luận văn khoa khách sạn du lịch Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội chùa Quang Khánh(chùa Muống)- xã ngũ phúc- huyện Kim Thành- Hải Dương - Pdf 27

GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
MỤC LỤC
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay khi đất nước chuyển mình trong hội nhập việc bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa dân tộc mà bao nhiêu năm qua ông cha ta đã để lại là một
vấn đề vô cùng cấp thiết. Việc các thế hệ không còn mặn mà với lễ hội như
trước nữa không còn là điểm lạ lẫm. Trước đây sắp đến ngày lễ hội là bọn trẻ
con phải chờ đợi từng ngày, để rồi khi lễ hội đi qualaij nuối tiếc và chờ đợi mùa
lễ hội năm sau. Không chỉ là trẻ nhỏ, mà người lớn cũng háo hức không kém, là
nơi để họ cầu mong hạnh phúc, may mắn, tài lộc và vui chơi ,giải trí, tâm hồn
thanh thản.
Là quốc gia có truyền thống lâu đời, đất nước Việt Nam có hơn 500 lễ hội
lớn nhỏ diễn ra lhawps bốn mùa xuân ,hạ, thu, đông. Và lễ hội chùa Quang
Khánh xã Ngũ PHúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương là một lễ hội nằm
trong những lễ hội tiêu biểu của mảnh đất xứ đông. Trong bài báo tiểu luận nhỏ
này của mình, em rất vinh dự được ông Nguyễn Văn Phú, trưởng Ban công tác
văn hóa xã Ngũ Phúc, sư bà Thích Thị Nga chủ trì chùa Quang Khánh đã cung
cấp tư liệu cho em. Đồng cảm ơn cô giáo Nguyễn Ngọc Linh giảng viên trường
Đại học Văn hóa Hà Nội đã hướng dẫn em làm bài tập.
Đây là bài tiểu luận đầu tiên của em, mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng
vẫn khó tránh khỏi sai sót, em mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
2
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
Đề Tài : Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội chùa
Quang Khánh(chùa Muống)- xã ngũ phúc- huyện Kim Thành- Hải Dương.
Chương 1.Phần mở đầu:
1.1 Nêu rõ nội dung đề tài nghiên cứu : bảo tồn và phát huy các giá trị văn

Quang Khánh huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương.
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng các phương pháp sau: Quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu tài
liệu, phân tích
Chương 2: khái quát về lễ hội chùa Quang Khánh
2.1. Tên gọi của lễ hội.
Chùa Muống xã Ngũ phúc, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương là di tích
Lịch sử- văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng theo Quyết định số 97/QĐ ngày
21 tháng 1 năm 1992. Chùa có tên tự là Quang Khánh tự, di tích đã tồn tại từ
nhiều thế kỷ trước, hiện nay là trung tâm tôn giáo lớn của huyện Kim Thành. Lễ
hội chùa Muống gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhà sư Tuệ Nhẫn - có
công chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh Tông và là môn đệ trung thành của vị tổ
thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm Việt Nam- vua Trần Nhân Tông.
Căn cứ vào dấu tích hiện còn, những di tích lịch sử- văn hoá thì vùng đất
này vốn là vùng đất phù sa cổ, do dòng sông Văn úc bồi đắp từ hàng nghìn năm
trước. Tương truyền, vào thời Lý Công Uẩn đã có nhiều dòng họ đến đây khai
khẩn, đất đai lúc đầu chua phèn, chưa thuần thục. Rau muống là thức ăn chính,
cây lương thực khó trồng, cây rau muống được mọi người chú trọng, cái tên
Dưỡng Mông (tức "nuôi muống") cũng được bắt nguồn từ đó. Thời gian trôi đi,
số người đến đây lập nghiệp ngày một nhiều thêm, những cánh đồng hoang dần
được đẩy lùi, ruộng đất chua phèn dần được cải tạo. Hiện nay, tại thôn Dưỡng
Mông còn khá nhiều địa danh gắn với sự tích khai phá đất hoang như đồng Công
đầu cầu, Đống Rúi, Đống Ông, Rộc Cò, Rộc Ma, Rộc Mét, Rộc Sâu, Rộc
Ghếch, Rộc Súng, Đầm Đông, Đầm Am
Cùng với việc khai hoang lập ấp, bao thế hệ người làng Muống (tên gọi
nôm của làng Dưỡng Mông) đã xây dựng nhiều công trình tôn giáo, tín ngưỡng
mang đậm tính bản địa. Mặc dù trải bao biến cố của lịch sử, làng Muống vẫn
còn một số di tích như miếu Mã Bến, miếu Thiên Lâu, đình thờ Thành hoàng
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
4

SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
5
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
xây dựng 72 ngôi chùa lớn nhỏ. Đối với nhân dân làng Muống, nhà sư không chỉ
là người có công xây dựng chùa, mà ông còn là người đầu tiên khai khẩn đất đai,
lập nên làng Muống ngày nay, vì vậy ông lại là một vị thành hoàng được nhân
dân địa phương thờ phụng.
