LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997 đến 2004 - Pdf 15

LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ
1997 đến 2004

Mở Đầu


Bình Giang, gốm Chu Đậu - Nam sách, Hải Dương còn nằm trong khu vực kinh tế
trọng điểm phía Bắc và tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Trong sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh (tháng 1/1997) đến nay, Đảng
bộ tỉnh Hải Dương đã có quan điểm mới đúng đắn, với tư duy kinh tế năng động, nhằm
phát huy tiềm năng, thế mạnh và truyền thống vẻ vang của quê hương, thu hút mạnh
nguồn vốn từ trong và ngoài nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa
phương theo hướng CNH, HĐH. Hải Dương đang được biết đến như một vùng kinh tế
khởi sắc và hứa hẹn phát triển mạnh mẽ trong tương lai không xa.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông
nghiệp vẫn chưa phát huy hết tiềm năng to lớn đang còn những hạn chế và phải đối mặt
với nhiều vấn đề mới nảy sinh, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
của tỉnh.
Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những nguyên nhân của mặt mạnh, mặt tồn
tại để từ đó đưa ra những giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng CNH, HĐH ở một địa phương. Do đó tác giả đã chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa từ 1997 đến 2004" làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Tiêu biểu là một số công trình sau:
- GS. Đỗ Đình Giao (1994), "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá nền kinh tế quốc dân", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- TS. Đặng Văn Thắng, TS. Phạm Ngọc Dũng (2003), "Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế công, nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng thực trạng và triển vọng", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Sinh Cúc (2003), "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới",
Nxb Thống kê, Hà Nội.
- PGS. TS Vũ Năng Dũng (chủ biên) (2001), "Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh và
thành phố", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

Nghiên cứu sự lãnh dạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc thực hiện chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh từ 1997 đến 2004.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời có sử dụng kết quả
nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít. Luận văn sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp lô gíc, phương pháp phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận
văn còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, điều tra xã hội học để trình bày làm
rõ nội dung.
+ Nguồn tư liệu, luận văn chủ yếu dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương và các báo cáo hàng
quý, hàng năm của các Sở, ban, ngành, đặc biệt là của Sở Nông nghiệp và Cục Thống
kê tỉnh Hải Dương.
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Trình bày một cách tương đối hệ thống và toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH,
HĐH từ 1997 đến 2004.
- Chỉ rõ thành tựu, hạn chế của quá trình đó, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm
từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các
ngành có liên quan, góp phần tổng kết thực tiễn gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng trên một địa bàn cụ thể, trong một lĩnh vực nhất định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn

hệ thống cảng biển và các thành phố, các tỉnh trong vùng và cả nước, do vậy, vừa có cơ
hội đóng vai trò là một trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách
thức trong cạnh tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Trong triển
vọng, Hải Dương sẽ phải trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp,
dịch vụ, thương mại, giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phố lớn và trở
thành một trong các đô thị lớn trong vùng.
Theo kết quả điều tra của Vụ Kinh tế địa phương, Bộ Kế hoạch và đầu tư về một
số chỉ tiêu năm 2004 như sau:
Biểu 1.1: Một số chỉ tiêu so sánh của tỉnh Hải Dương, vùng đồng bằng sông Hồng
và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trong mối quan hệ
với cả nước (cả nước =100%)

