Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
VIỆN TRIẾT HỌC
TRẦN THỊ HỐNG LOAN
VẤN ĐÊ BẢO TỔN VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ VÃN HÓA SINH THÁI TRUYỀN THỐNG
ở VỪNG NÚI ĐÔNG BẮC
Nưức
TA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80
LUẬN VÃN THẠC s ĩ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm - Viện Triết học
HÀ NỘI - 2005
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cihi của riêng tôi. Nội dung và các
trích dẫn nêu trong luận văn có xuất sứ rõ
ràng và trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VÃN
Trần Thị Hồng Loan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CÁC GIÁ TRỊ VÃN HÓA SINH THÁI TRUYỂN t h ố n g ở
VÙNG NÍU ĐÔNG BẮC NƯỚC TA 10
1.1. Giá trị văn hóa sinh thái - một số vấn đề lý luận 10
1.2. Một số giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông
Bắc nước ta 26

vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu, được cả nhân loại quan tâm vì sự sinh tồn
của chính con người.
Vì sự tồn tại và phát triển của mình, con người phải quan hệ với tụ
nhiên và quan hệ với nhau; trong quá trình đó, những giá trị văn hóa sinh thái
cũng dần dần được hình thành. Nghĩa là những giá trị văn hóa sinh thái gắn
liền với mối quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên. Vì vậy, trong
quá trình bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa sinh thái, cần phải tính đếr
các yếu tố của môi trường tự nhiên và mối quan hệ, sự tác động giữa cor
2
người với tự nhiên mà kết quả của chúng được biểu hiện trong các giá trị văn
hóa sinh thái. Do đó, vấn đề môi trường tự nhiên hiện nay không chỉ đơn giản
là vấn đề sinh học, sinh thái học thuần túy, mà thực chất nó còn là vấn đề vãn
hóa và lối sống của con người, vấn đề văn hóa sinh thái nhân văn.
ở nước ta hiện nay, những vùng có điều kiện tự nhiên đa dạng như
vùng rừng rậm, vùng núi cao, đều là những vùng sâu, vùng xa, trình độ phát
triển về mọi mặt nói chung còn rất hạn chế so với mặt bằng chung của cả
nước. Những giá trị văn hóa sinh thái truyền thống được hình thành và phát
triển từ nhiều đời nay của những khu vực này đang chịu sự tác động mạnh mẽ
của kinh tế thị trường, của khoa học, công nghệ hiện đại, của sự hội nhập,
đang có những biến đổi theo cả xu hướng tích cực lẫn tiêu cực, tuy nhiên theo
xu hướng tiêu cực vẫn nhiều hơn. Điều này do trình độ nhận thức của người
dân còn thấp, các điều kiện thiên nhiên phức tạp, xa xôi, cách trở, kinh tế - xã
hội còn lạc hậu, của vùng này tạo nên. Do vậy, việc bảo tồn và phát huy
những mặt tích cực, còn phù hợp của các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống
ở các vùng này đang được đặt ra hết sức cấp thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu
phát triển bền vững của đất nước, mà trước tiên là phát triển bền vững các vùng
đặc biệt này. Vấn đề này luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, và
khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và cộng bằng xã hội, giữ
gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái" [12, tr. 72](*).
Khu vực miền núi Đông Bắc nước ta là một vùng có nhiều dân tộc