Lễ hội chùa Muống được bắt nguồn từ việc kỷ niệm ngày mất của nhà sư
Tuệ Nhẫn, ông là người tu hành có công chữa khỏi mắt cho vua Trần Minh
Tông và là môn đệ trung thành xây dựng nên thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.
Theo sách "Đại Nam nhất thống chí"NXB KHXH, HN năm 1971; tr 411- 412
viết: "Chùa Quang Khánh ở xã Dưỡng Mông, huyện Kim Thành, sư ông Mộng
trụ trì ở đây, tu luyện đắc đạo, phép thuật tinh thông. Vua Trần Minh Tông đau
mắt, các thầy thuốc điều trị không khỏi, đêm mộng thấy một thầy thuốc tự xưng
là ông Mộng, khi tỉnh dậy, không cần thuốc thang mà mắt tự khỏi, bèn lấy tên
người trong mộng hỏi khắp châu huyện, khi đến chùa này mới thấy, nhà vua sắc
phong là Từ Giác Quốc Sư, lại phát tiền kho tu bổ chùa quán, cho tên là chùa
Quang Khánh, Lê Thánh Tông có đề thơ khắc vào đá nay vẫn còn”
(1)
Theo tấm bia “Quang Khánh tự bi minh tự”, do tiến sĩ khoa Đinh Mùi
(1487) Phạm Cảnh Chiêu soạn, khắc dựng vào năm Hồng Thuận thất niên
(1515), thì Tuệ Nhẫn Quốc Sư là người từng trụ trì chùa Dưỡng Mông thời Trần,
sư họ Vương, hiệu là Quán Viên, quê ở xã Dưỡng Mông, thuở nhỏ bố mất sớm,
mẹ ở vậy nuôi con. Từ năm 10 tuổi, sư khắc khổ chuyên cần học, 19 tuổi đọc
rộng các sách, rồi chán cảnh trần tục, yết kiến Kiêm Tuệ đại sư chùa Báo Ân đi
tu, Sau thụ trụ, túc giới hai sư Nghĩa Trụ và Chân Giám, giới hạnh, tài biện hơn
người. Sư được vua Trần và triều đình rất kính trọng, vua Anh Tông ban cho
pháp hiệu là Tuệ Nhẫn Quốc Sư. Năm Ất Sửu (1325) sư viên tịch. Như vậy, Tuệ
Nhẫn với sư ông Mộng trong Đại Nam Nhất Thống chí chỉ là một. Tuệ Nhẫn là
một nhà sư nổi tiếng nhà Trần, cùng thế hệ với Pháp Loa, Huyền Quang thuộc

lớn nhỏ. Riêng huyện Kim Thành, quê hương ông, ông xây dựng 4 ngôi chùa
lớn: chùa Phí Gia (xã Đồng Gia), còn gọi là chùa Bùi; chùa Lành, chùa Gạo (xã
Kim Tân); chùa Linh Quang (xã Kim Lương). Cho đến nay, trong dân gian vẫn
lưu truyền một số câu ca phản ánh thời kỳ hưng thịnh của các ngôi chùa ở vùng
này: "Lên chùa Muống, xuống chùa Bùi, lui chùa Gạo, dạo Hải Ninh (nơi có
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
7
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
chùa Lành)"; hay :"Nhịp chùa Lành, canh chùa Muống" (nghĩa là nhịp chuông,
mõ chùa Lành và đọc canh ở chùa Muống khó có nơi nào sánh kịp).