Hải Dương Vùng ĐBSH Vùng KTTĐBB
Dân số 2,1 21,9 16,3
GDP, giá HH 1,76 22,5 18,8
GDP/người 85,3 95,9 111,3
Nguồn: Số liệu năm 2004 của Vụ Kinh tế địa phương, Bộ KH&ĐT.
Như vậy, với 2,1% dân số, tổng GDP của Hải Dương mới chỉ đạt 1,76% của cả nước,
do vậy GDP bình quân đầu người của tỉnh thấp hơn mức trung bình của cả nước. Hải
Dương hiện đứng thứ tư trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cả về tổng
GDP và GDP bình quân đầu người. Điều này thể hiện vị thế hiện tại của tỉnh chưa tương
xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển đối với một tỉnh đang ở vị trí cầu nối đối với các
cực phát triển của cả nước.
Biểu 1.2: Tổng GDP và GDP bình quân đầu người các tỉnh vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ năm 2004, tính theo giá hiện hành
lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Với địa hình này, Hải Dương có
khả năng phát triển mạnh và đa dạng các ngành sản xuất, nhất là sản phẩm nông, lâm
nghiệp.
Khí hậu: Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, được
chia thành 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23
o
C, thuận lợi cho cây trồng
sinh trưởng. Lượng mưa trung bình hằng năm 1.500-1.700 mm, phân bố không đều, tập
trung vào tháng 6, 7, 8, dễ gây úng lụt, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và dân sinh.
Độ ẩm không khí trung bình cao từ 78-87%, tháng 3- 4 với độ ẩm trung bình từ 90-
92%.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu của tỉnh thuận lợi cho sự phát triển hệ sinh thái
động thực vật cũng như các hoạt động sản xuất, dịch vụ và du lịch. Đặc biệt, điều kiện
khí hậu vào mùa đông rất thuận lợi cho việc phát triển cây rau, màu, thực phẩm, nhất là
khả năng trồng rau xuất khẩu.
Tài nguyên đất: Năm 2004, diện tích tự nhiên của tỉnh là 164.837ha, trong đó đất
nông nghiệp chiếm 63,3%; đất lâm nghiệp chiếm 6,08%, đất canh tác 46,2%; đất ở
6,87%; đất chưa sử dụng 7,47%.
Đất đồng bằng chiếm khoảng 89% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là đất phù sa
sông Thái Bình, thuận tiện cho việc thâm canh và sản xuất nhiều loại cây trồng cho
năng suất cao. Trên một số diện tích đất canh tác thuộc các huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Nam
Sách, Kinh Môn, Kim Thành đã trồng luân canh được 3- 4 vụ trong một năm, do vậy,
nâng hệ số quay vòng đất của tỉnh từ 2- 4 lần hiện nay lên 2,7 - 2,8 lần trong các năm
tới là hướng khai thác có hiệu quả nguồn đất đang sử dụng.
Đồi núi chiếm khoảng 11% diện tích tự nhiên, nằm gọn ở phía Đông Bắc thuộc 2
huyện Chí Linh và Kinh Môn. Nhóm đất này nghèo dinh dưỡng, tầng mặt mỏng, nghèo
mùn, độ phì thấp, chủ yếu phù hợp trồng các loại cây lấy gỗ, cây ăn quả như vải thiều,
dứa, cây công nghiệp như lạc, chè
Tài nguyên nước: Hệ thống sông ngòi khá dầy đặc, bao gồm hệ thống sông Thái
Bình, sông Luộc, các sông trục Bắc Hưng Hải và An Kim Hải, có khả năng bồi đắp phù sa

thắng Phượng Hoàng - Kỳ Lân là địa danh thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo
núi, tham quan di tích lịch sử; Khu du lịch danh thắng Côn Sơn là nơi cảnh đẹp thiên
nhiên-tâm linh gắn liền với cuộc đời của Anh hùng dân tộc-danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi và nhiều danh nhân đất Việt khác như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang,
đồng thời là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn-Yên Tử-Trúc
Lâm).
Kinh Môn thuộc vùng núi đá vôi với nhiều hang động kỳ thú. Nơi đây còn lưu lại
di tích của loài người thời đại đồ đá mới: Núi An Phụ với đền thờ An Sinh Vương Trần
Liễu (thân phụ Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo) trên đỉnh và tượng đài người Anh
hùng dân tộc Trần Hưng Đạo ở chân núi; hang động Kính Chủ và vùng núi đá vôi
Dương Nham gắn liền với những trang sử hào hùng chống quân Nguyên của nhân dân
ta.
Các huyện thuộc vùng đồng bằng cũng có tiềm năng du lịch phong phú nhờ có
cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, làng quê trù phú, mang đậm nét đặc trưng của văn hóa
Bắc Bộ: khu miệt vườn vải thiều Thanh Hà nổi tiếng với cây vải tổ; làng Cò (Chi Lăng
Nam - Thanh Miện), Văn miếu Mao Điền (huyện Cẩm Giàng), gốm Chu Đậu (huyện
Nam Sách)
Trên địa bàn tỉnh có nhiều di tích lịch sử văn hóa cách mạng, các làng nghề, các lễ
hội truyền thống, ẩm thực, các giá trị truyền thống và hiện đại khác làm phong phú thêm
nguồn tài nguyên du lịch của Hải Dương, tạo tiền đề phát triển ngành du lịch thành một
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh trong tương lai.
1.1.1.3. Đặc điểm về dân số, dân cư, nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội
Dân số toàn tỉnh năm 2004 là 1.698.262 người; tỷ lệ tăng bình quân là 0,53%, mật
độ dân số trung bình toàn tỉnh là 1.029 người/km
2
. Cơ cấu dân số Hải Dương thể hiện
dân số trẻ, năm 2004 dân số trong độ tuổi lao động (chiếm 55,23% tổng dân số).

