đảng bộ tỉnh hải dơng lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997 đến 2004
Hà Nội 2005
đảng bộ tỉnh hải dơng lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997 đến 2004
Hà Nội 2005
MụC LụC
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: Đảng bộ tỉnh Hải Dơng lãnh đạo thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
trong những năm đầu thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2000) 7
1.1. Một số đặc điểm cơ bản và thực trạng cơ cấu kinh tế nông
nghiệp tỉnh Hải Dơng trớc năm 1997 7
1.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dơng quán triệt chủ trơng của Đảng
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở địa phơng
20
(1997 - 2000)
Chơng 2: quá trình lãnh đạo thực hiện đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của Đảng bộ tỉnh Hải Dơng (2001 - 2004) 73
2.1. Chủ trơng của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 73
2.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dơng lãnh đạo thực hiện đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội IX (2001 - 2004) 78
HĐH là yêu cầu không thể thiếu, tạo ra sự ổn định trong đời sống chính trị, xã
hội, an ninh, quốc phòng của đất nớc.
Hải Dơng là một tỉnh có tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên,
đất đai và du lịch. Đồng thời, đây còn là mảnh đất "Địa linh nhân kiệt", có
nhiều di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng nh: Côn Sơn - Kiếp Bạc, làng nghề
truyền thống với những đặc sản nổi tiếng nh bánh đậu xanh ở thành phố Hải
Dơng, vải thiều Thanh Hà, gốm Cậy - Bình Giang, gốm Chu Đậu - Nam
sách, Hải Dơng còn nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc và tam
giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (tháng 1/1997)
đến nay, Đảng bộ tỉnh Hải Dơng đã có những quan điểm mới đúng đắn, với t
duy kinh tế năng động, nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh và truyền thống
vẻ vang của quê hơng, thu hút mạnh nguồn vốn từ trong và ngoài nớc, từng b-
ớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phơng theo hớng CNH, HĐH. Hải Dơng
đang đợc biết đến nh một vùng kinh tế khởi sắc và hứa hẹn phát triển mạnh
mẽ trong tơng lai không xa.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là kinh
tế nông nghiệp vẫn cha phát huy hết tiềm năng to lớn mà vẫn đang còn những
khó khăn, hạn chế, phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh, cha đáp ứng
đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh.
Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những nguyên nhân của mặt
mạnh, mặt tồn tại để từ đó đa ra những giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hớng CNH, HĐH ở một địa phơng, vì vậy tác giả đã
chọn đề tài: "ng b tnh Hi Dng lónh o chuyn dch c cu kinh t
nụng nghip theo hng cụng nghip húa, hin i húa t 1997 n 2004"
làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu
về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta. Tiêu biểu là một số công trình sau: GS.
Đỗ Đình Giao: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hóa nền
Đảng, đợc thể hiện bằng các đờng lối, chính sách phát triển kinh tế và sự vận
dụng đờng lối, chính sách đó vào các địa phơng cụ thể.
Tuy nhiên, đây là vấn đề rất lớn và phong phú, vẫn còn nhiều nội dung
cụ thể mà các nhà nghiên cứu cha đề cập tới, nhất là cha có công trình khoa
học nào đi sâu nghiên cứu quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ tỉnh Hải Dơng theo hớng CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
+ Góp phần làm rõ đờng lối, quan điểm của Đảng về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng CNH, HĐH và quá trình Đảng bộ tỉnh Hải
Dơng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.
+ Khẳng định những kết quả đạt đợc, những tồn tại, hạn chế và những
vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện. Từ đó, rút ra một số kinh
nghiệm, nhằm phát huy tốt hơn nữa việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của tỉnh Hải Dơng trong sự nghiệp CNH, HĐH.
+ Cung cấp thêm căn cứ khoa học làm cơ sở cho việc đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh.
- Nhiệm vụ
+ Trình bày hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dơng vận dụng quan
điểm, đờng lối của Đảng lãnh đạo thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp từ 1997 đến 2004 theo hớng CNH, HĐH.
+ Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, kết quả của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến 2004 theo hớng
CNH, HĐH ở địa phơng Hải Dơng.
