LUẬN VĂN: Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng
núi Đông Bắc nước ta hiện nay

ở nước ta hiện nay, những vùng có điều kiện tự nhiên đa dạng như vùng rừng
rậm, vùng núi cao, …đều là những vùng sâu, vùng xa, trình độ phát triển về mọi mặt nói
chung còn rất hạn chế so với mặt bằng chung của cả nước. Những giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống được hình thành và phát triển từ nhiều đời nay của những khu vực này
đang chịu sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, của khoa học, công nghệ hiện
đại, của sự hội nhập, đang có những biến đổi theo cả xu hướng tích cực lẫn tiêu cực,
tuy nhiên theo xu hướng tiêu cực vẫn nhiều hơn. Điều này do trình độ nhận thức của
người dân còn thấp, các điều kiện thiên nhiên phức tạp, xa xôi, cách trở, kinh tế - xã hội
còn lạc hậu,…của vùng này tạo nên. Do vậy, việc bảo tồn và phát huy những mặt tích
cực, còn phù hợp của các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở các vùng này đang
được đặt ra hết sức cấp thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững của đất
nước, mà trước tiên là phát triển bền vững các vùng đặc biệt này. Vấn đề này luôn được
Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, và khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế gắn liền
với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường
sinh thái" [12, tr. 72]
(*)
.
Khu vực miền núi Đông Bắc nước ta là một vùng có nhiều dân tộc khác nhau
cùng sinh sống, do đó ở đây, trải qua nhiều thế hệ đã hình thành nên một vùng văn hóa
đặc thù và đa dạng. Vùng này có vị trí địa lý và môi trường tự nhiên rất đặc biệt, là nơi
khởi nguồn cung cấp nước cho các con sông chính của đồng bằng Bắc bộ. Nơi đây còn
có rừng rậm, núi cao nên được coi là "lá phổi", là "mái nhà" của cả nước. Do đó, việc
nghiên cứu và bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng này là
một đóng góp không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển bền vững của đất nước.
Trong khi đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng
núi Đông Bắc nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế do các điều kiện kinh tế, xã hội và sự
nhận thức của con người ở đây còn nhiều bất cập so với yêu cầu đặt ra. Vì vậy, vấn đề
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng này hiện nay đang
là vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn.

thành công to lớn trong việc nghiên cứu khái niệm, cấu trúc, giá trị, vai trò, hình thức
biểu hiện của văn hóa.

Dưới góc độ văn hóa các dân tộc ít người, có các công trình: "Văn hóa truyền
thống Tày Nùng" (Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, TS. Cung Văn
Lược, PGS. Vương Toàn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1993); "Văn hóa truyền thống
các dân tộc Hà Giang" (Hùng Đình Quý, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Giang xuất bản,
1994); "Văn hóa dân tộc H mông Hà Giang" (PSG. Trường Lưu và Hùng Đình Quý, Sở
Văn hóa - Thông tin - Thể thao Hà Giang xuất bản, 1996); "Văn hóa truyền thống người
Dao ở Hà Giang" (Phạm Quang Hoan và Hùng Đình Quý, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà
Nội, 1999); "Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng" (Nông Quốc Chấn
- Huỳnh Khái Vinh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002), Các công trình trên về cơ
bản chỉ nghiên cứu văn hóa của một số dân tộc ít người tương đối điển hình trong cộng
đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái, Ê đê, vẫn còn
văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số khác chưa được nghiên cứu và công bố rộng rãi.
Vấn đề sinh thái và môi trường đã có một số công trình đề cập đến như: "Môi
trường sinh thái - Vấn đề và giải pháp" (Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 1997); "Xã hội học môi trường" (Vũ Cao Đàm, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà
Nội, 2002); cuốn "Sinh thái học và môi trường" (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2002), Nhìn chung, qua các công trình nêu trên, vấn đề sinh thái và môi
trường đã được khai thác có hệ thống, nhất là những cảnh báo từ môi trường và các
tương tác của nó đến sự phát triển đã được đề cập tương đối rõ nét.
Vấn đề văn hóa sinh thái mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần đây, khi
mà thực trạng môi trường sống đang có nhiều vấn đề có liên quan đến văn hóa, lối
sống Nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể ra một số công trình như: "Văn hóa sinh
thái - nhân văn" (Trần Lê Bảo (chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001);
"Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên" (Nguyễn Viết Chức
(chủ biên), Nxb Văn hóa - Thông tin, 2002); "Kỷ yếu diễn đàn phát triển bền vững miền
núi Việt Nam" (ủy ban dân tộc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2003); "Một số vấn đề về
bảo vệ môi trường vùng dân tộc và miền núi" (ủy ban dân tộc, Nxb Thống kê, Hà Nội,