Lao động có việc làm và đang làm việc ở các ngành trong nền kinh tế quốc dân
tăng khá, song cơ cấu còn bất hợp lý. Số lao động làm việc tại các ngành công nghiệp,
dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, trong khi số lao động khu vực nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỷ
trọng lớn. Sở dĩ có sự bất hợp lý này là do:
- Khả năng thu hút lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp
còn nhiều khó khăn, lao động có tay nghề có kỹ năng, được đào tạo trong các lĩnh vực
còn quá thấp, đặc biệt là khu vực nông thôn, khiến người lao động không hoặc khó có
cơ hội chuyển nghề, tìm việc làm mới hoặc chuyển nghề và phải chấp nhận các công
việc lao động giản đơn, truyền thống dựa hẳn vào đồng ruộng theo kiểu cha truyền con
nối. Theo điều tra năm 2003, lao động có trình độ từ sơ cấp đến công nhân kỹ thuật có
bằng trở lên chiếm 24,5%.
Số lao động hàng năm tăng lên nhanh trung bình khoảng 6.000 người/năm. Nếu
cộng cả số lao động còn dôi dư và thiếu việc làm, thì vấn đề giải quyết việc làm đặt ra là
một bài toán rất khó khăn của địa phương. Trong khi đó các ngành công nghiệp thiên về
các công nghệ hiện đại sử dụng nhiều vốn.
Việc cải thiện bất hợp lý trong chuyển dịch cơ cấu lao động là rất khó khăn vì
trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra cạnh tranh gay gắt. Mặt khác, trong tiến trình
CNH, HĐH, nhu cầu nâng cao năng suất lao động dẫn dến việc đào thải lực lượng lao
động không có kỹ năng và chất lượng thấp, tạo ra thất nghiệp, trong khi khả năng đào
tạo và đào tạo lại kỹ năng cho hàng loạt lao động hiện tại đang còn gặp nhiều khó khăn.
Biểu 1.3: Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực (%)
Cả
nước
ĐBSH
Hải
Dương
So với

61,9 0,275
3,3
20
76,37

3,93
11,7
2,63
14,47
- Lao động qua đào tạo
Không có chuyên môn kỹ thuật
Từ sơ cấp, học nghề
Từ bằng trung cấp, cao đẳng trở lên

78,85
9,05
11,83 75,5
7,05
17,45

3,35
- 2
5,62
Nguồn: Điều tra nguồn nhân lực năm 2003 của Tổng cục Thống kê.

phẩm nông nghiệp. Trong nhiều năm qua sản xuất nông nghiệp đã giải quyết đủ nhu cầu
lương thực, thực phẩm cho dân cư tại địa phương và có một khối lượng nông sản dư
thừa khá lớn. Nhưng việc tiêu thụ lượng nông sản này đang gặp khó khăn do nhiều
nguyên nhân như:
- Do chất lượng nông sản thấp; chưa tạo được các vùng chuyên canh, tập trung để
đáp ứng cho công nghiệp chế biến.
- Quy mô ruộng đất nhỏ, manh mún, do vậy khi tiến hành CNH, HĐH nông
nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
- Do nhận thức của nhà nông còn hạn chế để phòng ngừa rủi ro và bảo đảm tự túc
lương thực, thực phẩm cho nên họ đã lựa chọn mô hình đa dạng hoá sản xuất.
- Chưa có vùng nguyên liệu đủ tiêu chuẩn dẫn đến chưa có một mạng lưới chế
biến nông sản có công nghệ tiên tiến, hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực
và thế giới.
Từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 8 năm 1988) về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, giao quyền tự chủ sản xuất cho hộ nông dân, cho lưu thông lương
thực, giải phóng sức sản xuất, giải quyết thoả đáng các mối quan hệ sản xuất và lợi ích
của nông dân, nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng đã có bước
phát triển to lớn, bộ mặt nông nghiệp có nhiều thay đổi. Đặc biệt với đường lối Đại hội
VII (1991), cơ chế thị trường đã được khẳng định và đi vào cuộc sống, nhất là sau Nghị
quyết Trung ương 5 khoá VII (6/1993) "Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội
nông thôn" và Luật Đất đai năm 1993 thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng
được mở rộng rất đa dạng, phong phú.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Hải Dương cũng chuyển dịch từ độc canh lương
thực sang nền nông nghiệp hàng hóa đa canh phù hợp với đặc điểm từng vùng.
Đối với vùng ven đô, ven thị: Từ ngày hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh
tế tự chủ, được giao quyền sử dụng lâu dài, họ đã thực sự yên tâm, phấn khởi sản xuất,
tìm tòi và áp dụng nhiều biện pháp thâm canh mới, điều kiện thời tiết lại tương đối