+ Bớc đầu rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất một số kiến nghị, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dơng trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo đờng lối của Đảng trong những
năm tiếp theo.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dơng trong việc thực
CƠ Cấu KINH Tế NÔNG Nghiệp trong những năm đầu
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2000)
1.1. Một số đặc điểm cơ bản và thực trạng cơ cấu kinh tế
nông nghiệp tỉnh Hải Dơng trớc năm 1997
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.1.1.1. Vị trí địa lý - kinh tế của tỉnh
Hải Dơng là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Từ ngàn xa nơi
đây đã là lá chắn cửa ngõ phía Đông của kinh thành Thăng Long. Trải qua bao
biến thiên của lịch sử, đất và ngời Hải Dơng luôn kiên cờng trong đấu tranh,
cần cù và sáng tạo trong lao động, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ đất nớc Việt Nam.
Hải Dơng tiếp giáp với 6 tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái
Bình, Hng Yên và Hải Phòng. Trên địa bàn, nhiều trục giao thông quốc gia
quan trọng chạy qua, với chất lợng tốt nh: đờng 5, đờng 18, đờng 183 thuận
lợi cho việc giao lu, trao đổi với bên ngoài. Thành phố Hải Dơng - trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của tỉnh - nằm trên trục quốc lộ
số 5, cách Hải Phòng 45 km về phía Đông và cách Thủ đô Hà Nội 57 km về
phía Tây. Phía Bắc của tỉnh có hơn 20 km quốc lộ số 18 chạy qua nối sân bay
quốc tế Nội Bài ra biển qua cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Đờng sắt Hà Nội -
Hải Phòng, Kép - Bãi Cháy đi qua Hải Dơng là cầu nối giữa Thủ đô và các
tỉnh phía Bắc ra các cảng biển.
Là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm ở vị trí
có nhiều hớng tác động mang tính liên vùng, Hải Dơng có vai trò quan trọng
làm cầu nối Thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, thành phố du lịch
Hạ Long; cung cấp sản phẩm hàng hóa quan trọng và là địa bàn tham gia quá
trình trung chuyển hàng hóa giữa hệ thống cảng biển và các thành phố, các
tỉnh trong vùng và cả nớc; do vậy, vừa có cơ hội đóng vai trò là một trong
những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách thức trong cạnh
tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Trong triển vọng,
Hải Dơng sẽ phải trở thành trọng điểm thu hút đầu t phát triển công nghiệp,
không tốt đến sản xuất và dân sinh. Độ ẩm không khí trung bình cao từ 78-
87%, tháng 3- 4 với độ ẩm trung bình từ 90-92%.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của tỉnh thuận lợi cho sự phát triển hệ
sinh thái động thực vật cũng nh các hoạt động sản xuất, dịch vụ và du lịch.
Đặc biệt, điều kiện khí hậu vào mùa đông rất thuận lợi cho việc phát triển cây
rau, màu, thực phẩm, nhất là khả năng trồng rau xuất khẩu.
Tài nguyên đất: Năm 2004, diện tích tự nhiên của tỉnh là 164.837 ha,
trong đó đất nông nghiệp chiếm 63,3%; đất lâm nghiệp chiếm 6,08%, đất
canh tác 46,2%; đất ở 6,87%; đất cha sử dụng 7,47%.
Đất đồng bằng chiếm khoảng 89% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là
đất phù sa sông Thái Bình, thuận tiện cho việc thâm canh và sản xuất nhiều
loại cây trồng cho năng suất cao. Trên một số diện tích đất canh tác thuộc các
huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành đã trồng luân
canh đợc 3 - 4 vụ trong một năm, do vậy, nâng hệ số quay vòng đất của tỉnh từ
2 - 4 lần hiện nay lên 2,7 - 2,8 lần trong các năm tới là hớng khai thác có hiệu
quả nguồn đất đang sử dụng.
