DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban Chấp hành Trung ương
BCHTW
Chính trị Quốc gia
CTQG
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Mặt trận Tổ quốc
MTTQ
Nhà xuất bản
Nxb
Uỷ ban nhân dân
sắc dân tộc của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng văn
hóa tiên tiến đậm đà bẳn sắc dân tộc
Chương 2 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
2.1.
Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng
43
54
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1997-2010)
Một số kinh nghiệm
2.2.
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
54
65
78
80
87
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu
tranh kiên cường trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước cả cộng đồng, dân
tộc qua nhiều thế hệ. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng nền
văn hoá đặc sắc, trong đó độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nền
tảng cốt lõi của nền văn hoá Việt Nam.
Ngày nay, trong giai đoạn cách mạng mới đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá mở rộng hợp tác quốc tế, chúng ta đang có nhiều thuận lợi cho
phát triển đất nước và dân tộc, song cũng đang phải đối đầu với nhiều nguy cơ
thách thức, mà một trong những nguy cơ đó là sự mai một giá trị truyền thống
và bản sắc văn hoá dân tộc. Vì vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài có tính cấp thiết và quyết định sự tồn
vong của dân tộc.
Cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc, Hà Nam là một tỉnh có
truyền thống văn hoá lâu đời, yêu nước và cách mạng, là vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng và bán sơn địa đã tạo ra bản sắc riêng của người Hà
Nam; đức quả cảm, trí thông minh và hiếu học; cần cù và sáng tạo trong lao
động; giàu nghị lực. Hà Nam là quê hương của những nhà văn, nhà thơ nổi
tiếng như Nguyễn Khuyến, Nam Cao… Với truyền thống lịch sử văn hoá đó,
người Hà Nam ngày nay tự hào, tự tin cùng với Nhân dân cả nước vững bước
đi lên con đường đổi mới xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Từ đó,
xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nội
dung quan trọng mà Nhân dân Hà Nam đã và đang phấn đấu xây dựng.
Quán triệt chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, Đảng bộ tỉnh Hà Nam đã xác định xây dựng và phát triển
văn hoá là một chủ trương chiến lược trong thời kỳ mới; là nhân tố quan
trọng, góp phần tạo nên sự ổn định về tư tưởng, chính trị, xã hội và thúc đẩy
4
5
hóa – Thông tin, Hà Nội. Trịnh Thị Hòa (2009), “Bảo tồn và phát huy giá trị di
tích trong bối cảnh hội nhập và phát triển’, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2 .
Nguyễn Quốc Hùng (2008), “Vai trò của di sản văn hóa trong sự phát triển ở
nước ta hiện nay”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Lưu Trần Tiêu (2011), “Mấy
vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản
văn hóa, số 3; Hoàng Tuấn Anh (2009), “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa – cơ hội mới, thách thức mới”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3; Đoàn Bá Cử
(2009), “Làm gì để nâng cao chất lượng tu bổ, bảo tồn, tồn tạo di tích lịch sử văn
hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3.
Trịnh Đức Thành (2001), “Bảo tồn văn hoá dân tộc trước xu thế hội
nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản số 21; Nguyễn Công Thái (2004), “Văn hoá
trong xây dựng nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Giáo
dục lý luận, Số 6; Mai Thị Hạnh (2005), “Sự cần thiết phải xây dựng thiết kế
văn hoá”, Tạp chí Cộng sản số 18; Đoàn Bá Cử ( 2011), “Công tác tu bổ di
tích – thực tiễn và quản lý nhà nước”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Đặng
Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là hoạt động có
tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2; Luật di sản văn
hóa Việt Nam và Nghị định ban hành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2005; Phan Ngọc (2004), “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội; Luật Di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi bổ sung
năm 2009, Nxb Lao động, Hà Nội, 2009; Hà Văn Tấn (2005), “Bảo vệ di
tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4; Lê Thành Vinh (2005),
“Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững”, Tạp chí Di
sản văn hóa, số 41; Trần Quốc Vượng (2003), “Văn hóa Việt Nam tìm tòi
và suy ngẫm”, Nxb Văn học, Hà Nội; Trịnh Thị Hòa ( 2009), “Vài suy nghĩ
thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đề tài đã khẳng
định sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy nền văn hóa nói chung và giá trị
văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai nói riêng trong điều kiện kinh tế
thị trường, tác giả đã đưa ra được những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy giá
7
trị văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia lai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu
mới chỉ tập trung luận giải về lý luận, chưa đi sâu phân tích làm rõ nguyên
nhân, thực trạng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Gia Lai.