nên nông dân đã phá một số vườn vải thiều để cấy lúa, đặc biệt thời tiết vụ đông xuân
trời âm u, mưa phùn nhiều, cây vải thiều rụng hoa nhiều mà đậu ít. Nông dân cho rằng
"Trời sinh, trời dưỡng" chủ yếu tập trung vào trồng ra hạt lúa, củ khoai, nên một thời
gian dài cây vải thiều đã bị bỏ quên. Do chủ trương đổi mới đúng đắn, một cơ chế đúng
đã thức dậy bao tiềm năng. Hàng hoá nông sản được giao lưu tự do, đặc biệt là áp dụng
KH-KT vào thâm canh vườn, phun thuốc đậu quả cho cây nên vải thiều đã thực sự
thành cây trồng đặc sản trong vườn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Thanh
Thuỷ. Vải thiều có thể dùng ăn tươi hoặc sấy khô, 1 kg vải thiều lúc thu hoạch rộ là
6.000-7.000 đồng. Lúc cuối vụ tới 25.000 đến 30.000 đồng, nếu được sấy khô thì càng
có giá trị cao hơn. Bằng kết quả thực tế: 1 sào vải thiều lúc khép tán sau 15 năm trồng
có 5 đến 6 cây. Chỉ tính là 2 năm được mùa 1 lần do hiện tượng "1 năm ăn quả, 1 năm
trả cành" thì 1 cây cho thu hoạch từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng. Như vậy 1 sào vải
sẽ cho thu nhập gấp nhiều lần cấy lúa. Nông dân lập vườn bằng cách đào đất hai bên
đắp vào giữa thành luống, bề mặt luống rộng khoảng 3 mét và cao hơn mặt ruộng
khoảng 0,5 đến 0,7 mét. Mối sào (360m
2
) thì trồng từ 5-6 cây. Xen kẽ giữa các luống là
những rãnh sâu thành ao để thá cá. Cây vải được trồng vào giữa luống. Lúc cây vải chưa
khép tán, trồng xen các cây như: quất, chuối, cam Với phương châm lấy ngắn nuôi
dài, dưới rãnh sẽ thả cá. Đây là mô hình có sức thu hút lới với đa số nông dân ở Thanh
Thuỷ nói riêng và Nam Thanh nói chung.
Theo tính toán của người dân có kinh nghiệm cho biết:
Đầu tư vốn cố định (Thời giá năm 1993)
Lập vồng: 600.000 đồng/sào.
Giống cây vải: 50.000 đồng/sào.
Tổng chi: 650.000 đồng/sào.
Đầu tư vốn lưu động trong ba năm đầu.
Cá giống: 45.000đ x 3 năm = 135.000đ/3 năm.
Chi khác cho nuôi cá: 10.000đ x 3 năm = 30.000đ/3 năm.
Phân bón cho cây vải: 20.000đ x 3 năm = 60.000đ/3 năm.