Đồi núi chiếm khoảng 11% diện tích tự nhiên, nằm gọn ở phía Đông
Bắc thuộc hai huyện Chí Linh và Kinh Môn. Nhóm đất này nghèo dinh dỡng,
tầng mặt mỏng, nghèo mùn, độ phì thấp, chủ yếu phù hợp trồng các loại cây
lấy gỗ, cây ăn quả nh vải thiều, dứa, cây công nghiệp nh lạc, chè
Tài nguyên nớc: Hệ thống sông ngòi khá dầy đặc, bao gồm hệ thống
sông Thái Bình, sông Luộc, các sông trục Bắc Hng Hải và An Kim Hải, có
khả năng bồi đắp phù sa đồng ruộng, cung cấp nguồn nớc cho nhu cầu sản
xuất của các ngành, đồng thời cũng là những tuyến giao thông thủy, tạo điều
kiện cho việc giao lu hàng hóa trong tỉnh, cũng nh giữa Hải Dơng với các tỉnh
khác trong vùng. Tuy nhiên, sông ngòi nhiều thờng gây nên úng lụt, rất khó
khăn trong việc phòng chống lụt và ảnh hởng không nhỏ đến sản xuất, đời
sống dân sinh.
Cùng với nguồn nớc mặt khá phong phú trong hệ thống các sông ngòi
lớn, nhỏ, hồ, đầm và kênh, mơng phân bố khắp trên địa bàn, trữ lợng nớc
ngời anh hùng dân tộc Trần Hng Đạo; hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi
Dơng Nham gắn liền với những trang sử hào hùng chống quân Nguyên của
nhân dân ta.
Các huyện thuộc vùng đồng bằng cũng có tiềm năng du lịch phong
phú nhờ có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, làng quê trù phú, mang đậm nét
đặc trng của văn hóa Bắc Bộ: khu miệt vờn vải thiều Thanh Hà nổi tiếng với
cây vải tổ; làng Cò, Chi Lăng Nam - huyện Thanh Miện, Văn miếu Mao Điền
- huyện Cẩm Giàng, gốm Chu Đậu - huyện Nam Sách
Trên địa bàn tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa cách mạng, các làng
nghề, các lễ hội truyền thống, ẩm thực, các giá trị truyền thống và hiện đại khác
làm phong phú thêm nguồn tài nguyên du lịch của Hải Dơng, tạo tiền đề phát
triển ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong tơng lai.
1.1.1.3. Đặc điểm về dân số, dân c, nguồn nhân lực và các vấn đề xã
hội
Dân số toàn tỉnh năm 2004 là 1.698.262 ngời; tỷ lệ tăng bình quân là
0,53%, mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 1.029 ngời/km
2
. Cơ cấu dân số
Hải Dơng thể hiện dân số trẻ, năm 2004 dân số trong độ tuổi lao động (chiếm
55,23% tổng dân số).
Cùng với phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, dân số thành thị tăng nhanh:
năm 2004 dân số thành thị gần gấp đôi so với năm 1996. Tỷ trọng dân số đô
thị trong tổng số dân số cao hơn các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (trừ Hà
Nội, Hải Phòng). Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển, khả năng đô thị hóa,
tạo việc làm và tổ chức các hoạt động phi nông nghiệp còn rất chậm.
Đặc điểm dân c và phân bố dân c: Dân số nông thôn chiếm tỷ trọng cao
(86% tổng dân số), chủ yếu làm nông nghiệp, giàu truyền thống yêu nớc, có bề
dày văn hóa, khéo tay. Ngoài canh tác lúa nớc, dân c Hải Dơng còn nổi tiếng với
các nghề truyền thống nh kim hoàn, chạm khắc gỗ, chế biến bánh kẹo
Trong bối cảnh phát triển mới, c dân trong tỉnh vừa cố gắng gìn giữ
Số lao động hằng năm tăng lên nhanh trung bình khoảng 6.000 ngời/năm.
Nếu cộng cả số lao động còn dôi d và thiếu việc làm, thì vấn đề giải quyết việc
làm đặt ra là một bài toán rất khó khăn của địa phơng. Trong khi đó các ngành
công nghiệp thiên về các công nghệ hiện đại sử dụng nhiều vốn.
Việc cải thiện bất hợp lý trong chuyển dịch cơ cấu lao động là rất khó
khăn vì trong nền kinh tế thị trờng luôn diễn ra cạnh tranh gay gắt. Mặt khác,
trong tiến trình CNH, HĐH, nhu cầu nâng cao năng suất lao động dẫn đến
việc đào thải lực lợng lao động không có kỹ năng và chất lợng thấp, tạo ra thất
nghiệp, trong khi khả năng đào tạo và đào tạo lại kỹ năng cho hàng loạt lao
động hiện tại đang còn gặp nhiều khó khăn (Phụ lục 3).