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (15-11-2004). Với mục tiêu chung là tìm ra
con đường để nước ta phát triển nhanh và phát triển bền vững, đã có nhiều
công trình nghiên cứu đến những vấn đề văn hóa và vấn đề sinh thái ở nước ta
hiện nay như:
Về văn hóa nói chung có các công trình: "Văn hóa và đổi mới'' (Nxb Chính
trị quốc gia, H, 1994) của cố vấn Phạm Văn Đồng, trong đó tác giả đã đề cập
đến văn hóa một cách có hệ thống và nêu lên được mối quan hệ giữa văn hóa
4
và đổi mới; "Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa Việt Nam" (GS.TS Đỗ
Huy, PGS. Trường Lưu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989); "Chân - thiện -
mỹ sự thống nhất và đa dạng trong văn hóa nghệ thuật" (Đỗ Huy, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 1994); "Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn - TS. Phạm
Văn Đức - TS. Hồ Sĩ Quý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Nhìn
chung, các công trình này nghiên cứu văn hóa dưới góc độ lý luận chung và đã
đạt được những thành công to lớn trong việc nghiên cứu khái niệm, cấu trúc,
giá trị, vai trò, hình thức biểu hiện của văn hóa.
Dưới góc độ văn hóa các dân tộc ít người, có các công trình: "Văn hóa
truyền thống Tày Nùng" (Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách,
TS. Cung Văn Lược, PGS. Vương Toàn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1993);
"Văn hóa truyền thống các dân tộc Hà Giang" (Hùng Đình Quý, sở Văn hóa -
Thông tin Hà Giang xuất bản, 1994); "Văn hóa dân tộc H mông Hà Giang"
(PSG. Trường Lưu và Hùng Đình Quý, sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Hà
Giang xuất bản, 1996); "Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang” (Phạm
Quang Hoan và Hùng Đình Quý, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1999); "Văn
hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng" (Nông Quốc Chấn -
Huỳnh Khái Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), Các công trình
trên về cơ bản chỉ nghiên cứu văn hóa của một số dân tộc ít người tương đối
điển hình trong cộng đồng các dán tộc thiểu sô' ở nước ta như: Tày, Nùng,
Dao, Mông, Thái, Ê đê, vẫn còn văn hóa của nhiều dân tộc thiểu sô' khác

trưởng kinh tế và bảo vệ môi trườìig cho sự phát triển lâu bền" Luận án tiến sĩ
của Bùi Văn Dũng bảo vệ năm 1999, với nội dung chủ yếu bàn về mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, và đưa ra một số giải pháp
để kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền
ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; luận án "Xảy dựng ý
thức sinh thái - yếu tô bảo đảm cho sự phát triển lâu bền” của Phạm Văn
6
Boong bảo vệ năm 2001, với nội dung chủ yếu bàn về vai trò của ý thức sinh
thái đối với sự phát triển lâu bền và vấn đề xây dựng ý thức sinh thái trong
điều kiện phát triển mới của thời đại; Nhìn chung, các công trình này mới
chỉ đề cập đến văn hóa sinh thái ở dưới một số góc độ khác nhau, mức độ khái
quát tổng thể về nội dung giá trị văn hóa sinh thái vẫn chưa rõ nét. Nó chỉ
được đề cập đến như là một nội dung nằm trong toàn bộ vấn đề vãn hóa hoặc
sinh thái nói chung, và nằm rải rác trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đặc biệt là các
giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở trong cả nước nói chung cũng như ở
vùng núi Đông Bắc nói riêng trong thời gian qua hầu như chưa được nghiên
cứu đến mà mới chỉ được đề cập chung trong công tác bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống nói chung, ở đây có thể kể đến một số công trình
đã công bố có liên quan tới vấn đề này như: "Phát triển văn hóa, giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại'' (Phạm Minh Hạc,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996); "Sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa,
văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam" (Hội Văn học - Nghệ thuật các dân
tộc thiểu số Việt Nam, in tại trường Trung học Kỹ thuật In, Hà Nội, 1998);
"Tính đa dạng của văn hóa Việt Nam: những tiếp cận về sự bảo tồn” (Trung
tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, 2002).
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay. Vì vậy, luận văn không trùng lặp với bất kỳ luận văn, công