Ngoài các ngôi chùa ở Mạo Khê, ở quê hương, ông còn xây dựng nhiều
ngôi chùa khác như chùa Vĩnh Nghiêm (Chí Linh), chùa Siêu Loại (Bắc
Ninh), chùa Đông Khê huyện An Hải (Hải Phòng), chùa Do Nha huyện An
Dương (Hải Phòng) Trong số 72 ngôi chùa mà ông gia công tu tạo, chùa
Muống vẫn là nơi gắn bó với cả cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Vào thời Trần chùa đã được tu tạo nhiều lần, có lần vua sai Nguyễn Công
Củng là quan trong triều về chỉ đạo thi công, hoàng hậu Nguyễn Thị Lương cấp
tiền, bạc. Chùa có quy mô tới 120 gian lớn nhỏ, xây dựng theo kiểu "nội công
ngoại quốc" trên khuôn viên rộng 15.000m
2
, bao gồm tam quan, tiền đường,
thượng điện, nhà tổ, nhà tăng, hành lang, gác chuông, gác khánh Chùa có 32
tháp sư và hàng trăm pho tượng lớn nhỏ.
Trải qua thời gian, chùa Muống có khá nhiều nhà sư nổi tiếng trụ trì như sư
Như Nhàn, quê ở Kim Lũy (Đông Triều), có cha là người họ Phạm, mẹ là người
họ Lê, sinh vào năm Thuận Đức tam niên (1655). Năm 24 tuổi đi tu tại Yên Tử,
cầu đạo với Chân Hiền thiền sư, sau khi đắc pháp, chu du nhiều nơi, rồi trụ trì
tại chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, sau đó về chùa Quang Khánh. Năm Tân Sửu
(1721) Uy tổ Nhân Vương (Trịnh Cương) mời về kinh, cầu đảo ở tháp Báo
Thiên, được chúa ban thưởng Tử y Kim Lũ cà sa, phong chức tăng phó. Năm

tăng đồng thời còn là một lương y, người công xây dựng nhiều chùa lớn như:
Vĩnh Nghiêm (Chí Linh), Siêu Loại (Bắc Ninh), Đông Khê, Do Nha (Hải
Phòng). Nhà sư viên tịch ngày 27 tháng giêng, năm Ất Sửu, Khai Thái thứ hai
(1325). Sau khi mất, nhà sư được nhân dân tôn làm Thành hoàng làng.
2.2. Thời gian diễn ra lễ hội.
Thông lệ, hội bắt đầu từ 24-26 tháng giêng, 27 là ngày trọng hội.
- Ngày 24 làm lễ nhập tịch, cỗ chay gồm hoa quả, bánh dầy, bánh nếp.Sư
sãi tụng kinh cả đêm, không khí thật sôi nổi.
- Ngày 25, theo lệ là ngày rước bánh dầy quanh chùa trước khi đưa vào
tiền đường thờ Thánh tổ. Đây là một nghi thức mong mùa màng bội thu
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
9
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
- Ngày 26, lễ tập ngơi, thực chất là một cuộc tập dượt chuẩn bị cho ngày
đại lễ. Trong ngày tổ chức tập rước kiệu, chuẩn bị chu đáo các thứ cho trọng hội,
buổi tối, các sư làm lễ mộc dục.
- Ngày 27 phật tử các nơi tiếp tục đến lễ và buổi tối có đọc kinh và kết thúc
lễ hội
Chương 3: Tìm hiểu lễ hội
Diễn trình lễ hội gồm 2 phần:
3.1. Phần lễ:
a) Ngày 24 làm lễ nhập tịch, cỗ chay gồm hoa quả, bánh dầy, bánh nếp.Sư
sãi tụng kinh cả đêm, không khí thật sôi nổi.