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản về tự nhiên - kinh tế - xã hội của
tỉnh Hải Dơng, những đặc điểm đó có tác động rất lớn, là cơ sở để Đảng bộ
tỉnh hoạch định chủ trơng, chính sách đúng đắn trong quá trình lãnh đạo
chuyển dịch kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói
riêng theo hớng CNH, HĐH.
1.1.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hải
Dơng trớc năm 1997
Trớc năm 1997, Hải Dơng nằm trong tỉnh Hải Hng. Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Hải Hng lần thứ VII (tháng 5/1996) đã đánh giá những thành tựu
kinh tế nổi bật trong 5 năm 1991 - 1995 của Hải Hng là: đã thoát ra khỏi suy
thoái, tuy còn một số mặt cha vững chắc. Các chơng trình kinh tế - xã hội triển
khai sớm và thực hiện có hiệu quả. Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP tăng bình
quân 9,3%. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 94,78 triệu đô la. Năm 1995 thu nhập
bình quân đầu ngời 256 đô la. Cơ cấu kinh tế từng bớc chuyển dịch theo hớng
CNH, HĐH, tỷ trọng nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ đạt 45% -
25% - 30%. Trong đó nông nghiệp Hải Hng có tốc độ tăng 7,43%. Sản lợng lơng
thực bình quân 1,1 triệu tấn/năm; riêng năm 1995 đạt 1,3 triệu tấn, năng suất lúa
đạt 103 tạ/ha, lơng thực bình quân đầu ngời là 485kg/năm. Chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp đã đa dạng và phong phú, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích
đạt 26 triệu đồng/ha. Tỷ trọng nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản là 48% - 24%
ơng 5 khóa VII (6/1993) Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn và Luật Đất đai năm 1993 thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngày càng đợc mở rộng rất đa dạng, phong phú.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hải Dơng cũng chuyển dịch từ độc
canh lơng thực sang nền nông nghiệp hàng hóa đa canh phù hợp với đặc điểm
từng vùng.
Đối với vùng ven đô, ven thị: Từ ngày hộ nông dân đợc xác định là
đơn vị kinh tế tự chủ, đợc giao quyền sử dụng lâu dài, họ đã thực sự yên tâm,
phấn khởi sản xuất, tìm tòi và áp dụng nhiều biện pháp thâm canh mới, điều kiện
thời tiết lại tơng đối thuận lợi, do đó Hải Dơng đợc mùa liên tiếp, lơng thực vợt
"cửa ải" 1 triệu tấn, năm 1993 đạt 1,25 triệu tấn và năm 1995 đạt 1,31 triệu tấn,
giải quyết đợc vấn đề lơng thực, ngời nông dân không còn lo nghĩ thiếu đói, họ
nghĩ ngay đến việc sản xuất lơng thực hàng hóa cung cấp cho thị trờng. Xu hớng
là thu hẹp diện tích gieo trồng lơng thực chuyển sang cơ cấu mới: cây ăn quả,
cây dợc liệu, cây cảnh và chăn nuôi nh nuôi lợn, gà công nghiệp Đối với thủy
sản: phát triển nuôi cá, ba ba Điển hình của loại hình này là xã Mễ Sở huyện
Châu Giang bình quân ruộng đất chỉ đạt 396 m
2
/ngời, năm 1989 tổng diện tích
trồng lúa là 194 ha nhng đến năm 1993 chỉ còn 12 ha trồng lúa, 72 ha ngô, còn
đại bộ phận diện tích đất trồng lúa đã chuyển đổi sang trồng hoa và cây cảnh.
Với cách làm trên, xã Mễ Sở đã tạo ra bớc phát triển mới đa giá trị thu nhập
trên 1 ha đất từ 5 - 7 triệu đồng/năm lên đến 30-50 triệu đồng/năm, từ chỗ
thừa lao động đến thiếu lao động và sử dụng lao động nơi khác đến, đời sống
vật chất và tinh thần của ngời dân ngày càng nâng cao.