Văn hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội (1994), Chương trình KHCN
cấp Nhà nước KX - 01- 06, Hà Nội. Công trình khoa học nghiên cứu về văn
hóa và sự phát triển kinh tế- xã hội rất cơ bản và hệ thống, đã tập trung phân
tích làm sáng tỏ vai trò của văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Công trình khoa học đã thống kê, cung cấp một hệ
thống số liệu khách quan, chính xác và đã đề xuất những nhóm giải pháp cơ
bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế - xã hội
trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên, phạm vi của công trình khoa học chỉ
giới hạn giải quyết mối quan hệ văn hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì
vậy, chưa nghiên cứu sâu về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với việc
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Đây là nguồn tài liệu tham khảo để bổ
sung, kiểm chứng và đối chiếu những tài liệu mà tác giả sử dụng trong luận
văn. “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng nền văn hoá tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới 1986 – 2001” của Mai Văn
Khoảng, 2002; “Đảng bộ tỉnh Nam Định xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc từ năm 1997 – 2006” của Nguyễn Khánh Điệp 2007...
Đây là những công trình nghiên cứu văn hóa trong một số vùng miền và
địa phương trong cả nước, đã toát nên tính đa dạng, phong phú và thống nhất
Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc. Ngoài ra,
còn sử dụng một số phương pháp khác như: So sánh, thống kê, lịch đại, đồng đại…
6. Ý nghĩa của đề tài
- Kết quả đạt được của đề tài góp phần hệ thống hoá các quan điểm, chủ
trương của Đảng và quá trình vận dụng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo
xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Tỉnh.
- Góp phần khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Nam trên lĩnh vực văn hoá trong công cuộc đổi mới, mở rộng giao
lưu văn hoá quốc tế, giữ gìn và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc của Tỉnh.
- Luận văn là tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng ở
các nhà trường trong và ngoài quân đội.
10
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM
XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN
TỘC TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Yêu cầu khách quan Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo xây dựng
nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam tác động đến
xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Hà Nam thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trên toạ độ 20 o vĩ Bắc và
giữa 105o - 110o kinh độ Đông, trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, là cái
nôi văn hoá lúa nước. Phía Bắc giáp với Thành phố Hà Nội, phía Đông giáp
với tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh Nam Định và
chuyển biến căn bản từ nền kinh tế thuần nông nhỏ lẻ, manh mún sang
nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu kinh tế chuyển biến rõ rệt, tỷ
trọng công nghiệp, xây dựng từ dưới 20% năm 1997 đã tăng lên 50,2%
GDP và tương ứng tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thủy sản từ 49,6% đã giảm
xuống 20% GDP năm 2011. Cùng với đó thu nhập bình quân đầu người
và thu ngân sách địa phương cũng tăng nhanh. Năm 2011, thu nhập bình
quân đầu người đạt 21,1 triệu đồng (tương đương 1.055 USD), tăng 10
lần so với năm 1997, bằng 78% cả nước.Tổng vốn đầu tư phát triển trên
địa bàn năm 2011 là 11,5 ngàn tỷ đồng, gấp gần 20 lần năm 1997, gấp
6,8 lần năm 2005. Đã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung của
tỉnh và cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đã xuất hiện những cơ sở
công nghiệp có ý nghĩa quan trọng về điện tử, cơ khí, vật liệu xây dựng,
dệt may, chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, kết cấu hạ tầng từng
bước được hoàn thiện.
12
Năm 1997, tỉnh Nam Hà tách ra thành tỉnh Hà Nam và Nam Định. Hiện
nay, tỉnh Hà Nam có 5 huyện và 1 thành phố, gồm 116 xã phường, thị trấn,
tổng dân số có 83 vạn người, diện tích tự nhiên 851 km 2, mật độ bình quân
1038 người/km2.
Dân số Hà Nam phân bố không đều trên địa bàn. Tỷ lệ tăng dân số của
Tỉnh tương đối nhanh; sự di dân tập trung nhiều ở các thành phố, thị trấn, khu
công nghiệp. Về tôn giáo, trong tỉnh có ba tôn giáo chính là: Công giáo, Tin lành
và Phật giáo, có khoảng trên 20 vạn tín đồ tôn giáo, chiếm 26 % tổng dân số;
có 379 chức sắc các tôn giáo, 762 cơ sở thờ tự tôn giáo (530 chùa, 224 nhà
thờ, 07 nhà nguyện, 09 nhà dòng đạo công giáo, 01 nhà thờ đạo tin lành).