Tày, Nùng, Dao, Mông vì đây là những dân tộc chiếm tỷ lệ cao trong tổng số
dân cư của vùng, văn hóa sinh thái của họ hiện nay còn lưu giữ lại được nhiều
giá trị truyền thống, họ lại đại diện cho các tộc người sinh sống ở cả ba vị trí
8
thung lũng, lưng núi và trên núi cao,'nên các giá trị văn hóa sinh thái truyền
thống của họ mang tính đặc trưng chung cho giá trị văn hóa sinh thái truyền
thống cả vùng núi Đông Bắc.
Do điều kiện về lịch sử và địa lý của nước ta và tính chất giao thoa
mạnh mẽ của văn hóa, nên những đặc trưng về văn hóa sinh thái ở vùng này
không độc lập, riêng rẽ với văn hóa sinh thái của các vùng khác mà chỉ mang
tính tương đối.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứa và trình bày của luận văn dựa trên cơ sở lý luận và
các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài.
Luận văn còn kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng của một số công trình
nghiên cứu khoa học đi trước như các bài viết, các luận án, luận văn, các tư
liệu điều tra, khảo sát, có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn.
Về mặt phương pháp, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng, các phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê, đối chiếu và so sánh,
lôgic và lịch sử với quan điểm phải có sự kết hợp, thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong nghiên cứu cũng như trong trình bày.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn trình bày một cách tương đối rõ ràng về "giá trị văn hóa
sinh thái truyền thống" và bước đầu chỉ ra được một sô giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta. Từ đó, luận văn góp phần
nâng cao nhận thức trong việc giải quyết vấn đề "sinh thái" - một vấn đề cấp
bách không chỉ đối với vùng núi Đông Bắc mà còn đối với cả nước nói riêng
cũng như đối với toàn cầu nói chung.
- Thông qua việc phân tích thực trạng bảo tồn và phát huy các giá tri

mức độ tổ chức xã hội khác nhau, hướng đến cái đúng, cái tốt, cái
đẹp (Chân - Thiện - Mỹ) [44, tr. 14].
Còn sinh thái có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống của các sinh
vật từ bé nhất đến lớn nhất. Vì vậy, môi trường sinh thái chính là môi trường
sống hay là cái nhà ở của sinh vật, bao gồm tất cả các điều kiện xung quanh có
liên quan đến sự sống của sinh thể. Nó gồm có hai loại: môi trường sinh thái
tự nhiên là môi trường của mối quan hệ giữa sinh thể với các điều kiện tự
nhiên và môi trường sinh thái nhân văn hay môi trường tự nhiên - người hóa (môi
trường của mối quan hệ giữa con người và xã hội với những điều kiện tự nhiên).
Từ đó, có thể hiểu:
Văn hóa sinh thái nói chung là tất cả các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tác động và biến
đổi giới tự nhiên nhằm tạo ra cho mình một môi trường sống tốt đẹp
11
hơn, trong lành hơn và hài hòa hơn với tự nhiên, hướng đến cái
đúng cái tốt, cái đẹp vì sự phát triển lâu bền của xã hội. Đó có thể
là những giá trị vật chất - những tạo phẩm văn hóa như các công
trình kiến trúc, các đền chùa, miếu mạo, các cảnh quan nhân tạo,
phù hợp và hài hòa với thiên nhiên, tôn tạo thêm vẻ đẹp vốn có của
thiên nhiên, là những giá trị tinh thần như tình yêu đối với thiên
nhiên, đối với quê hương, đất nước và cả những giá trị về lối sống,
nếp sống như những thói quen, tập quán, cách ứng xử tốt với thiên
nhiên, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên [2, tr. 196].
Với định nghĩa khái quát này, quan niệm về văn hóa sinh thái được hiểu:
Văn hóa sinh thái trước hết được con người sáng tạo ra trong quá trình
tác động và cải biến giới tự nhiên: con người muốn tồn tại và phát triển thì
không còn cách nào khác là phải có sự liên hệ, tác động vào giới tự nhiên để
tạo ra những của cải vật chất cần thiết đáp ứng những nhu cầu ăn, ở, mặc, tối
thiểu của mình. Chính trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người đã
không ngừng cải biến tự nhiên theo mục đích có lợi nhất cho mình. Từ đó, con