Điều đặc biệt trong lễ hội chùa Muống đó là tục lệ làm bánh dày để dâng
cúng. Đây là điều mà ít lễ hội truyền thống nào còn duy trì được. Theo những
người cao niên ở đây kể lại rằng: Cứ gần đến ngày lễ hội, trong từng gia đình và
khắp cả xóm làng lại rộn ràng tiếng chày giã bánh cùng với mùi thơm ngào ngạt
của những nồi xôi, tạo cho không khí ngày hội thật tưng bừng và ấm cúng. Bánh
dày làng Muống tượng trưng cho mùa màng bội thu mà con cháu dâng lên
Thánh tổ, như thành quả của một năm lao động. Việc giã bánh dày trong ngày

to nhỏ đủ cỡ đặt lên mâm, có những chiếc bánh dầy lớn đặt trên mâm gỗ, đây là
tín ngưỡng phồn thực của cư dân trồng lúa nước thuộc đồng bằng châu thổ sông
Hồng.
Những chiếc bánh dầy đưa lên kiệu, rước quanh chùa, trong tiếng nhạc âm
vang và dòng người trang nghiêm, kính cẩn đi theo các kiệu sơn son thếp vàng.
Sau đó, những chiếc bánh dầy được đưa vào tiền đường, tam bảo, nhà tổ để làm
lễ. Tại đây các sư trụ trì và phật tử đọc nhiều bài kinh ca ngợi công lao của đức
Phật và mong muốn có mùa màng bội thu.
c) Ngày 26, lễ tập ngơi, thực chất là một cuộc tập dượt chuẩn bị cho ngày
đại lễ. Trong ngày tổ chức tập rước kiệu, chuẩn bị chu đáo các thứ cho trọng hội,
buổi tối, các sư làm lễ mộc dục.
Từ sáng sớm nhân dân địa phương và các Phật tử gần xa đã tấp nập tập kết
ở chùa, xếp thành đội ngũ để chuẩn bị rước. Cũng giống như các lễ hội ở đình
làng, các dụng cụ như kiệu bát cống, bát bửu, long đình, tàn, tán, lọng được
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
11
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
chuẩn bị kỹ càng và là dụng cụ rước truyền thống ở đây. Đây là một điểm khác
biệt của chùa Muống so với các ngôi chùa khác. Đi đầu đoàn rước là phường bát
âm, rồi đến bát bửu, đến tàn lọng, kiệu hoa lễ, kiệu bát cống rước tượng Thánh
tổ Từ Giác Quốc Sư, sau cùng các Phật tử và nhân dân. Trước đây, có 3 kiệu bát
cống trên có tượng Thánh Phụ, Thánh Mẫu và tượng Từ Giác Quốc Sư, 3 pho
tượng này thường được rước đến tam quan chùa để làm lễ, sau đó lại rước về an
vị trong điện tổ. Lễ rước kiệu ở di tích giống như lễ rước kiệu ở các đình đền
Việt Nam.
Buổi tối ngày 26 có lễ "Mộc dục" (Lễ tắm tượng): sau khi đọc kinh, các sư
cùng các Phật tử tiến hành nghi lễ tắm tượng. Tất cả các pho tượng đều được
tắm rửa bằng nước sạch, có pha nước ngũ vị thơm lừng, nghi lễ này chỉ diễn ra
một lần trong năm và vào đúng tối 26 tháng giêng.Kiệu rước nước về, cộng
đồng làng cử hành luôn lễ mộc dục, công việc này giao cho những người có uy

hiếm khi cùng giới. Đu có nhiều loại. Đu bay dường như đâu cũng có. Đó là
trồng bốn cây tre ở bốn góc, ép ngọn bởi một chiếc then ngang. Lại thêm một
chốt nữa xỏ hai cây trẻ thả dọc xuống, buộc một bàn đặt chân. Hai người lên đu
quay mặt vào nhau, dùng tay vịn thân đu, nhún đẩy cho đu bay bổng, càng vượt
cao càng hay và giật giải treo trên ngọn đu. Đu cọn, còn gọi là đu tiên, đu xe vì
giống chiếc guồng nước của đồng bào thiểu số miền bắc. Hai cột gỗ trôn chắc
dưới đất, giữa cột có trụ gỗ bắc ngang và một bánh xe xuyên qua trục, có các
nan cách đều nhau xếp các bàn ngồi. Người chơi ngồi trong bàn, cứ xen kẽ một
nam, một nữ dùng chân đạp xuống đất cho đu quay mỗi lúc một nhanh. Đu ngóc
được chơi nhiều tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Tấm ván gỗ dài 5 mét, rộng độ gang tay,
khoét lỗ ở giữa đặt vào mấu của chiếc cột đóng sẵn cao khoảng 1m. Hai người
ngồi trên hai đầu ván đạp đất, bên đầu này ngóc lên thì đầu kia hạ xuống kết hợp
với quay tròn quanh trục. Đu ngóc là trò chỉ dành cho những người khoẻ mạnh
và lanh lợi.