Hoạt động tôn giáo, nhìn chung tuân thủ pháp luật; quan hệ giữa tổ chức, cá
nhân tôn giáo đối với hệ thống chính trị ở các cấp theo hướng tích cực.
nền văn hóa độc lập tự chủ từng bước khẳng định và phát triển. Văn hóa Hà
Nam cũng như cả nước thời kỳ này có tính cách dân gian sâu sắc, phản ánh
mạnh mẽ ý thức độc lập tự chủ của Nhân dân ta lúc bấy giờ. Giáo dục chưa
phát triển. Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo cùng song song tồn tại nhưng Nho
giáo chưa thịnh hành, Phật giáo có thế lực hơn cả, chiếm vị trí quan trọng
trong xã hội. Hiện tại, trong các địa phương của Hà Nam còn lưu lại những
dấu vết của phật giáo thế kỷ X. Sự tích chùa cổ Khánh Linh ở Liêm Tiết Thanh Liêm cho biết thời Tiền Lê đã có người về đây lập chùa thờ Phật. Các
hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian ở Hà Nam thời đó tương đối phong phú
như hát chèo, bơi thuyền, nhảy múa...
Thời Lý - Trần, Hà Nam cũng như các nơi khác trong cả nước, thời kỳ
này Phật giáo rất thịnh đạt. Chùa tháp mọc lên khắp nơi, tiêu biểu là chùa và
bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh (Duy Tiên). Đây là công trình kiến trúc phật
giáo lớn có giá trị. Cùng với bảo tháp, chùa Đọi đã trở thành một trong những
trung tâm Phật giáo lớn của Đại Việt thời bấy giờ. Văn nghệ dân gian cũng để
lại nhiều dấu ấn. Thời kỳ này ở Hà Nam xuất hiện nhiều điệu múa hát dân
gian rất đặc sắc như hát Lải Lèn ở Lý Nhân, hát Dậm ở Kim Bảng.
14
Văn hóa Hà Nam thời Lê sơ thế kỷ XV, giáo dục thi cử ở Hà Nam có
bước phát triển, đặc biệt vào thời Lê Thánh Tông (1460- 1497). Ở các làng
xã, việc giáo dục theo hình thức hương sư, gia sư rất được chú ý. Văn học chữ
Hán, chữ Nôm đều có bước phát triển, các danh sĩ nổi tiếng thời này
như Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Thuấn Du, Nguyễn Như Lâm, Hoàng
Mông... cùng nhiều người khác để lại những tác phẩm văn học có giá trị
ca ngợi tình yêu quê hương đất nước.
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX trong bối cảnh chung xã hội
Việt Nam có nhiều biến động, nhưng truyền thống hiếu học, việc giáo
dục thi cử ở Hà Nam vẫn được phát huy. Thời kỳ này văn học Hà Nam
Các giá trị văn hoá phải được bảo tồn và phát triển. Ý thức được tầm
quan trọng đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ, quân
dân Hà Nam luôn giữ gìn, bảo tồn, không ngừng bồi đắp và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong mỗi vùng quê.
1.1.2. Thực trạng văn hoá tỉnh Hà Nam trước 1997
Về thành tựu và nguyên nhân
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Hà Nam đã
góp phần vào xây dựng và phát triển nên văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
Trước năm 1997, Hà Nam thuộc tỉnh Nam Hà, Đảng bộ tỉnh và Đảng bộ
các địa phương luôn coi trọng lãnh đạo xây dựng giữ gìn bản sắc văn hoá của
Tỉnh nên đã đạt được một số thành tựu nhất định.
Công tác xây dựng giữ gìn bản sắc văn hóa ở Hà Nam có nhiều chuyển
biến tích cực, với phương châm lấy cơ sở làm mục tiêu hoạt động chính, từng
bước đổi mới và hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá từ tỉnh tới cơ sở, góp
phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống
của nhân dân. Theo báo cáo tổng kết công tác văn hóa của Sở văn hóa thông
tin số 227/BC-VHTT ngày 22/11/1997: Toàn tỉnh Hà Nam đã công nhận
16
128.900 gia đình văn hoá, 211 làng, khu phố văn hoá cấp huyện, trong đó có
51 làng, khu phố văn hoá cấp tỉnh.