một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống
bên ngoài tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt,
máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên. Chúng ta nằm
trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với
tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là
chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử
dụng được những quy luật đó một cách chính xác [30, tr. 655].
Điều này đã dẫn tới giữa con người và tự nhiên có sự gắn bó chặt chẽ,
hài hòa, con người và tự nhiên cùng tồn tại và phát triển. Một khi con người
sống hài hòa, thân thiện với môi trường tự nhiên, tuy vẫn khai thác, sử dụng
tài nguyên thiên nhiên và môi trường, nhưng không làm tổn thương nặng nề
13
đến nó, thì những gì mà con người đạt được trong quá trình đó mới được coi là
giá trị văn hóa sinh thái.
Bởi vậy, giá trị văn hóa sinh thái có thể được hiểu là tất cả những gì
mà con người đạt được (cả vật chất lẫn tinh thần) trong quan hệ tác động lên
tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu và phục vụ cho lợi ích của con người và xã
hội nhưng không dẫn đến phá hoại sự cân bằng của hệ sinh thái, bảo đảm
cùng tồn tại hài hòa, thân thiện giữa con người (xã hội) với tự nhiên.
Các giá trị văn hóa sinh thái được thể hiện ở nhiều hình thức khác
nhau từ các dạng vật thể như: kiến trúc, trang phục, đến các dạng phi vật thể
như: lối sống, phong tục, tập quán, nghệ thuật, được hình thành trong quá
trình tác động và cải biến tự nhiên của con người.
Bản chất của giá trị văn hóa sinh thái là phải hướng đến cái đúng, cái
tốt, cái đẹp (Chân - Thiện - Mỹ) trong mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Các công trình nghiên cứu về giá trị của GS. Trần Văn Giàu và GS. Phạm
Minh Hạc đều quan niệm: giá trị là tính có nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quý,
có ích của các đối tượng đối với các chủ thể. Như vậy, giá trị chỉ là những
thuộc tính chính diện (mặt tích cực trong ý nghĩa) chứ không phải bất kỳ

một sự phản giá trị văn hóa sinh thái mà con người cần phải loại bỏ.
Để sinh tồn, con người ở thời đại nào cũng đều phải có sự gắn bó chặt
chẽ với tự nhiên, tác động và cải biến tự nhiên theo mục đích, nhu cầu của
mình. Vì vậy, có các giá trị văn hóa sinh thái đã được con người sáng tạo ra từ
lâu đời và được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó đã trở thành
các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống. Nhưng cũng cần nhận thức được
rằng, không phải giá trị văn hóa sinh thái nào đã từng tồn tại trong quá khứ thì
đến thời kỳ sau đều trở thành giá trị văn hóa sinh thái truyền thống, bởi vì giá
15
trị văn hóa sinh thái còn mang tính chủ quan và nếu xét theo quan điểm lịch
sử - cụ thể thì trong truyền thống có cả những mặt tích cực, tiến bộ lẫn những
mặt tiêu cực, lạc hậu. Do đó,
giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải là
những giá trị tương đối ổn định, tốt đẹp, biểu hiện được bản sắc riêng của dãn
tộc trong cách xứng xử của con người đối với tự nhiên và cẩn phải truyền lại
cho các thế hệ sau những gì cẩn phải bảo vệ và phát triển. Chính vì vậy, giá
trị văn hóa sinh thái truyền thống có những đặc trưng sau:
Một là, nó phải mang tính sáng tạo của con người trong quá trình tác
động và cải biến giới tự nhiên: nói đến văn hóa nói chung cũng như văn hóa
sinh thái nói riêng, không thể khổng nói đến cái cốt lõi nhất của nó đó là tính
sáng tạo. Con người hơn hẳn con vật ở chỗ con người có ý thức, có tư duy.
Hoạt động của con người trong quá trình tác động vào giới tự nhiên là hoạt
động có mục đích, nó khác hẳn với hoạt động mang tính bản năng của loài vật.
Để cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình, loài người nhờ có tư duy đã
không ngừng sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần mang đậm dấu ấn và
tính chủ quan của chính con người. Như vậy, trong thế giới muôn loài của vũ
trụ, chỉ duy nhất loài người là có khả năng sáng tạo trong quan hệ với tự nhiên
nhằm tạo ra sự thích ứng cao nhất với tự nhiên vì lợi ích của chính mình.
Chính sự sáng tạo đó đã tạo ra những giá trị văn hóa sinh thái của con người.
Hai là, nó phải thể hiện tính nhân văn của con người trong cách ứng