trị văn hóa, văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam" (Hội Văn học - Nghệ thuật các dân

tộc thiểu số Việt Nam, in tại trường Trung học Kỹ thuật In, Hà Nội, 1998); "Tính đa
dạng của văn hóa Việt Nam: những tiếp cận về sự bảo tồn" (Trung tâm Khoa học Xã
hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội, 2002).
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Vì vậy,
luận văn không trùng lặp với bất kỳ luận văn, công trình nào đã được công bố. Những
tài liệu trên chỉ có tác dụng tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số giá trị văn hóa sinh thái truyền
thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta; chỉ ra sự cần thiết và một số giải pháp nhằm bảo
tồn và phát huy mặt tích cực, còn phù hợp của các giá trị đó trong điều kiện đổi mới
hiện nay, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước nói chung và của vùng
đất đặc biệt này nói riêng.
- Với mục đích đó, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm "giá trị văn hóa sinh thái truyền thống" và xác định
một số giá trị văn hóa sinh thái truyền thống của vùng núi Đông Bắc nước ta.
Thứ hai, làm rõ thực trạng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc: những kết quả đã đạt được và những vấn đề cần
khắc phục, bổ sung.

Thứ ba, chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng. Từ đó, bước đầu đề
xuất một số phương hướng và giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc nước ta hiện nay nhằm hướng tới mục tiêu phát
triển bền vững.
- Về giới hạn nghiên cứu đề tài:
Đây là một đề tài rộng có liên quan đến nhiều ngành khoa học. ở đây luận văn
chỉ giải quyết vấn đề dưới góc độ chuyên ngành triết học. Trên cơ sở lý luận chung về

giải quyết vấn đề "sinh thái" - một vấn đề cấp bách không chỉ đối với vùng núi Đông
Bắc mà còn đối với cả nước nói riêng cũng như đối với toàn cầu nói chung.
- Thông qua việc phân tích thực trạng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc, luận văn đã chỉ ra được những nhân tố chủ
yếu có ảnh hưởng tới công việc này và chỉ ra được một số nguyên nhân dẫn tới thực
trạng trên.
- Luận văn bước đầu nêu lên một số phương hướng và giải pháp để bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống ở vùng núi Đông Bắc gắn với sự phát
triển bền vững của vùng này cũng như của cả nước.

6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về văn hóa sinh thái, nhất là các
giá trị văn hóa sinh thái truyền thống. Từ đó, góp phần nâng cao sự nhận thức đúng đắn
về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, tạo cho con người có một thái độ đúng đắn,
hợp quy luật trong quá trình khai thác và sử dụng tự nhiên. Luận văn còn có thể sử dụng
vào việc nghiên cứu những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở miền núi nước ta
trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. Chương 1
Các giá trị văn hóa sinh thái truyền thống
ở vùng núi Đông Bắc nước ta
1.1. Giá trị văn hóa sinh thái - một số vấn đề lý luận
1.1.1. Khái niệm văn hóa sinh thái và những đặc trưng của giá trị văn hóa
sinh thái
Văn hóa là một khái niệm rộng, nó được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau.
Hiểu theo nghĩa khái quát:

tác động vào giới tự nhiên, con người đã không ngừng cải biến tự nhiên theo mục đích
có lợi nhất cho mình. Từ đó, con người đã sáng tạo ra các dạng vật chất và tinh thần
khác nhau. Các dạng này, một mặt nhằm đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của loài
người; mặt khác, nó còn thể hiện sự hiểu biết về tự nhiên, cách ứng xử với tự nhiên và
trình độ chinh phục tự nhiên của con người ở từng thời kỳ nhất định. Chính mặt thứ hai
này đã được thể hiện trong giá trị văn hóa sinh thái.
Những giá trị văn hóa sinh thái không phải là toàn bộ những gì con người sáng
tạo ra trong quá trình tác động và cải biến giới tự nhiên, mà nó chỉ là những cái góp

phần tạo ra cho con người một môi trường sống tốt đẹp hơn, trong lành hơn và hài hòa
hơn với tự nhiên được lưu giữ và được truyền lại qua các thế hệ cho đến ngày nay.
Trong lịch sử đã từng xuất hiện những quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau
trong cách ứng xử của con người đối với tự nhiên. Có quan niệm cho rằng, con người là
"chúa tể của vạn vật" trong vũ trụ nên con người hoàn toàn có quyền khai thác tự nhiên
một cách không có giới hạn, con người thống trị tự nhiên như một dân tộc này thống trị
một dân tộc khác mà không cần tuân theo các quy luật của tự nhiên. Quan niệm này đã
từng thống trị trong triết học phương Tây, điều này đã dẫn tới mâu thuẫn ngày càng gay
gắt giữa con người và tự nhiên. Thực tế ở các nước phát triển về mặt công nghiệp
phương Tây đã cho thấy đời sống kinh tế càng phát triển, của cải vật chất làm ra càng
nhiều thì tự nhiên càng bị tàn phá, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt và môi trường bị ô
nhiễm nặng nề. Do đó, xét trên bình diện những giá trị văn hóa sinh thái thì những gì
mà họ đạt được không chỉ là giá trị mà còn có những phản giá trị. Sở dĩ có hiện tượng
như vậy vì con người không hiểu được rằng: "Không nên quá tự hào về những lần thắng
lợi của chúng ta đối với tự nhiên. Bởi vì, cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi là một lần
giới tự nhiên trả thù lại chúng ta" [30, tr. 654]. Ngược lại, có quan niệm lại cho rằng,
giữa con người và tự nhiên phải có mối quan hệ hòa hợp với nhau, con người phải coi
mình cũng là một bộ phận của giới tự nhiên và giới tự nhiên chính là thân thể vô cơ của
con người (C. Mác). Vì vậy:
Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ
xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự

tinh thần của họ và cần đến nó như một nhu cầu thực thụ.

Từ quan niệm trên, có thể hiểu: giá trị văn hóa sinh thái chính là những cái tốt,
cái đẹp, cái đúng, cái hợp lý mà con người sáng tạo ra và đã được thử thách trong thực
tiễn cải tạo và hòa nhập với tự nhiên của mỗi cộng đồng người. Do đó, bản thân giá trị
văn hóa sinh thái vừa mang tính khách quan, lại vừa mang tính chủ quan. Tính khách
quan của giá trị văn hóa sinh thái được thể hiện rõ nhất ở tính hợp lý của nó được cả
cộng đồng người thừa nhận và tuân theo trong quá trình tác động và biến đổi giới tự
nhiên của mình, ở các giá trị phổ quát về cái đúng, cái tốt, cái đẹp đối với tự nhiên đã
được kinh nghiệm toàn nhân loại chấp nhận. Song, các giá trị văn hóa sinh thái còn
mang tính dân tộc, tính giai cấp và tính thời đại nên trong một phạm vi nhất định, giá trị
văn hóa sinh thái còn mang tính chủ quan. Trong thực tế đã có những hiện tượng đối với
dân tộc, giai cấp và ở một thời đại nhất định được coi là giá trị văn hóa sinh thái, thì vẫn
những hiện tượng đó, nhưng đối với dân tộc, giai cấp và ở thời đại khác lại bị coi là
phản giá trị văn hóa sinh thái, là cái cổ hủ, lạc hậu, lỗi thời cần xóa bỏ. Trong lịch sử
loài người đã xảy ra rất nhiều hiện tượng như vậy, ví dụ như, tình trạng du canh du cư
trong canh tác ruộng đất nông nghiệp. ở thời kỳ cổ đại do dân số còn ít, rừng nguyên
sinh còn rất nhiều và do khoa học chưa phát triển nên hình thức du canh du cư còn
mang tính hợp lý và phù hợp với thời đại lúc đó, vì đây là một biện pháp hữu hiệu để cải
tạo đất đai nhằm bù đắp lại độ màu mỡ cho đất đai trong điều kiện con người chưa có
khả năng sản xuất và sử dụng phân bón và các hợp chất vi sinh khác để cải tạo đất. Lúc
đó, hình thức du canh du cư là một phương thức thích ứng của con người với tự nhiên
và nó có giá trị nhất định. Nhưng ở thời kỳ hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ và với tình trạng rừng bị tàn phá nặng nề thì hình thức du canh du
cư đã trở nên lạc hậu, đó là một sự phản giá trị văn hóa sinh thái mà con người cần phải
loại bỏ.
Để sinh tồn, con người ở thời đại nào cũng đều phải có sự gắn bó chặt chẽ với
tự nhiên, tác động và cải biến tự nhiên theo mục đích, nhu cầu của mình. Vì vậy, có các
giá trị văn hóa sinh thái đã được con người sáng tạo ra từ lâu đời và được chuyển giao
từ thế hệ này sang thế hệ khác, nó đã trở thành các giá trị văn hóa sinh thái truyền


nhiên. Cũng cần phải nhận thức được rằng, nhân văn và sáng tạo trong văn hóa sinh thái
là hai mặt có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Nếu thiếu một mặt nào hoặc quá nhấn mạnh
một mặt nào trong hai mặt đó đều dẫn tới xã hội sẽ mất đi sự cân đối cần thiết giữa cái
cơ sở vật chất - kỹ thuật và ý nghĩa cao quý của con người. Đây là một vấn đề có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay khi mà cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ hiện đại đang để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới môi trường
sinh thái.
Ba là, nó phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các giá trị chân - thiện - mỹ trong
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên:
Cái chân trong văn hóa sinh thái được hiểu như là cái đúng, cái được kiểm soát
bằng lý trí, bằng khoa học, bằng pháp luật và bằng các quy luật của tự nhiên. Nó được
biểu hiện ở sự thực hiện nghiêm túc, tự giác các điều kiện bảo vệ môi trường được xây
dựng trên nền tảng các quy luật của giới tự nhiên. Cái chân trong văn hóa sinh thái còn
là cái thực dụng trong quan hệ của con người với tự nhiên. Nó được biểu hiện ở sự tận
dụng những lợi thế của tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống con người một cách tự giác,
phù hợp với các quy luật của tự nhiên.
Cái thiện trong văn hóa sinh thái được hiểu đó chính là tình yêu, sự tôn trọng và
bảo vệ các điều kiện thiên nhiên cần cho sự sống, không gây ô nhiễm môi trường,
không phá hoại cảnh quan, không khai thác, sử dụng đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, là cách ứng xử thân thiện với môi trường thiên nhiên;
Cái mỹ trong văn hóa sinh thái được hiểu đó chính là tôn trọng vẻ đẹp, là sự kết
hợp khéo léo và hài hòa giữa các vật thể văn hóa với vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên, nói
theo C. Mác là cải tạo thiên nhiên theo quy luật của cái đẹp.

Bản thân giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải hội tụ được cả ba cái chân -
thiện - mỹ, và giữa ba cái này phải có sự thống nhất biện chứng không tách rời nhau. Vì
vậy, trong giá trị văn hóa sinh thái truyền thống, người ta chỉ có thể tính đến tính ưu tiên
tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể chứ không thể duy nhất hóa hay tuyệt đối hóa một
cái nào cả. Đây là một vấn đề có ý nghĩa to lớn trong thời đại hiện nay khi mà cuộc cách

được phát triển cho phù hợp với thời đại mới. Vì vậy, các giá trị văn hóa sinh thái
truyền thống đã được truyền lại và kế thừa từ đời này sang đời khác theo tinh thần vừa
lặp lại với một tần số nhất định vừa được cải tiến từng bước, từng lúc, từng nơi.
1.1.2. Các hình thức biểu hiện chủ yếu của giá trị văn hóa sinh thái
Giá trị văn hóa sinh thái thường được biểu hiện ra bên ngoài dưới các hình thức
chủ yếu sau:
 Trong văn hóa sinh thái vật thể
- Kiến trúc:
Tất cả các công trình kiến trúc như đền đài, cung điện, công trình lịch sử, nhà
ở, đều thể hiện rõ nét cái chân, cái mỹ trong đó, bởi vì trong quá trình xây dựng, con
người luôn tính toán phải làm sao phù hợp được với điều kiện tự nhiên và môi trường
xung quanh để đem lại hiệu quả cao nhất cho con người trong khi sử dụng. Khi thiết kế
và xây dựng các công trình kiến trúc, con người bao giờ cũng phải chú ý đến một số
điểm cơ bản như: đặt hướng chính, hình dáng tổng thể, thiết kế xung quanh, trang trí nội
thất, kết cấu vật liệu, sao cho phù hợp với điều kiện địa lý, mặt bằng xây dựng, điều
kiện về khí hậu, ánh sáng, và còn phải tạo ra được sự tương xứng cân đối, hài hòa
giữa các công trình đó với cảnh quan xung quanh như một chỉnh thể thống nhất. Những
công trình này không những phải đúng, bền về nội dung mà còn phải đẹp, hài hòa về

hình thức. Bên cạnh đó, nó còn thể hiện được sự tôn trọng đối với các điều kiện sống
của con người, góp phần nâng cao chất lượng sống của con người về mọi mặt.
- Trang phục:
Có thể nói trang phục là một trong những hình thức biểu hiện rõ nhất của văn
hóa sinh thái. Thông qua các trang phục của con người, cái chân, cái mỹ bộc lộ rõ nét.
Từ quần áo đến những đồ dùng kèm theo như khăn cuốn, thắt lưng, một mặt, nó đã
thể hiện được sự hiểu biết về môi trường và khả năng vận dụng những điều kiện cụ thể
của môi trường vào công việc thiết kế trang phục của con người sao cho vừa phù hợp
với hoàn cảnh vừa tạo điều kiện tốt nhất, thoải mái, dễ chịu nhất trong sinh hoạt hàng
ngày cũng như trong các hoạt động khác nhau của họ; mặt khác, nó còn thể hiện rõ năng
khiếu thẩm mỹ, sự sáng tạo và sự khéo léo của con người trong quá trình vươn tới cái

điều kiện tự nhiên khác nhau thì nhu cầu năng lượng và điều kiện chế biến sẽ khác
nhau. Điều này đã thể hiện rõ sự thích ứng của con người đối với hoàn cảnh tự nhiên cụ
thể nhằm đảm bảo sự tốt nhất và sự thuận tiện nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Hơn nữa,
con người còn biết sử dụng những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên phục vụ cho công
việc nấu ăn nhằm tăng thêm tính hấp dẫn, vẻ đẹp thẩm mỹ trong nghệ thuật ăn uống.
Đây cũng là một nét đặc trưng của văn hóa ẩm thực, một biểu hiện rõ nét của văn hóa
sinh thái. Con người muốn tồn tại và phát triển thì trước hết phải thỏa mãn những nhu
cầu về ăn, ở, mặc, nhưng do dân số tăng nhanh và do sự bừa bãi trong việc ứng dụng
những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại đã dẫn tới tình trạng thiếu hụt và ô
nhiễm lương thực, thực phẩm ở phạm vi toàn cầu. Từ đó đặt ra một vấn đề cấp bách là
con người phải tìm mọi cách khắc phục, nói cách khác là phải phát huy tính thiện của
mình trong ẩm thực.

- Các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất:
Để thỏa mãn các nhu cầu của con người trong sinh hoạt và sản xuất, nhất thiết
phải có những vật dụng nhất định với tư cách là công cụ lao động. Công cụ lao động
cũng là một nhân tố không thể thiếu trong hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, và
trình độ của công cụ lao động sẽ góp phần quyết định hiệu quả của hoạt động đó. Theo
lý thuyết, chính sự phát triển của khoa học - công nghệ sẽ quyết định trình độ của công
cụ lao động, nhưng trong thực tế, có khi lại không phải như vậy. Trình độ và đặc biệt là
cấu trúc, hình dáng của các công cụ lao động lại còn phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên
cụ thể. Con người ngoài sự vận dụng thành tựu của khoa học công nghệ, còn phải chú ý
tới điều kiện tự nhiên của nơi mình sinh sống để từ đó tạo ra được những công cụ lao
động phù hợp, có như vậy mới đạt được hiệu quả cao nhất trong thực tiễn. Ngoài tính
thực dụng, con người với tư duy sáng tạo của mình, còn chú ý đến tính thẩm mỹ trong
việc chế tạo ra các đồ dùng trong sinh hoạt và sản xuất. Các vật dụng này không những
phải có ích lợi lớn mà còn phải có cả tính hài hòa cao, và đặc biệt nó không được gây ra
ô nhiễm môi trường cũng như phá hoại cảnh quan xung quanh.
 Trong văn hóa sinh thái phi vật thể
- Đạo đức sinh thái

Để có lối sống sinh thái lành mạnh, con người trước hết trong suy nghĩ, tư
tưởng của mình phải có quan điểm đúng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đó

là quan điểm "Thiên - Nhân hợp nhất", con người phải có ý thức sống hòa mình với tự
nhiên, không chấp nhận tư tưởng coi con người là trung tâm của vũ trụ, có quyền uy tối
cao đối với tự nhiên và được phép khai thác tự nhiên một cách bừa bãi.
Trên cơ sở có quan điểm đúng đối với tự nhiên, con người sẽ có những hành vi
ứng xử đúng đắn đối với tự nhiên. Trong hoạt động thực tiễn của mình, con người lúc
nào cũng phải tôn trọng vẻ đẹp của tự nhiên cũng như những quy luật vốn có của nó.
Mọi hành vi của con người ngoài việc tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội còn phải chú ý
tới hiệu quả về mặt sinh thái, việc phát triển kinh tế - xã hội phải đi liền với việc nâng
cao chất lượng môi trường sống. Vì vậy, con người có lối sống sinh thái không chỉ dừng
lại ở việc mọi hành vi phải nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên mà còn thể hiện ở khả
năng tái tạo, mở rộng và nâng cao chất lượng cũng như vẻ đẹp của nó.
Cùng với lối sống, nếp nghĩ, các phong tục tập quán cũng là một biểu hiện của
văn hóa sinh thái. Mặc dù chỉ là một sự cưỡng chế mặc nhiên không thành văn nhưng
sức mạnh của phong tục, tập quán rất lớn vì nó gắn liền với lối sống của cộng đồng và
ăn sâu vào tiềm thức của mọi người. Cái được coi là phong tục, tập quán, thói quen,
trước hết cũng phải gắn liền và phù hợp với những điều kiện tự nhiên, hay có thể nói do
điều kiện tự nhiên quy định và được dư luận xã hội bảo vệ.
Thông qua những điều hạn chế, cấm kỵ, không được làm của con người đối với
tự nhiên, cũng như những quy định chung cho con người trong quan hệ với tự nhiên
mang tính khuôn thước của cộng đồng, các phong tục tập quán đã góp phần định hướng
cho các ứng xử, hành vi của mọi thành viên trong cộng đồng mang đậm tính sinh thái.
Chính những phong tục, tập quán này một mặt thể hiện rõ nội dung của văn hóa sinh
thái, mặt khác còn góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức sinh thái cho mọi người.
- Các tác phẩm văn học và các hình thức nghệ thuật

Có thể khẳng định rằng, văn hóa nghệ thuật là một hình thức biểu hiện tiêu
biểu, điển hình, rõ nét của văn hóa. Chính vì vậy, đôi khi có người còn đồng nhất văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status