Đấu vật
Người tham dự là các đô vật cởi trần, đóng khố. Trước khi vào cuộc, hai
đấu thủ làm lễ "se dài" với những động tác co duỗi chân tay đẹp mắt vừa chào
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
13
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
người xem vừa tự giới thiệu và thăm dò. Trong tiếng trống của người cầm chầu,
lúc hối thúc, khi dìu dặt để điều khiển, hai bên lao vào để đua tài. Vật đòi hỏi
phải dẻo dai và mưu trí. Có nhiều miếng vật như "bốc một", "bốc đôi", "bốc
trong", "bốc ngoài", "ngóc","ngáng", "đệm" chủ yếu dùng tay đẩy chân, móc
kheo hoặc ôm lưng quật, "gồng" là đột ngột chuyển từ thế vờn sang quỳ, chui
đầu qua nách, bắt tay hất chân và lật đối phương qua đầu mình, "bò" thì nằm ép
sát đất giữ thế chủ động, lừa sự sơ hở nhổ dậy tấn công dứt điểm. Người thua bị
ngã phơi bụng hoặc bị nhấc bổng lên.
Trò thi diều sáo.
Đã từ hàng trăm năm nay như lời cụ Khiếu Văn Luyến cho biết; luật chơi

trước, sau đó đến quân đen và luân phiên theo thứ tự cho đến hết. Cứ thế, Cờ
Người diễn ra trong không khí tưng bừng của ngày hội. Cứ mỗi lần ăn quân của
đối phương thì quân cờ thể hiện bằng 1 bài biểu diễn song đấu hoặc một bài tự
vệ. Các “quân cờ” phải trải qua sự tập luyện lâu dài và gian khổ vì các đòn thế
biểu diễn không phải dễ dàng.
Cùng với dòng người đổ về với lễ hội, là hàng hoá muôn sắc màu tràn ngập
khắp mọi nơi, đó là các sản phẩm nông nghiệp, tò he, quần áo dành cho các phật
tử, nón, mũ và các hàng hoá thiết yếu khác.
Phần hội được tổ chức khá sôi nổi, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức
như đấu vật, chọi gà, đánh cờ người, bịt mắt bắt dê từ năm 2009, tại đây đã
xuất hiện những trò chơi mới như: đu quay truyền thống, xiếc người bay, mô tô
bay, tàu hoả đi trên đường ray
3.3. Giá trị văn hóa của lễ hội
Là một ngôi chùa lớn, lại có nhiều vị cao tăng trụ trì, đồng thời lại thờ Phật
theo thiền phái Trúc Lâm, vì thế lễ hội tại di tích có quy mô khá lớn và có mối
liên hệ chặt chẽ với các ngôi chùa thuộc thiền phái này. Nhìn chung các ngôi
chùa theo thiền phái Trúc Lâm ở Hải Dương đều có quy mô lớn như chùa Bạch
Hào (Bạch Hào tự) xã Thanh Xá, huyện Thanh Hà; chùa Cả (Đại từ Khâm
Thiên tự) xã Tân An, huyện Thanh Hà; chùa Minh Khánh thị trấn Thanh Hà;
chùa Hun (Thiên tư phúc tự) tức chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa
Thám, huyện Chí Linh, ở tỉnh Quảng Ninh có lễ hội chùa Yên Tử
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
15
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
Chùa Muống đã trải qua 7 thế kỷ tồn tại, ngôi chùa này đã ghi vào lịch sử
của chế độ phong kiến Việt Nam. Hiện nay, chùa còn 32 ngôi tháp lớn nhỏ, chủ
yếu là tháp đá thời Lê và thời Nguyễn. Với số lượng đó chưa có ngôi chùa nào ở
Hải Dương sánh kịp. Trải bao thăng trầm của lịch sử, hầu hết các công trình của
chùa đã bị phá huỷ trong kháng chiến. Hoà bình lập lại, nhất là từ những năm
đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20 cho đến nay, chùa Muống như được hồi sinh.

