúc, hình dáng của các công cụ lao động lại còn phụ thuộc vào hoàn cảnh tự
nhiên cụ thể. Con người ngoài sự vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, còn
phải chú ý tới điều kiện tự nhiên của nơi mình sinh sống để từ đó tạo ra được những
công cụ lao động phù hợp, có như vậy mới đạt được hiệu quả cao nhất trong thực tiễn.
Ngoài tính thực dụng, con người với tư duy sáng tạo của mình, còn chú ý đến tính
thẩm mỹ trong việc chế tạo ra các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất. Các vật dụng
này không những phải có ích lợi lớn mà còn phải có cả tính hài hòa cao, và đặc biệt nó
không được gây ra ô nhiễm môi trường cũng như phá hoại cảnh quan xung quanh.
Trong văn hóa sinh thái phi vật thể
- Đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái là quan niệm và cách thức ứng xử của con người và xã hội
loài người đối với giới tự nhiên nhằm bảo đảm sự cùng tồn tại và phát triển của tự
nhiên và xã hội. Đạo đức sinh thái biểu hiện cái thiện, nó giữ vai trò điều chỉnh các
mối quan hệ của con người đối với tự nhiên, và do tự nhiên bao giờ cũng là khách thể
trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên nên không có chiều ngược lại.
Trên cơ sở có quan điểm đúng đối với tự nhiên, con người sẽ có những hành
vi ứng xử đúng đắn đối với tự nhiên. Trong hoạt động thực tiễn của mình, con người
lúc nào cũng phải tôn trọng vẻ đẹp của tự nhiên cũng như những quy luật vốn có của
nó. Mọi hành vi của con người ngoài việc tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội còn phải
chú ý tới hiệu quả về mặt sinh thái, việc phát triển kinh tế - xã hội phải đi liền với việc
nâng cao chất lượng môi trường sống. Vì vậy, con người có lối sống sinh thái không
chỉ dừng lại ở việc mọi hành vi phải nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên mà còn thể hiện
ở khả năng tái tạo, mở rộng và nâng cao chất lượng cũng như vẻ đẹp của nó.
Cùng với lối sống, nếp nghĩ, các phong tục tập quán cũng là một biểu hiện của
văn hóa sinh thái. Mặc dù chỉ là một sự cưỡng chế mặc nhiên không thành văn nhưng
sức mạnh của phong tục, tập quán rất lớn vì nó gắn liền với lối sống của cộng đồng và
ăn sâu vào tiềm thức của mọi người. Cái được coi là phong tục, tập quán, thói quen,
trước hết cũng phải gắn liền và phù hợp với những điều kiện tự nhiên, hay có thể nói
do điều kiện tự nhiên quy định và được dư luận xã hội bảo vệ.
Thông qua những điều hạn chế, cấm kỵ, không được làm của con người đối
với tự nhiên, cũng như những quy định chung cho con người trong quan hệ với tự
nhiên mang tính khuôn thước của cộng đồng, các phong tục tập quán đã góp phần định
hướng cho các ứng xử, hành vi của mọi thành viên trong cộng đồng mang đậm tính
sinh thái. Chính những phong tục, tập quán này một mặt thể hiện rõ nội dung của văn
hóa sinh thái, mặt khác còn góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức sinh thái cho
mọi người.
- Các tác phẩm văn học và các hình thức nghệ thuật
Có thể khẳng định rằng, văn hóa nghệ thuật là một hình thức biểu hiện tiêu
biểu, điển hình, rõ nét của văn hóa. Chính vì vậy, đôi khi có người còn đồng nhất văn
hóa với văn học, nghệ thuật.
Thông qua các tác phẩm văn học, nhất là văn học dân gian, đã phản ánh rất rõ
những tâm tư, tình cảm cũng như cách ứng xử của con người đối với tự nhiên, qua đó
bộc lộ luôn các giá trị chân, thiện, mỹ. Từ ca dao, tục ngữ, các truyện cổ tích, huyền
thoại, các loại thơ ca cho đến các loại truyện đã được ghi chép lại đều thể hiện sự hiểu
và sự nhận thức của con người đối với tự nhiên. Thông qua các lễ hội rước nước, lễ
hội rước và dâng lễ vật cúng thần nông, lễ hội xuống đồng, đã thể hiện sự tôn trọng tự
nhiên, hòa đồng với tự nhiên của con người. Đồng thời nó còn thể hiện tư tưởng nhân
văn sâu sắc của con người đối với tự nhiên.
Như vậy, trong mỗi hình thức biểu hiện cụ thể của văn hóa sinh thái đều có
chứa những giá trị chân, thiện, mỹ. Các giá trị văn hóa sinh thái này được lưu giữ từ
thế hệ này sang thế khác, giúp cho con người sống ngày càng gắn bó hơn với điều
kiện sinh thái từng vùng, miền. Cùng với thời gian, những giá trị đó được khẳng định
và tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của từng vùng.
1.2. Một số giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc
nước ta
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội vùng núi Đông Bắc
nước ta - Tiền đề và cơ sở hình thành các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở
vùng này
Nhiệm vụ tiếp theo của luận văn là xác định một số giá trị văn hóa sinh thái
truyền thống ở vùng núi Đông Bắc và thông qua các hình thức biểu hiện của chúng để
chỉ ra các giá trị chân, thiện, mỹ. Muốn vậy, trước hết cần phải chỉ ra nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc kinh tế - xã hội đã hình thành nên những giá trị văn hóa sinh thái
vùng núi Đông Bắc; sau đó, chỉ ra những giá trị đó là gì? Biểu hiện của nó ra sao?
1.2.1.1. Những đặc điểm tự nhiên ở vùng núi Đông Bắc nước ta
Khu vực vùng núi Đông Bắc nước ta gồm 11 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang,