LUẬN VĂN:Đảng bộ tỉnh Hải Dương lónh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Đảng bộ tỉnh Hải Dương lónh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa từ 1997 đến 2004 Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan trọng trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta. Từ đó đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam luôn không
ngừng bổ sung, phát triển và từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới. Công cuộc đổi mới là
một cuộc cách mạng mới mẻ, mỗi bước đi là một sự tìm kiếm và khám phá, đổi mới là
phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu tất yếu của đất nước, đáp ứng đúng nguyện vọng
của nhân dân.
Trong bối cảnh hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN), kinh tế tri

nghiệp CNH, HĐH của tỉnh.
Nhằm đánh giá đúng thực trạng và tìm ra những nguyên nhân của mặt mạnh, mặt
tồn tại để từ đó đưa ra những giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
theo hướng CNH, HĐH ở một địa phương, vì vậy tác giả đã chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh
Hải Dương lónh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa từ 1997 đến 2004" làm luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Tiêu biểu là một số công trình sau: GS. Đỗ Đình Giao:
"Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân", Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; GS.TS Trần Ngọc Hiên: "Mối quan hệ công - nông
nghiệp - dịch vụ trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta", Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1997; TS. Đặng Văn Thắng, TS. Phạm Ngọc Dũng: "Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng thực trạng và triển vọng",
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Nguyễn Sinh Cúc: "Nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam thời kỳ đổi mới", Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003; PGS.TS Vũ Năng Dũng (Chủ biên):
"Nông nghiệp Việt Nam 61 tỉnh và thành phố", Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2001; Chu
Hữu Quý, Nguyễn Kế Tuấn (đồng Chủ biên): "Con đường công nghiệp hóa, hiện hóa
nông nghiệp và nông thôn", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Ngoài ra, còn khá nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề này:
Luận án tiến sĩ Lịch sử của Lê Văn Thai: "Quá trình hình thành và phát triển đường lối
đổi mới trong nông nghiệp của Đảng (1975 - 1996)", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 1997; Luận án tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Việt Hùng: "Đảng bộ Thành phố
Hồ Chí Minh lãnh đạo nông dân ngoại thành phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng
nông thôn (1986 -1996)", Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001; Luận án tiến
sĩ Kinh tế của Phạm Ngọc Dũng: "Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công - nông
nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng - thực trạng và giải pháp", Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 2002; Luận văn thạc sĩ Lịch sử của Phạm Công Thỉnh: "Đảng bộ Thái

+ Làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, kết quả của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến 2004 theo hướng CNH, HĐH ở địa
phương Hải Dương.
+ Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo đường lối của Đảng trong những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong việc thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh từ 1997 đến 2004.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời có sử dụng kết quả
nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít. Luận văn sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, phương pháp phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn
còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, điều tra xã hội học để trình bày làm rõ
nội dung.
+ Nguồn tư liệu, luận văn chủ yếu dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương và các báo cáo
hằng quý, hằng năm của các sở, ban, ngành, đặc biệt là của Sở Nông nghiệp và Cục
Thống kê tỉnh Hải Dương.
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Trình bày một cách tương đối hệ thống và toàn diện quá trình Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
CNH, HĐH từ 1997 đến 2004.
- Chỉ rõ thành tựu, hạn chế của quá trình đó, bước đầu rút ra một số kinh nghiệm
từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương.

Là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm ở vị trí có nhiều
hướng tác động mang tính liên vùng, Hải Dương có vai trò quan trọng làm cầu nối Thủ
đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, thành phố du lịch Hạ Long; cung cấp sản
phẩm hàng hóa quan trọng và là địa bàn tham gia quá trình trung chuyển hàng hóa giữa