số huyện đã cấy lúa nếp hoa vàng, tám thơm bán ra thị trường với giá từ 5.000-7.000
đồng/1kg gạo, cao gấp hai lần giá gạo thường như huyện Kinh Môn, Cẩm Giàng Nhiều
nơi nông dân đã thay đổi hình thức luân canh trên một đơn vị diện tích để tìm kiếm lợi
nhuận, trước kia đầu tư luân canh hai vụ lúa chỉ cho giá trị từ 12 - 15 triệu đồng/ha. Cho
nên một số hộ nông dân ở xã Toàn Thắng (Gia Lộc) với công thức lúa + đậu tương + 2 vụ
bắp cải cho giá trị 55-57 triệu đồng/ha, xã Thạch Khôi (Gia Lộc) với cách chuyển đổi 3 vụ
rau giống + 2 vụ bắp cải + 1 vụ lúa xuân cho giá trị 100-105 triệu đồng/ha.
Về thuỷ sản: Hầu hết diện tích mặt nước trước đây nuôi cá quảng canh, thả rau
bèo hoặc bỏ hoang đã được các hộ thuê và đầu tư nuôi cá hoặc một số ruộng quá trũng,
trồng lúa thu hoạch bấp bênh, lỗ vốn, các địa phương đã cho thuê cải tạo thành ao thả
cá, trên bờ trồng cây ăn quả: chuối, chanh, vải, cam đã cho thu nhập từ 20 - 40 triệu
đồng/ha, cao gấp nhiều lần trồng lúa.
Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi: Thực tiễn ở Hải Dương cho thấy được mùa
lương thực thì cũng kéo theo chăn nuôi cũng phát triển, đàn lợn, trâu, bò, gia cầm đều
tăng. Chuyển dịch cơ cấu trong chăn nuôi trước hết là cải tạo và thay đổi giống, thay
giống đực ngoại, nuôi lợn thịt ngoại tăng, tỷ lệ trong lợn lai nhằm tăng trọng và tăng tỷ
lệ nạc, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, phát triển đàn bò lai Cùng với việc cải tiến cơ cấu
và khẩu phần thức ăn chăn nuôi, phương pháp chăn nuôi cũng thay đổi, nuôi lợn theo
phương pháp ủ men, mỗi hộ có thể nuôi hàng chục lợn thịt mỗi lứa và hàng nghìn con
gà công nghiệp Nhưng giá thành các sản phẩm chăn nuôi còn cao, do năng suất con
giống thấp, giá thành thức ăn gia súc cao và chưa tổ chức được vùng chăn nuôi hàng
hóa tập trung.
Về lâm nghiệp: Kinh tế đồi rừng được khuyến khích phát triển, thực hiện chương
trình 327 của Chính phủ đến cuối năm 1996 trồng mới hơn 4.000 ha rừng, 2.000 ha
vườn đồi chủ yếu là trồng vải thiều.
Đánh giá chung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hải Dương
trước 1997 tuy diễn ra sôi động, đa dạng, bước đầu đạt một số kết quả, nhưng chưa đều.

Trong đó chỉ rõ, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ
quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự
nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội III đã xác định: Công cuộc cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt nhằm
đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất sang nền
kinh tế dựa trên sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ
sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành
một nền kinh tế cân đối và hiện đại, làm cho miền Bắc tiến bộ mau chóng, thành cơ sở
ngày càng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.
ở nước ta Hồ Chủ tịch xác định: "Vì nước ta là một nước nông nghiệp, mọi việc
đều dựa vào nông nghiệp", cho nên "Các cơ quan Nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến
nông nghiệp, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của ngành mình trong sản xuất nông
nghiệp" [34, tr.415].
Đại hội đã nhấn mạnh một số quan điểm cơ bản như: Kết hợp cải tạo với xây
dựng, coi cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt của công
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó lấy cải tạo nông nghiệp làm khâu chính của
công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Hội nghị Trung ương 5 khoá III năm 1961 đã ra Nghị
quyết về vấn đề phát triển nông nghiệp, trong đó nêu lên phương án cải tiến công cụ và cơ
giới hoá nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Sau này các Hội nghị
Trung ương Đảng tiếp tục bổ sung và phát triển chủ trương, nhằm đẩy mạnh sản xuất
nông nghiệp.
Trong giai đoạn này Đảng và Nhà nước đã đầu tư hàng nghìn máy kéo lớn nhỏ,
hàng vạn động cơ điện, động cơ nổ, hàng triệu công cụ cải tiến phục vụ cho nông nghiệp,
tạo ra năng suất chất lượng cao, do đó từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, đặc biệt là người nông dân luôn phấn khởi, tin tưởng vào đường lối
của Đảng, sản xuất nông nghiệp để đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, ngay cả trong
điều kiện có chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở miền