Đối với vùng đất trũng: với cơ cấu hai vụ lúa bấp bênh, năng suất thấp,
đợc nông dân đầu t công sức cải tạo đất, đào ao, lập vờn hình thành cơ cấu
mới: vải thiều - chuối - nuôi cá - nuôi ong. Chuyển dịch cơ cấu theo hớng này đ-
ợc mở rộng ở các huyện Cẩm Bình, Nam Thanh, Tứ Lộc Việc chuyển dịch cơ
cấu theo hớng mới có tác dụng hình thành một mô hình canh tác nông nghiệp
Theo tính toán của ngời dân có kinh nghiệm cho biết:
Đầu t vốn cố định (thời giá năm 1993)
Lập vồng: 600.000 đ/sào
Giống cây vải: 50.000 đ/sào
Tổng chi: 650.000 đồng/sào.
Đầu t vốn lu động trong ba năm đầu:
Cá giống: 45.000đ x 3 năm = 135.000 đ/ 3 năm
Chi khác cho nuôi cá: 10.000đ x 3 năm = 30.000 đ/ 3 năm
Phân bón cho cây vải: 20.000đ x 3 năm = 60.000 đ/ 3 năm
Trồng xen: 18.000đ x 3 năm = 54.000 đ/3 năm
Tổng chi: 279.000 đ
Đầu t vốn lu động trong 7 năm tiếp theo:
Chi nuôi cá: 55.000đ x 7 = 385.000 đ
Chi phân bón cây vải: 20.000 x7 = 140.000 đ
Tổng chi: 525.000 đ
- Chi giao nộp trong 10 năm:
- Thuế: 20 kg thóc x 1.100đ/kg x 10 năm = 220.000 đ
Tổng chi 10 năm:
650.000đ + 279.000đ + 525.000đ + 220.000đ = 1.674.000 đ
Bình quân 1 năm là 167.400 đ.
Thu:
Quả vải: 5 cây x 40kg x 5.000đ x 7 năm = 7.000.000 đ
Thu trồng xen 3 năm đầu: = 420.000 đ
Thu về cá: 50kg x 5.000đ x 10 năm = 2.500.000 đ
Tổng thu 10 năm: = 9.920.000 đ
Tổng thu 1 năm = 992.000 đ
Kết quả: Lãi 1 năm 992.000 đ - 167.400 đ = 824.600 đ
1 đồng vốn bỏ ra 1 năm thu đợc 6 đồng. So với trồng lúa thì 1 sào vải
thiều thu gấp 6,3 lần so với 1 sào lúa.
Nh vậy, hớng chuyển đổi từ ruộng trũng cấy lúa bấp bênh năng suất
hiện Chơng trình 327 của Chính phủ, đến cuối năm 1996 trồng mới hơn 4.000
ha rừng, 2.000 ha vờn đồi chủ yếu là trồng vải thiều.
Đánh giá chung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hải
Dơng trớc 1997 tuy diễn ra sôi động, đa dạng, bớc đầu đạt một số kết quả, nh-
ng cha đều. Vai trò lãnh đạo của cấp ủy cơ sở nói chung còn yếu nên phong
trào có phần mang tính tự phát, rập khuôn và chứa nhiều yếu tố rủi ro.
Sản xuất phân tán, manh mún, trình độ công nghệ trong nông - lâm
-thủy sản lạc hậu, khả năng cạnh tranh nông sản thấp, giá thành cao.
Cơ sở hạ tầng nông thôn còn yếu kém và cha đáp ứng đợc yêu cầu của
một nền nông nghiệp hàng hóa sản xuất lớn.
Quan hệ sản xuất ở nông thôn chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng dẫn
đến trì trệ, hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế thấp.
Quản lý nhà nớc trong lĩnh vực nông nghiệp còn có những yếu kém.
1.2. Đảng bộ tỉnh Hải Dơng quán triệt chủ trơng của
Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở địa phơng
(1997 - 2000)
1.2.1. Chủ trơng của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông
nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hớng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
1.2.1.1. Chủ trơng của Đảng về phát triển nông nghiệp
Ngay từ những năm đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng ta, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin
vào điều kiện thực tế của nớc ta về CNXH và con đờng tiến lên CNXH. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đặc điểm lớn nhất của nớc ta trong thời kỳ quá độ
là từ một nớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải trải qua
giai đoạn phát triển t bản chủ nghĩa. Các Đại hội của Đảng tiếp sau đã khẳng
định, từng bớc làm rõ thêm đặc điểm to lớn đó, lấy đó làm cơ sở để định ra đ-
ờng lối chiến lợc, trong đó có đờng lối kinh tế cho cách mạng Việt Nam.