hệ thống cảng biển và các thành phố, các tỉnh trong vùng và cả nước; do vậy, vừa có cơ
hội đóng vai trò là một trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách
thức trong cạnh tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế. Trong triển
vọng, Hải Dương sẽ phải trở thành trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch
vụ, thương mại, giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phố lớn và trở thành
một trong các đô thị lớn trong vùng.
Theo kết quả điều tra của Vụ Kinh tế địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về một
số chỉ tiêu năm 2004 (Phụ lục 1), với 2,1% dân số, tổng GDP của Hải Dương mới chỉ đạt
1,76% của cả nước, do vậy GDP bình quân đầu người của tỉnh thấp hơn mức trung bình
của cả nước. Hải Dương hiện đứng thứ tư trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ cả về tổng GDP và GDP bình quân đầu người. Điều này thể hiện vị thế hiện tại của
tỉnh chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển đối với một tỉnh đang ở vị trí
cầu nối đối với các cực phát triển của cả nước (Phụ lục 2).
1.1.1.2. Tiềm năng và khả năng khai thác các nguồn lực tự nhiên và tài
nguyên thiên nhiên vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Địa hình: Do cấu trúc địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông
Nam. Phía Đông của tỉnh có một số vùng trũng, thường bị ảnh hưởng của thủy triều và bị
úng ngập vào mùa mưa.
Toàn tỉnh Hải Dương được chia ra làm hai vùng chính: vùng đồi núi chiếm
khoảng 11% diện tích đất tự nhiên, gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã của huyện
Kinh Môn, chủ yếu là đồi, núi thấp phù hợp với xây dựng các cơ sở công nghiệp, du lịch
và trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và các loại cây công nghiệp. Vùng đồng bằng gồm các
huyện, xã còn lại, có độ cao trung bình 3-4 m, đất đai bằng phẳng màu mỡ phù hợp với
việc trồng cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Với địa hình
này, Hải Dương có khả năng phát triển mạnh và đa dạng các ngành sản xuất, nhất là sản

như giữa Hải Dương với các tỉnh khác trong vùng. Tuy nhiên, sông ngòi nhiều thường
gây nên úng lụt, rất khó khăn trong việc phòng chống lụt và ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất, đời sống dân sinh.

Cùng với nguồn nước mặt khá phong phú trong hệ thống các sông ngòi lớn, nhỏ,
hồ, đầm và kênh, mương phân bố khắp trên địa bàn, trữ lượng nước ngầm của Hải Dương
khá dồi dào. Lượng nước ngầm tại các giếng khoan đạt từ 30 - 50m
3
/ngày đêm. Nguồn
nước này nằm chủ yếu trong tầng chứa nước lỗ hổng Pleitôxen, hàm lượng CL<200mg/1.
Tầng khai thác phổ biến ở độ sâu trung bình từ 40 - 120 m, ở phía bắc tỉnh, có thể khai
thác tốt cho nhu cầu nước sinh hoạt. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh cũng đã phát hiện một số
tầng nước ngầm có độ sâu từ 250 - 350 m, nhiều nơi có chất lượng nước tốt, trữ lượng
lớn, là tiềm năng cung cấp nước ổn định phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Tài nguyên khoáng sản: Không nhiều, nhưng một số loại có trữ lượng lớn, chất
lượng tốt, giá trị kinh tế cao, là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp như đá vôi
(trữ lượng khoảng 200 triệu tấn, đủ để sản xuất 4-5 triệu tấn xi măng/1 năm); cao lanh
(40 vạn tấn); sét chịu lửa (khoảng 8 triệu tấn) Ngoài ra, tỉnh còn có tiềm năng về than
đá, than bùn, đất sét, bô xít, thủy ngân và nguồn nguyên liệu dồi dào cho sản xuất vật liệu
xây dựng. Nhìn chung, tài nguyên không giàu, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nhưng
hiệu quả quản lý khai thác chưa tốt, nhất là than, cát và đá.
Tài nguyên phục vụ du lịch trên địa bàn khá phong phú, nhất là trên hai huyện
miền núi phía Đông Bắc tỉnh là Chí Linh và Kinh Môn.
Chí Linh núi đồi trùng điệp, có độ cao trung bình không quá 400 m, rừng cây
xanh tốt, cảnh quan đẹp, nhiều hồ nước tự nhiên, nhiều di tích, di chỉ văn hóa: Khu danh
thắng Phượng Hoàng - Kỳ Lân là địa danh thích hợp cho du lịch dã ngoại, vãn cảnh, leo
núi, tham quan di tích lịch sử; Khu du lịch danh thắng Côn Sơn là nơi cảnh đẹp thiên
nhiên - tâm linh gắn liền với cuộc đời của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Trãi và nhiều danh nhân đất Việt khác như Trần Nguyên Đán, Huyền Quang, đồng
thời là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn - Yên Tử - Trúc Lâm).