Trong khi đó, những nhu cầu bức thiết của đời sống nhân dân đặt ra sau chiến tranh phải
giải quyết nhanh chóng, phải tổ chức lại nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu, dựa trên
sản xuất nhỏ là chủ yếu, tiến lên xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong cả
nước, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, vừa phải tích luỹ để xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải bảo đảm củng cố nền an ninh quốc
phòng. Đặc biệt trong giai đoạn này nước ta luôn phải chống lại với thiên tai khắc
nghiệt trong mấy năm liền làm cho sản xuất nông nghiệp bị thất thu lớn, những trận bão
lụt liên tiếp xảy ra trên cả hai miền Nam, Bắc trong năm 1978 làm cho sản lượng lương
thực thất thu tới 3 triệu tấn, các phương tiện sản xuất bị phá huỷ và hư hỏng nặng. Để
khắc phục, nhân dân ta đã nêu cao tinh thần tương thân, tương ái "Nhường cơm sẻ áo"
giúp đỡ lẫn nhau, vượt qua khó khăn và thử thách. Nhiều nhân tố mới, tích cực đã xuất
hiện trong sản xuất, xây dựng và chiến đấu. Trong ba năm 1976-1978 ngành nông
nghiệp đã có thêm gần một triệu héc-ta đất phục hoá và khai hoang. Để đẩy mạnh sản
xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách lớn như:
đầu tư làm thuỷ lợi, thực hiện cơ giới hoá nông nghiệp đưa hàng vạn máy kéo lớn nhỏ,
hàng chục vạn động cơ nổ các loại vào phục vụ sản xuất Mặc dù đã có nhiều cố gắng
trong phát triển kinh tế, song nền kinh tế nông nghiệp ở nước ta trong giai đoạn này rất
thấp, những năm 1976-1980 sản xuất nông nghiệp tăng 1,9%, trong khi đó dân số mỗi
năm tăng gần 1 triệu người, nông nghiệp phát triển chậm không theo kịp sự gia tăng dân
số nên đất nước thiếu lương thực, thực phẩm triền miên. Nông nghiệp chậm phát triển,
trong đó nguyên nhân chủ yếu là do chính sách và cơ chế quản lý đối với nông nghiệp
không khuyến khích và thúc đẩy sản xuất phát triển, trong nhiều năm nông nghiệp chưa
được đầu tư thích đáng, đúng với vị trí của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Trước tình hình cấp bách đó, đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương, chính sách đổi
mới trong kinh tế nông nghiệp. Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khoá IV) năm 1979 đã
khởi động với tư tưởng: làm cho sản xuất bung ra. Mở đầu là Chỉ thị 100 (1981) của
Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao

ộ)

Phân
chuồng
Phân
hoá học
Công lao
động
khoá
n (%)

Hải Hưng 192 42,6 124,7 27,5 23,2
Hải phòng 304 12,8 24,7 6,5 59,3
Hà Nam Ninh 128 10,3 34,7 23,2 24,2
Vĩnh Phúc 122 27,3 45,0 20,2 17,0
Thanh Hoá 265 34,0 34,4 32,0 27,5
Nguồn: Thực trạng nông nghiệp và nông dân Việt Nam 1976-1990, Nxb Thống
kê, Hà Nội, 1991.
Biểu 1.5: Kết quả tăng trưởng sản xuất nông nghiệp
TT Đơn vị
1976-
1980
1980-
1985
1
Tốc độ gia tăng giá trị sản lượng lương
thực
% 1,9 4,9
2 Riêng trồng trọt % 1,7 4,2
3 Tổng sản lượng lương thực 5 năm Triệu tấn 66,8 85,1