Đồng thời công tác kiểm tra hoạt động văn hóa, dịch vụ ăn uống trong lễ hội
được tăng cường và chặt chẽ nên giảm được nhiều hiện tượng tiêu cực, góp phần
lành mạnh môi trường văn hóa tại khu vực trước, trong và sau thời gian tổ chức
lễ hội.
Lễ hội góp phần to lớn trong việc củng cố tinh thần đoàn kết của cư dân địa
phương, giáo dục truyền thống văn hóa với đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” của
nhân dân
4.2. Tiêu cực.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, lễ hội chúa Quang Khánh còn
những hạn chế cần khác phục như sau:
Còn tồn tại nhiều hiện tựng mê tín dị đoan, bói toàn cúng bái không có cơ
sở khoa học… một số các trò chơi không lành mạnh như cá cược, tổ tôm, xóc
đĩa tồn tại trong quá trình diễn ra lễ hội.
Trong công tác chỉ đạo tổ chức lễ hội nhất là phần lễ còn lúng túng, chưa
đúng trình tự truyến thống. Trong phần hội chưa có sự kết hợp được các trò chơi
dân gian với các trò choi hiện đại nên lễ hội kém hấp dẫn, thiếu sự lôi cuốn.
Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện nghiêm túc
các quy định vế giữ gìn di tính lịch sử văn hóa và bảo vệ môi trường tự nhiên,
môi trường xã hội chưa được thướng xuyên. Rất nhiều bạn trẻ để lại các kí tự,
biểu tượng riêng trên di tích. Nhiều người chưa có ý thức bảo vệ môi trường
xung quanh chùa như: xả rác bứa bãi, phá cây bẻ cành… Đây là lễ hội cấp xã lên
chưa tích cực huy động được các nguồn lực xã hội hóa tham gia vào hoạt động
tuyên truyền, phổ biến lễ hội.
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
17
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
Công tác đào tạo còn nhiều bất cập, các bộ làm văn hóa ở xã mới chỉ được
đào tạo ở bậc trung cấp, nên còn nhiều lúng tung trong quá trình thực hiện và tổ
chức lễ hội.
Chương 5:Giải pháp phát triển lễ hội

sự mang tính chất là lễ hội truyền thống.
Ban Tổ chức thống nhất chọn địa điểm, thiết kế không gian hội và diễn
trình lễ hội; Quy định lộ trình đám rước của hội; Quy định thời gian chuẩn bị và
thời gian mở hội.
Xây dựng nội dung chương trình tổ chức lễ hội với các công việc: Xác định
nội dung chủ đề tư tưởng và ý nghĩa, vai trò của lễ hội; Soạn thảo biên tập
chương trình (có thể dưới dạng kịch bản sân khấu hóa) cụ thể các bước nghi lễ
và quy định thời gian, nội dung cho các lễ thức với số lượng người tham gia,
thời gian tiến hành, xử lý công việc, phục lễ, đạo cụ, phần lễ, trình tự đội ngũ lễ
rước, lộ trình đi của đám rước, nội dung văn tế, các bước nghi thức tế lễ.
Thực hiện nội dung các nghi lễ, nguồn nhân lực chủ yếu lựa chọn, sử dụng
những người có độ tuổi trung niên và cao tuổi. Trong trò diễn xây dựng hình
thức, nội dung phù hợp với tính chất, chủ đề của lễ hội.