Các lễ hội văn hoá truyền thống của tỉnh như: lễ hội đền Trúc và hát
Dậm Quyển Sơn, xã Thi Sơn huyện (Kim Bảng), Lễ hội Tịch Điền Đọi
Sơn, (Duy Tiên), lễ hội đền Lảnh Giang (Duy Tiên). Hội vật võ Liễu Đôi,
Thanh Liêm, cùng hàng trăm lễ hội khác được cấp uỷ Đảng quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo tổ chức hoạt động đúng hướng góp phần giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc.
trình độ học vấn của Nhân dân.
Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật của Tỉnh trên các lĩnh vực là nhân tố
tích cực góp phần quan trọng vào sự phát triển của Tỉnh. Nhiều đề tài khoa học,
ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp, y tế, giáo dục bước đầu phát huy tác dụng tốt. Cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động khoa học từng bước được tăng cường.
Văn học nghệ thuật, nhất là văn nghệ quần chúng phát triển rộng ở nhiều
địa phương, cơ sở góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.
Hằng năm tỉnh và các huyện thị đều tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng;
phong trào ca hát mới và hát Dậm Quyển Sơn, hát Lải lèn, hát Chèo…, các
loại hình nghệ thuật sân khấu sáng tác… được chú ý khuyến khích, phát triển.
Đội ngũ văn nghệ sĩ của Tỉnh có nhiều cố gắng trong hoạt động sáng tác, sưu
tầm, nghiên cứu nên đã có một số tác phẩm có giá trị được trao giải thưởng
của các hội văn nghệ Trung ương.
Thực tiễn thông qua trao đổi, giao lưu văn hóa trong và ngoài nước đã tạo
cho tỉnh những bài học kinh nghiệm trong phát triển và xây dựng văn hóa,
đồng thời tạo điều kiện mọi người hưởng thụ những cái hay, cái đẹp, cái tiên
tiến trong văn hóa đa dạng. Tỉnh tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học,
hội diễn, trao đổi hoạt động văn hóa trong vùng Đồng bằng Bắc bộ.
Thông tin đại chúng của tỉnh có bước phát triển, Báo Hà Nam đã chú trọng
đổi mới cả về nội dung hình thức, chất lượng từng bước được nâng lên; đài
phát thanh truyền hình tỉnh và hệ thống các đài trạm tiếp sóng ở các huyện, thị
18
xã, hệ thống truyền thanh ở cơ sở có cố gắng trong hoạt động đạt nhiều kết quả.
Đội thông tin lưu động của Tỉnh và các huyện, thị xã đã có nhiều hình thức
hoạt động phong phú nhằm đưa thông tin đến tận cơ sở, Tạp chí của Hội văn
nghệ, của Sở văn hoá Thông tin và các tạp chí, bản tin chuyên ngành khác ở địa
triển mạnh mẽ và bền vững.
Sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ từ Tỉnh đến cơ sở, nhận thức của mọi
công dân và lực lượng chuyên trách về chủ trương, lợi ích, quyền lợi đối
quê hương ngày càng đầy đủ hơn, tích cực hưởng ứng, tham gia các hoạt
động, phong trào do Đảng bộ, chính quyền các địa phương phát động, tự
nguyện rèn luyện, sống có trách nhiệm, nghĩa tình... đây cũng là hệ quả
của phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong những năm qua.
Ba là, Đảng bộ, UBND Tỉnh đã có định hướng đúng đắn và từng
bước hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Với cách nhìn toàn diện về giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Đảng bộ,
UBND Tỉnh đã xác định rõ mối quan hệ giữa xây dựng nền văn hóa tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc với phát triển kinh tế, xã hội; thấy được vai trò, nguồn
lực nội sinh của văn hóa với sự phát triển đất nước. Vì vậy, quá trình xây
dựng, phát triển đất nước, cũng chính là quá trình Đảng bộ, UBND Tỉnh xác
định, bổ sung và từng bước hoàn thiện chủ trương, chính sách về xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên địa bàn Tỉnh, đáp ứng yêu
cầu đòi hỏi của thực tiễn đang đặt ra.
Hạn chế và nguyên nhân
Tư tưởng đạo đức và lối sống là vấn đề bức xúc trên lĩnh vực tư
tưởng văn hoá trong đội ngũ cán bộ, nhân dân, nhất là lớp trẻ. Có một bộ
phận nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn hạn chế; mất cảnh giác trước âm
mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.
Hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống và các biểu hiện khác nhau của
chủ nghĩa cá nhân, bản vị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân,
đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Một số tệ nạn như ma tuý,
20
21
vấn đề đó có tác động, ảnh hưởng xấu đến tâm tư, tình cảm, lối sống và ý thức
của một số cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong Tỉnh.
Trong cơ chế thị trường và hội nhập với thế giới, bên cạnh những
tác động tích cực còn bộc lộ những mặt tiêu cực ảnh hưởng đến đời
sống xã hội, làm tha hoá đạo đức, lối sống… Trong một bộ phận cán
bộ, đảng viên và Nhân dân. Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn tăng
cường thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” chống phá trên
lĩnh vực tư tưởng, văn hoá.
Nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể về văn hoá chưa
đầy đủ, còn có biểu hiện “khoán trắng” cho ngành văn hoá. Do vậy, việc quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo còn hạn chế. Bên cạnh đó công tác giáo dục, chính trị, tư tưởng,
đạo đức lối sống của các cấp uỷ Đảng chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hoá, nhất là quản lý và giữ
gìn văn hoá truyền thống còn tình trạng buông lỏng, chưa kịp thời uốn nắn
những lệch lạc mới phát sinh. Chưa có chính sách khuyến khích động viên
những người có thành tích xuất sắc trong hoạt động văn hoá nghệ thuật, chính
sách ưu tiên cho các văn nghệ sĩ…
Đội ngũ những người làm công tác văn hoá, văn nghệ ít được chăm lo
bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức chính trị, nghiệp vụ chuyên môn (kể cả
các lớp năng khiếu).
1.1.3. Đặc điểm thời kỳ mới và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc (1997 – 2010)
*Đặc điểm thời kỳ mới
Cuối thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình thế
giới và trong nước có nhiều biến động mau lẹ và khó lường. Trên thế
giới, cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc diễn ra gay gắt và phức tạp giữa
nền tảng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cốt lõi của nền tảng tinh
thần đó là giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống và tiên tiến của nhân loại;
là hệ thống hiến pháp và pháp luật, là tư tưởng đề cao luật pháp. Thực tiễn thế
23
giới hội nhập càng sâu rộng thì sự xung đột về văn hóa càng phức tạp, nó đã
đẩy các dân tộc vào các cuộc xung đột vũ trang với mục đích là bảo tồn
những giá trị văn hóa truyền thống. Hội nhập trong đó có hội nhập văn hóa
chúng ta phải luôn đề cao những giá trị truyền thống, ngày càng xây dựng và
bồi đắp những giá trị văn hóa truyền thống, đề cao bản sắc văn hóa Việt. Với
quan điểm chúng ta không khép kín, mà luôn mở rộng giao lưu văn hóa đón
nhận cái hay, cái đẹp cái tiên tiến từ các nền văn hóa của các nước khác, làm
đậm đà hơn bản sắc cốt cách, tâm hồn dân tộc Việt Nam, đồng thời kiên quyết
ngăn chặn những giá trị văn hóa không phù hợp với thuần phong mỹ tục của
người Việt.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “ Ta phải giữ cốt cách dân tộc,
còn phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, có cái gì tốt là phải học lấy
để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa
xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy
Việt” [39, tr.245]. Tư tưởng của Người đã được Đảng Cộng sản Việt Nam kế
thừa và vận dụng sáng tạo trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa để “ hội
nhập mà không hòa tan”. Đại hội IX của Đảng xác định:
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù
hợp theo định hướng XHCN. Phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
vững. Tăng cường kinh tế đi liền với phát triển văn hoá từng bước cải
Nam vào tình thế bất ổn. Các thế lực thù địch lợi dụng, thực hiện chiến lược
“diễn biến hoà bình” chúng tấn công trên mặt trận tư tưởng văn hoá, xuyên
tạc những giá trị văn hoá tiên tiến và truyền thống của dân tộc, tuyên truyền
những lối sống thực dụng, hưởng thụ, tạo nên một lớp người có khuynh
hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc, sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi
thường các giá trị nhân văn. Trong quá trình đổi mới đất nước cũng nảy sinh
25