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III sau khi phân tích tình
hình trong nớc và thế giới, đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lợc của cách mạng
tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.
Năm 1975, miền Nam nớc ta đợc hoàn toàn giải phóng là một bớc
ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng đại của cả dân tộc ta, mở ra giai đoạn mới của
cách mạng Việt Nam. Nớc ta từ chỗ bị chia cắt và chiến tranh ác liệt, lâu dài
chuyển sang gia đoạn mới, đó là cả nớc độc lập, thống nhất. Tình hình mới
của đất nớc sau giải phóng đặt ra cho Đảng ta trách nhiệm phải bổ sung và
hoàn chỉnh đờng lối, nhằm chuyển cuộc cách mạng cả nớc, đồng thời xác định
nhiệm vụ cụ thể phù hợp với đặc điểm từng miền. Để đáp ứng yêu cầu đó, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) đã đề ra đờng lối
chung và đờng lối xây dựng kinh tế trong giai đoạn cách mạng mới ở nớc ta.
Đặc biệt, Đại hội đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm lần thứ hai
(1976-1980) là: tập trung lực lợng phát triển nông nghiệp một cách toàn diện,
mạnh mẽ và vững chắc; đồng thời đẩy mạnh lâm nghiệp, ng nghiệp và công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai, Ban
Chấp hành Trung ơng Đảng đã họp Hội nghị lần thứ hai (7/1977), với chủ tr-
ơng: Tập trung cao độ lực lợng cả nớc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển
nông nghiệp.
Hội nghị vạch rõ: trong những năm trớc mắt, phải phát triển vợt bậc
sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp, giải quyết cho đợc vấn đề lơng
thực, thực phẩm, tạo ra những điều kiện vật chất thuận lợi để xây dựng cơ sở
vật chất, kỹ thuật của CNXH, đồng thời cải thiện một bớc đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân.
Nhân dân ta bớc vào kế hoạch 5 năm lần thứ hai với những thuận lợi
rất cơ bản: lực lợng lao động dồi dào; tiềm lực to lớn của nền kinh tế cả nớc đã
thống nhất; sự giúp đỡ và hợp tác kinh tế, kỹ thuật của cả nớc XHCN và các n-
ớc dân chủ tiến bộ trên thế giới, sự nhất trí về chính trị, tinh thần và khí thế
phấn khởi của toàn dân sau khi đã chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lợc Bên cạnh
những thuận lợi ấy, đất nớc ta còn có rất nhiều khó khăn do hậu quả nặng nề hơn
30 năm chiến tranh khốc liệt của chế độ thực dân cũ và mới để lại, đòi hỏi chúng
ta phải khắc phục trong thời gian dài. Trong khi đó, những nhu cầu bức thiết của
đổi cơ chế quản lý HTX, xác định vai trò, vị trí của ngời lao động.
Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí th Trung ơng Đảng (1981) là chính
sách lớn của Đảng đối với nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1981 - 1987. Chỉ
thị đặt ra mục tiêu: Đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu
quả kinh tế; củng cố và tăng cờng quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn; nâng
cao thu nhập và đời sống của xã viên, tăng tích lũy HTX; làm tròn nghĩa vụ và
tăng khối lợng nông sản cung cấp cho Nhà nớc. Điểm mấu chốt của Chỉ thị
100 là thực hiện khoán sản phẩm với việc:
- Xác định lại về tổ chức quản lý và phân công lại lao động trong HTX.
- Xóa bỏ phân phối theo ngày công thả nổi, chuyển sang phân phối
theo ngày công kế hoạch trên cơ sở định mức kinh tế, kỹ thuật. Thu nhập của
xã viên bao gồm phần thu trong khoán và toàn bộ phần thu vợt khoán.
Chỉ thị 100 ra đời đã tạo ra động lực mới khuyến khích lợi ích vật chất
đối với ngời nhận khoán. Do vậy, chỉ sau 1 năm, hầu hết các HTX, tập đoàn
sản xuất trong cả nớc đã triển khai thực hiện. Nông dân phấn khởi đầu t thêm
công sức, tiền vốn, vật t, áp dụng tiến bộ KH-CN, tận dụng đất đai để phát
triển sản xuất mà trớc hết là lơng thực. Nhờ đó sản xuất phát triển, số lợng l-