các nguồn tài nguyên thiên nhiên, là cách ứng xử thân thiện với môi trường
thiên nhiên;
Cái mỹ trong văn hóa sinh thái được hiểu đó chính là tôn trọng vẻ đẹp,
là sự kết hợp khéo léo và hài hòa giữa các vật thể văn hóa với vẻ đẹp vốn có của
thiên nhiên, nói theo c. Mác là cải tạo thiên nhiên theo quy luật của cái đẹp.
Bản thân giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải hội tụ được cả ba
cái chân - thiện - mỹ, và giữa ba cái này phải có sự thống nhất biện chứng
17
không tách rời nhau. Vì vậy, trong giá trị vãn hóa sinh thái truyền thống,
người ta chỉ có thể tính đến tính ưu tiên tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể
chứ không thể duy nhất hóa hay tuyệt đối hóa một cái nào cả. Đây là một vấn
đề có ý nghĩa to lớn trong thời đại hiện nay khi mà cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ hiện đại đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng và con người do mải
chạy theo "chủ nghĩa thực dụng" đã bỏ qua những giá trị cơ bản của văn hóa
sinh thái. Với quan điểm này đã đặt ra một yêu cầu cho toàn nhân loại trong
việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào quá trình tác động và cải tạo tự nhiên
là phải đảm bảo được sự kết hợp hài hòa cả ba yếu tố chân - thiện - mỹ để xây
dựng được một nền văn hóa sinh thái lành mạnh, phát triển có những giá trị
văn hóa sinh thái đúng đắn và cao quý góp phần thúc đẩy sự phát triển của cả
con người và tự nhiên.
Bốn là, nó phải mang tính bản sắc riêng của dân tộc trong cách ứng
xử của con người đối với tự nhiên: bản sắc dân tộc trong văn hóa sinh thái bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử
hàng ngàn năm tác động và cải biến giới tự nhiên của cộng đồng các dân tộc
đang sinh sống. Đó chính là lòng yêu thiên nhiên; tư tưởng hòa hợp giữa con
người và tự nhiên; sự nghiêm túc, tự giác tuân theo các quy luật của giới tự
nhiên; sự sáng tạo ra một phương thức sống thích ứng với sự tồn tại, phát triển
của tự nhiên,
Năm là, nó là những giá trị mang tính trường tồn, đã tồn tại từ lâu đời
trong cách ứng xử của con người đối với tự nhiên: nhiều giá trị văn hóa sinh