Căn cứ vào nội dung của lễ hội, quy định thời gian diễn xướng, trang phục,
động tác diễn xuất, số lượng người tham gia, cử người dàn dựng, quy định thời
gian luyện tập. Phải có kịch bản và sự chuẩn bị tập luyện chu đáo.
Các hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức trên cơ sở khai thác, phục
dựng các trò chơi dân gian. Đồng thời, tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ,
thể thao theo hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Tổ chức thi đấu, giao
lưu các môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông đặc biệt với lợi thế
của địa phương có núi ở hai bên hồ nước, có thể tổ chức thi leo núi để khích lệ
mọi người tham gia rèn luyện sức khỏe.
Kết hợp tổ chức các hoạt động kinh tế văn hóa như giới thiệu sản phẩm
hàng hóa địa phương và tạo ra những món quà lưu niệm của các tộc người cư trú
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
19
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
trên địa bàn xã; Tổ chức các hoạt động kinh doanh các sản phẩm hàng hóa phục
vụ nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt của nhân dân và các hoạt động dịch vụ.
5.3. Chú trọng bảo tồn giá trị của lễ hội

với lễ hội.
5.4.Công tác tuyên truyền phổ biến các văn bản quy định của lễ hội
Chính quyền xã cần coi trọng công tác giáo dục pháp luật, tổ chức việc
tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan đến văn hóa, quản lý
văn hóa và lễ hội nhất là các văn bản pháp luật mới ban hành.Ngành Văn hóa –
Thông tin các cấp phối hợp với các ngành chức năng và địa phương, cơ sở cần
tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức và nội dung
phong phú góp phần giới thiệu, phổ biến các giá trị lễ hội truyền thống đặc sắc,
quảng bá tiềm năng văn hóa, du lịch của địa phương.
Về hình thức: Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như:
Đài phát thanh, hệ thống loa truyền thanh, báo chí, mạng internet, pa nô, áp
phích xung quanh không gian lễ hội và tuyên truyền lưu động qua các hình
thức loa phát thanh trên xe thông tin lưu động, thông tin lưu động tổng hợp.
Về nội dung: Đẩy mạnh hướng dẫn tuyên truyền về ý nghĩa của lễ hội gắn
với việc giới thiệu, tôn vinh công trạng của các vị thần được thờ tại di tích và
các khu vực tổ chức lễ hội. Thường xuyên tuyên truyền nội dung mang tính phổ
biến, giáo dục pháp luật, hành vi lối sống, cách ứng xử văn hóa để không chỉ
người tổ chức lễ hội mà cả người tham gia lễ hội hiểu được giá trị di sản văn
hóa, nắm được quy định quản lý để tự điều chỉnh thông qua hành vi cụ thể ; hạn
chế được các biểu hiện tiêu cực trong lễ hội Đồng thời, chính quyền địa
phương nên có kế hoạch lồng ghép tuyên truyền các nội dung trên vào các nội
dung của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, và coi
đó là nhiệm vụ chủ yếu của địa phương nhằm góp phần xây dựng nếp sống văn
hóa lễ hội; Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết, ý thức trách nhiệm, tự giác giữ gìn
nơi thờ tự, bảo vệ môi trường tự nhiên – xã hội của nhân dân trong các di tích
lịch sử - văn hóa gắn với tổ chức lễ hội.
5.5. Đẩy mạnh công tác quản lý bảo vệ cảnh quan di tích và lễ hội
Cần xây dựng kế hoạch trùng tu và giữ gìn, bảo quản di tích đình làng,
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
21

22
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
hình thành lễ hội. Việc phục dựng những trò chơi dân gian, những lễ hội truyền
thống phải dựa trên những tiêu chí khoa học đảm bảo không làm sai lệch lễ hội.