Trong bối cảnh phát triển mới, cư dân trong tỉnh vừa cố gắng gìn giữ phát triển
các ngành nghề truyền thống, vừa tiếp thu KH-CN hiện đại. Với óc sáng tạo, năng lực cải
tiến, đã hình thành thêm những ngành nghề mới, tạo ra cục diện mới trong phân công và

sắp xếp lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho chính mình và toàn cộng
đồng.
Nguồn lao động dồi dào nhưng phần lớn là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động đào
tạo thấp (23%), năng suất lao động chưa cao: năm 2004 giá trị bình quân GDP thực tế /một lao
động chung toàn nền kinh tế là 12.934.000 đồng/lao động, (cả nước khoảng 14.300.000
đồng), trong đó nông nghiệp đạt 4.102.000 đồng/lao động, công nghiệp 39.039.000 đồng/lao
động và dịch vụ đạt 32.320.000 đồng/ lao động. Như vậy năng suất lao động chung theo sơ
bộ tính toán là tương đối thấp so với cả nước. Trong các khối năng suất lao động, ngành
nông - lâm - thủy sản chỉ đạt 38% so với mức trung bình của tỉnh, công nghiệp - xây
dựng gấp 3,7 lần và ngành dịch vụ gấp 3 lần.
Thời gian sử dụng lao động trong nông nghiệp chiếm 78% (năm 2004). Cơ hội
kiếm việc làm có thu nhập cao và điều kiện nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc còn
nhiều bất cập. Chất lượng lao động nhìn chung còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển: tỷ lệ
được đào tạo thấp, thể lực, trí lực, tính kỷ luật, tác phong còn ảnh hưởng của nền sản xuất
nhỏ.
Lao động có việc làm và đang làm việc ở các ngành trong nền kinh tế quốc dân
tăng khá, song cơ cấu còn bất hợp lý. Số lao động làm việc tại các ngành công nghiệp,
dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, trong khi số lao động khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm tỷ
trọng lớn. Sở dĩ có sự bất hợp lý này là do:
- Khả năng thu hút lao động nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp
còn nhiều khó khăn, lao động có tay nghề có kỹ năng, được đào tạo trong các lĩnh vực
còn quá thấp, đặc biệt là khu vực nông thôn, khiến người lao động không hoặc khó có cơ
hội chuyển nghề, tìm việc làm mới hoặc chuyển nghề và phải chấp nhận các công việc
lao động giản đơn, truyền thống dựa hẳn vào đồng ruộng theo kiểu cha truyền con nối.
Theo điều tra năm 2003, lao động có trình độ từ sơ cấp đến công nhân kỹ thuật có bằng
trở lên chiếm 24,5%.

2
, trong đó đất canh tác là 596 m
2
/người
(khoảng 1,6 sào Bắc Bộ). Quỹ đất có khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp còn không

đáng kể. Đây là một đặc trưng nổi bật nhất của một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Hướng chính
để mở rộng sản xuất nông nghiệp của Hải Dương là đi sâu vào thâm canh, tăng vụ và
tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Trong nhiều năm qua sản xuất nông nghiệp đã
giải quyết đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm cho dân cư tại địa phương và có một khối
lượng nông sản dư thừa khá lớn. Nhưng việc tiêu thụ lượng nông sản này đang gặp khó
khăn do nhiều nguyên nhân như:
- Do chất lượng nông sản thấp; chưa tạo được các vùng chuyên canh, tập trung để
đáp ứng cho công nghiệp chế biến.
- Quy mô ruộng đất nhỏ, manh mún, do vậy khi tiến hành CNH, HĐH nông
nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
- Do nhận thức của nhà nông còn hạn chế để phòng ngừa rủi ro và bảo đảm tự
túc lương thực, thực phẩm cho nên họ đã lựa chọn mô hình đa dạng hóa sản xuất.
- Chưa có vùng nguyên liệu đủ tiêu chuẩn dẫn đến chưa có một mạng lưới chế
biến nông sản có công nghệ tiên tiến, hiện đại, đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực
và thế giới.
Từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 8 năm 1988) về đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp, giao quyền tự chủ sản xuất cho hộ nông dân, cho lưu thông lương
thực, giải phóng sức sản xuất, giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ sản xuất và lợi ích
của nông dân, nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng đã có bước
phát triển mới, bộ mặt nông nghiệp có nhiều thay đổi. Đặc biệt với đường lối Đại hội VII
(1991), cơ chế thị trường đã được khẳng định và đi vào cuộc sống, nhất là sau Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 khóa VII (6/1993) Về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn và Luật Đất đai năm 1993 thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng
được mở rộng rất đa dạng, phong phú.

chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, cây vải thiều có ở vùng đất này từ lâu. Do trước đây thiếu
lương thực và việc giao lưu nông sản phẩm gặp khó khăn nên nông dân đã phá một số vườn
vải thiều để cấy lúa, đặc biệt thời tiết vụ đông xuân trời âm u, mưa phùn nhiều, cây vải thiều
rụng hoa nhiều mà đậu ít. Nông dân cho rằng: "Trời sinh, trời dưỡng", chủ yếu tập trung vào

trồng ra hạt lúa, củ khoai, nên một thời gian dài cây vải thiều đã bị bỏ quên. Do chủ trương
đổi mới đúng đắn, một cơ chế đúng đã thức dậy bao tiềm năng. Hàng hóa nông sản được
giao lưu tự do, đặc biệt là áp dụng KH-CN vào thâm canh vườn, phun thuốc đậu quả cho
cây nên vải thiều đã thực sự thành cây trồng đặc sản trong vườn mang lại hiệu quả kinh tế
cao cho nông dân Thanh Thủy. Vải thiều có thể dùng ăn tươi hoặc sấy khô, 1 kg vải thiều lúc
thu hoạch rộ là 6.000-7.000 đồng. Lúc cuối vụ tới 25.000 đến 30.000 đồng, nếu được sấy
khô thì càng có giá trị cao hơn. Bằng kết quả thực tế: 1 sào vải thiều lúc khép tán sau 15 năm
trồng có 5 đến 6 cây. Chỉ tính là hai năm được mùa một lần do hiện tượng "1 năm ăn quả, 1
năm trả cành" thì 1 cây cho thu hoạch từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng. Như vậy 1 sào vải
sẽ cho thu nhập gấp nhiều lần cấy lúa. Nông dân lập vườn bằng cách đào đất hai bên đắp
vào giữa thành luống, bề mặt luống rộng khoảng 3 mét và cao hơn mặt ruộng khoảng 0,5
đến 0,7 mét. Mỗi sào (360 m
2
) thì trồng từ 5 - 6 cây. Xen kẽ giữa các luống là những rãnh
sâu thành ao để thả cá. Cây vải được trồng vào giữa luống. Lúc cây vải chưa khép tán,
trồng xen các cây như: quất, chuối, cam Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, dưới rãnh
sẽ thả cá. Đây là mô hình có sức thu hút lớn với đa số nông dân ở xã Thanh Thủy nói
riêng và huyện Nam Thanh nói chung.
Theo tính toán của người dân có kinh nghiệm cho biết:
Đầu tư vốn cố định (thời giá năm 1993)
Lập vồng: 600.000 đ/sào
Giống cây vải: 50.000 đ/sào
Tổng chi: 650.000 đồng/sào.
Đầu tư vốn lưu động trong ba năm đầu:
Cá giống: 45.000đ x 3 năm = 135.000 đ/ 3 năm

cấu giống lúa, chọn giống có chất lượng, năng suất cao và được thị trường chấp nhận, một
số huyện đã cấy lúa nếp hoa vàng, tám thơm bán ra thị trường với giá từ 5.000-7.000
đồng/ 1kg gạo, cao gấp hai lần giá gạo thường như huyện Kinh Môn, Cẩm Giàng Nhiều
nơi nông dân đã thay đổi hình thức luân canh trên một đơn vị diện tích để tìm kiếm lợi
nhuận, trước kia đầu tư luân canh hai vụ lúa chỉ cho giá trị từ 12 - 15 triệu đồng/ha. Cho nên
một số hộ nông dân ở xã Toàn Thắng (Gia Lộc) với công thức lúa + đậu tương + 2 vụ bắp
cải cho giá trị 55-57 triệu đồng/ha; xã Thạch Khôi (Gia Lộc) với cách chuyển đổi 3 vụ rau
giống + 2 vụ bắp cải + 1 vụ lúa xuân cho giá trị 100-105 triệu đồng/ha.
Về thủy sản: Hầu hết diện tích mặt nước trước đây nuôi cá quảng canh, thả rau bèo
hoặc bỏ hoang đã được các hộ thuê và đầu tư nuôi cá hoặc một số ruộng quá trũng, trồng
lúa thu hoạch bấp bênh, lỗ vốn, các địa phương đã cho thuê cải tạo thành ao thả cá, trên
bờ trồng cây ăn quả: chuối, chanh, vải, cam đã cho thu nhập từ 20 - 40 triệu đồng/ha,
cao gấp nhiều lần trồng lúa.
Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi: Thực tiễn ở Hải Dương cho thấy, được mùa lương
thực thì kéo theo chăn nuôi cũng phát triển, đàn lợn, trâu, bò, gia cầm đều tăng. Chuyển dịch cơ
cấu trong chăn nuôi trước hết là cải tạo và thay đổi giống, thay giống đực ngoại, nuôi lợn thịt
ngoại tăng, tỷ lệ máu ngoại cao trong lợn lai nhằm tăng trọng và tăng tỷ lệ nạc, đáp ứng nhu
cầu xuất khẩu, phát triển đàn bò lai Cùng với việc cải tiến cơ cấu và khẩu phần thức ăn chăn
nuôi, phương pháp chăn nuôi cũng thay đổi, nuôi lợn theo phương pháp ủ men, mỗi hộ có thể
nuôi hàng chục lợn thịt mỗi lứa và hàng nghìn con gà công nghiệp Nhưng giá thành các sản
phẩm chăn nuôi còn cao, do năng suất con giống thấp, giá thành thức ăn gia súc cao và chưa
tổ chức được vùng chăn nuôi hàng hóa tập trung.
Về lâm nghiệp: Kinh tế đồi rừng được khuyến khích phát triển, thực hiện
Chương trình 327 của Chính phủ, đến cuối năm 1996 trồng mới hơn 4.000 ha rừng, 2.000
ha vườn đồi chủ yếu là trồng vải thiều.
Đánh giá chung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Hải Dương
trước 1997 tuy diễn ra sôi động, đa dạng, bước đầu đạt một số kết quả, nhưng chưa đều.