chính, hình dáng tổng thể, thiết kế xung quanh, trang trí nội thất, kết cấu vật
liệu, sao cho phù hợp với điều kiện địa lý, mặt bằng xây dựng, điều kiện về
khí hậu, ánh sáng, và còn phải tạo ra được sự tương xứng cân đối, hài hòa
giữa các cồng trình đó với cảnh quan xung quanh như một chỉnh thể thống
19
nhất. Những công trình này không những phải đúng, bền về nội dung mà còn
phải đẹp, hài hòa về hình thức. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện được sự tôn trọng
đối với các điều kiện sống của con người, góp phần nâng cao chất lượng sống
của con người về mọi mặt.
- Trang phục:
Có thể nói trang phục là một trong những hình thức biểu hiện rõ nhất
của văn hóa sinh thái. Thông qua các trang phục của con người, cái chân, cái
mỹ bộc lộ rõ nét. Từ quần áo đến những đồ dùng kèm theo như khăn cuốn,
thắt lưng, một mặt, nó đã thể hiện được sự hiểu biết về môi trường và khả
năng vận dụng những điều kiện cụ thể của môi trường vào công việc thiết kế
trang phục của con người sao cho vừa phù hợp với hoàn cảnh vừa tạo điều kiện
tốt nhất, thoải mái, dễ chịu nhất trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong các
hoạt động khác nhau của họ; mặt khác, nó còn thể hiện rõ năng khiếu thẩm
mỹ, sự sáng tạo và sự khéo léo của con người trong quá trình vươn tới cái đẹp,
cái hài hòa giữa con người và tự nhiên. Trang phục không chỉ thể hiện được
cái đẹp về hình thức bén ngoài, mà nó còn thể hiện được cái đẹp trong tâm
hồn của mỗi con người. Thông qua kiểu cách, hình dáng, chất liệu màu sắc
của trang phục nó phản ánh khả năng thích ứng của con người đối với tự nhiên
và phản ánh tình yêu thiên nhiên, cảm xúc trước vẻ đẹp thiên nhiên để từ đó
tạo ra được sự cân đối, hài hòa giữa trang phục và tự nhiên.
- Dược liệu chữa bệnh'.
Việt Nam là một quốc gia đa dạng sinh học, có thảm động, thực vật rất
phong phú. Đây chính là nguồn dược liệu rất phong phú, đa dạng. Với trí óc
thông minh, tinh thần ham học hỏi và do yêu cầu của sự sinh tồn, con người
Việt Nam từ xa xưa đã biết sử dụng nguồn dược liệu này vào công việc chữa

do dân số tăng nhanh và do sự bừa bãi trong việc ứng dụng những thành tựu
của khoa học - công nghệ hiện đại đã dẫn tới tình trạng thiếu hụt và ô nhiễm
21
lương thực, thực phẩm ở phạm vi toàn cầu. Từ đó đặt ra một vấn đề cấp bách
là con người phải tìm mọi cách khắc phục, nói cách khác là phải phát huy tính
thiện của mình trong ẩm thực.
- Các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất:
Để thỏa mãn các nhu cầu của con người trong sinh hoạt và sản xuất,
nhất thiết phải có những vật dụng nhất định với tư cách là công cụ lao động.
Công cụ lao động cũng là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động cải tạo
tự nhiên của con người, và trình độ của công cụ lao động sẽ góp phần quyết
định hiệu quả của hoạt động đó. Theo lý thuyết, chính sự phát triển của khoa
học - công nghệ sẽ quyết định trình độ của công cụ lao động, nhưng trong
thực tế, có khi lại không phải như vậy. Trình độ và đặc biệt là cấu trúc, hình
dáng của các công cụ lao động lại còn phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên cụ
thể. Con người ngoài sự vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, còn phải
chú ý tới điều kiện tự nhiên của nơi mình sinh sống để từ đó tạo ra được những
công cụ lao động phù hợp, có như vậy mới đạt được hiệu quả cao nhất trong
thực tiễn. Ngoài tính thực dụng, con người với tư duy sáng tạo của mình, còn
chú ý đến tính thẩm mỹ trong việc chế tạo ra các đồ dùng trong sinh hoạt và
sản xuất. Các vật dụng này không những phải có ích lợi lớn mà còn phải có cả
tính hài hòa cao, và đặc biệt nó không được gây ra ô nhiễm môi trường cũng
như phá hoại cảnh quan xung quanh.
• Trong văn hóa sinh thái phi vật thể
- Đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái là quan niệm và cách thức ứng xử của con người và
xã hội loài người đối với giới tự nhiên nhằm bảo đảm sự cùng tồn tại và phát
triển của tự nhiên và xã hội. Đạo đức sinh thái biểu hiện cái thiện, nó giữ vai
trò điều chỉnh các mối quan hệ của con người đối với tự nhiên, và do tự nhiên
bao giờ cũng là khách thể trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên nên

Trích đoạn Những nguyên nhàn dẫn đến sự yếu kém trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đòng Bác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status