năng, nhằm phục vụ thiết thực và có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu
dùng, đáp ứng yêu cầu vừa bảo đảm tiêu dùng xã hội vừa có tích luỹ. Trên quan điểm
đó phải bố trí lại cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, quy định vị trí, nội dung và mức độ phát
triển các ngành kinh tế, kết hợp đúng đắn ngay từ đầu công nghiệp và nông nghiệp
trong một cơ cấu hợp lý. Đảng luôn trung thành và vận dụng sáng tạo có sự phát triển và
bổ sung lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào tình hình thực tiễn của cách mạng nước ta và
khẳng định: Trong đoạn đường đầu của thời kỳ quá độ việc đưa nông nghiệp một bước
lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chưa có đại công nghiệp, điều đó đòi
hỏi nông nghiệp phải tự vươn lên để nhanh chóng tạo ra nông sản xuất khẩu, để có nguồn
vốn, mở rộng sản xuất. Xuất phát từ cái sẵn có tự khả năng có thể huy động được ngay để
tạo ra nguồn vốn tích luỹ ban đầu cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đồng thời đáp ứng
được những nhu cầu cấp bách về đời sống nhân dân và an ninh quốc phòng.
Với chủ trương đúng đắn của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
và tiến bộ quan trọng, nhất là trong nông, lâm, thuỷ sản, đã đạt được tiến bộ rõ rệt.
Trong thời kỳ 1981-1985 nông nghiệp tăng bình quân hằng năm 4,9% so với 1,9% hằng
năm của thời kỳ 1976-1980, sản lượng lương thực tăng bình quân 17 triệu tấn/năm so
với 13,4 triệu tấn/năm. Thu nhập quốc dân tăng bình quân hằng năm 6,4% so với 0,4%.
Tuy vậy, trên thực tế những năm sau đó nông nghiệp vẫn chưa thực sự được coi là mặt
trận hàng đầu, không được đảm bảo những điều kiện cần thiết để phát triển, nhất là vật
tư, tiền vốn và chính sách khuyến khích. Vẫn bị coi nhẹ về tổ chức, đầu tư, chính sách.
Chính vì vậy mà nhiều khó khăn, mất cân đối trong nền kinh tế đã không giải quyết
được, thậm chí còn trầm trọng thêm. Do bao cấp nặng nề, sản xuất có tăng nhưng hàng
hóa vẫn thiếu nghiêm trọng, ngân sách thiếu hụt lớn, tỷ lệ lạm phát cao nếu lấy năm
1976 là 100% thì năm 1989 là 313,7% và năm 1986 là 774,7%. Đứng trước những khó
khăn, thách thức của cách mạng, Đảng ta đã quyết định tiến hành công cuộc đổi mới.
Thứ hai: Những quan điểm của Đảng về phát triển nông nghiệp trong thời kỳ
đổi mới

mức 398,3%. Vì vậy, đời sống của những người hưởng lương và trợ cấp xã hội giảm sút
mạnh. Nhiều xí nghiệp quốc doanh và HTX tiểu thủ công nghiệp đình đốn thua lỗ, sản
xuất cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa Đầu năm 1988 nạn đói xảy ra ở nhiều vùng
và năm 1988 nước ta vẫn phải nhập 45 vạn tấn lương thực. Những diễn biến quốc tế
phức tạp tác động xấu đến tình hình nước ta. Nước ta đã lâm vào tình trạng khủng
hoảng kinh tế-xã hội. Trong hoàn cảnh đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tỏ rõ bản
lĩnh vững vàng, phân tích rõ những nguyên nhân của khó khăn, nhất là những khuyết
điểm chủ quan như chậm tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ một số quan điểm và bước đi
trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước chậm cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối
của Đảng, sự chỉ đạo bộ máy của Đảng, Nhà nước còn nhiều thiếu sót. Nhận thức rõ
điều đó, Đảng và Nhà nước ra sức khắc phục khó khăn, giữ vững ổn định chính trị, giải
quyết những vấn đề kinh tế-xã hội cấp bách, từng bước đưa Nghị quyết Đại hội VI vào
cuộc sống.
Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã tập trung bàn và
quyết định những chủ trương quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Nhằm đưa nước ta
thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội. Trong đó Nghị quyết 10 của Bộ Chính
trị, khoá VI (5-4-1988) có thể coi là mốc đánh dấu sự thay đổi về tư duy kinh tế của
Đảng, là bước ngoặt quan trọng trong phát triển của nền nông nghiệp nước ta. Nghị
quyết 10 nhằm thực sự giải phóng sức sản xuất; phát huy mọi tiềm năng của các thành
phần kinh tế, giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là lợi ích chính đáng
của người sản xuất, Nghị quyết đã khẳng định:
Thừa nhận sự tồn tại lâu dài, bình đẳng của các thành phần kinh tế quốc doanh,
tập thể, tư nhân, cá thể.
Hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tổ chức kinh tế tự nguyện của nông dân, có tư
cách pháp nhân. HTX và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế tự quản, tự xác định
hình thức, quy mô, phương hướng sản xuất, phương thức kinh doanh.
Hoàn thiện việc khoán đến hộ, ổn đinh lâu dài diện tích giao khoán từ 10 đến 15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status