5.6.Tăng cường quản lý dịch vụ, vệ sinh môi trường, trật tự công cộng
Quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ trong quá trình tổ chức lễ hội
phải có quy định các sản phẩm hàng hóa được phép kinh doanh, các loại hình
dịch vụ được phép tổ chức hoạt động, tránh tình trạng hàng quán lộn xộn, lấn
chiếm không gian lễ hội. Duy trì kiểm tra, giám định chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm, niêm yết gía cả sản phẩm hàng hóa và các loại hình dịch vụ. Thực
hiện chế độ đăng ký, kiểm duyệt và cam kết giữa các chủ kinh doanh với chính
quyền địa phương và Ban tổ chức lễ hội. Tăng cường lực lượng quản lý, giám
sát chặt chẽ trong thời gian lượng khách về dự hội đông và thời gian nghỉ trưa
để khắc phục tình trạng bán hàng rong, tổ chức trò vui chơi có thưởng mang tính
chất cờ bạc, tự tăng giá đột biến các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.
Bên cạnh đó, cần chỉ đạo và đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường như:
Thiết lập hệ thống thu gom và xử lý rác thải từ hoạt động của du khách và
các dịch vụ phục vụ trước, trong và sau lễ hội tại khu vực tổ chức lễ hội. Tăng
cường bố trí các thùng đựng rác có dung tích lớn đặt ở những nơi thuận tiện trên
các tuyến giao thông, đường đi lại, nơi nghỉ ngơi, mua bán, ăn uống của du
khách và nhân dân dự hội.
Duy trì trên hệ thống loa truyền thanh có nội dung phổ biến nội quy, quy
chế lễ hội nâng cao ý thức tự giác vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường và trên
các phương tiện cổ động trực quan.
Ban tổ chưc cần xây dựng biện pháp phân tán và kiểm soát du khách để
giảm bớt tác động đến môi trường thông qua các quy định hoặc thông tin tuyên
truyền và thuyết phục.
Quản lý an ninh trật tự, an toàn và phòng chống cháy nổ cần được duy trì,
tăng cường và đặc biệt chú trọng ở khu vực đình và nơi tổ chức hội. Ban Tổ
chức lễ hội cần xây dựng nội quy, quy định, tuyệt đối không để xảy ra mất an

tổ chức kinh doanh dưới sự quản lý của chính quyền các cấp để đảm bảo không
gian tổ chức lễ hội và phục vụ nhu cầu du khách về tham dự lễ hội.
Xây dựng phương án đề phòng việc thái quá trong thực hiện xã hội hóa
thành tư nhân hóa các hoạt động lễ hội, dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý.
SV: Phạm Thị Hương Lớp: DL19A
24
GVHD: Nguyễn Ngọc Linh
Ngoài ra, duy trì quản lý chặt chẽ nguồn tài chính thu – chi trong tổ chức lễ
hội cũng như nguồn nhân lực cố định và di động tham gia vào lễ hội theo quy
định của Nhà nước và của địa phương cơ sở.
5.8. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lý vi
phạm trong hoạt động lễ hội
Xây dựng các phương án tăng cường giám sát, kiểm tra thường xuyên, liên
tục, lâu dài; Quản lý, hướng dẫn và kiên quyết xử lý nghiêm những sai phạm
trong lĩnh vực tổ chức, quản lý lễ hội trên địa bàn xã. Các hình thức xử lý vi
phạm phải dựa trên các nghị định, chế tài, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước, quy chế, quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, chính quyền địa phương. Đổi
mới cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa
với phương châm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời tránh để sự việc xảy ra rồi
mới xử lý.
Hoàn thiện và bổ sung các văn bản quản lý làm cơ sở pháp lý cho các chủ
thể kinh doanh dịch vụ văn hóa tự điều chỉnh hành vi hoạt động của mình cũng
như điều chỉnh các hành vi của cơ quan quản lý nhà nước.
Kiện toàn đội ngũ thanh tra, giám sát của ngành từ tỉnh đến cơ sở: Tăng
cường bổ sung, bố trí lực lượng tham gia đoàn kiểm tra có khả năng đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao năng lực
cho cán bộ làm công tác thanh tra. Trang bị phương tiện, kỹ thuật cho công tác
kiểm tra và chi mức bồi dưỡng cho cán bộ tham gia kiểm tra, có chế độ động
viên, khuyến khích kịp thời bằng các hình thức khen thưởng vật chất (tiền) và
tinh thần (giấy khen).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status