Vai trò lãnh đạo của cấp ủy cơ sở nói chung còn yếu nên phong trào có phần mang tính tự
phát, rập khuôn và chứa nhiều yếu tố rủi ro.

XHCN, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu, xây dựng thành một nền kinh tế cân đối
và hiện đại, làm cho miền Bắc tiến bộ mau chóng, thành cơ sở ngày càng vững chắc cho
sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Vì nước ta là
một nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp", cho nên "các cơ quan nhà
nước phải quan tâm hơn nữa đến nông nghiệp, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của
ngành mình trong sản xuất nông nghiệp" [37, tr. 415].
Đại hội III của Đảng đã nhấn mạnh một số quan điểm cơ bản như: Kết hợp cải
tạo với xây dựng, coi cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai mặt của công cuộc cách
mạng XHCN, trong đó lấy cải tạo nông nghiệp làm khâu chính của công cuộc cải tạo
XHCN. Hội nghị Trung ương 5 khóa III năm 1961 đã ra Nghị quyết về vấn đề phát triển
nông nghiệp, trong đó nêu lên phương án cải tiến công cụ và cơ giới hóa nông nghiệp
trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Sau này các Hội nghị Trung ương Đảng
tiếp tục bổ sung và phát triển chủ trương, nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.
Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã đầu tư hàng nghìn máy kéo lớn nhỏ,
hàng vạn động cơ điện, động cơ nổ, hàng triệu công cụ cải tiến phục vụ cho nông nghiệp,
tạo ra năng suất chất lượng cao, do đó từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, đặc biệt là người nông dân luôn phấn khởi, tin tưởng vào đường
lối của Đảng, sản xuất nông nghiệp để đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, ngay cả
trong điều kiện có chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ ở
miền Bắc.
Năm 1975, miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng là một bước ngoặt có ý
nghĩa lịch sử trọng đại của cả dân tộc ta, mở ra giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.
Nước ta từ chỗ bị chia cắt và chiến tranh ác liệt, lâu dài chuyển sang gia đoạn mới, đó là

cả nước độc lập, thống nhất. Tình hình mới của đất nước sau giải phóng đặt ra cho Đảng
ta trách nhiệm phải bổ sung và hoàn chỉnh đường lối, nhằm chuyển cuộc cách mạng cả
nước, đồng thời xác định nhiệm vụ cụ thể phù hợp với đặc điểm từng miền. Để đáp ứng
yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976) đã đề ra
đường lối chung và đường lối xây dựng kinh tế trong giai đoạn cách mạng mới ở nước ta.
Đặc biệt, Đại hội đã chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980)

cơ giới hóa nông nghiệp đưa hàng vạn máy kéo lớn nhỏ, hàng chục vạn động cơ nổ các
loại vào phục vụ sản xuất Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong phát triển kinh tế, song nền
kinh tế nông nghiệp ở nước ta giai đoạn này rất thấp, những năm 1976 - 1980 sản xuất nông
nghiệp tăng 1,9%, trong khi đó dân số mỗi năm tăng gần 1 triệu người, nông nghiệp phát
triển chậm không theo kịp sự gia tăng dân số nên đất nước thiếu lương thực, thực phẩm triền
miên. Nông nghiệp chậm phát triển, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do chính sách và cơ
chế quản lý đối với nông nghiệp không khuyến khích và thúc đẩy sản xuất phát triển,
nhiều năm nông nghiệp chưa được đầu tư thích đáng, đúng với vị trí của nó trong nền
kinh tế quốc dân.
Trước tình hình cấp bách đó, đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương, chính sách đổi
mới trong kinh tế nông nghiệp. Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa IV) năm 1979 đã
khởi động với tư tưởng: làm cho sản xuất bung ra. Mở đầu là Chỉ thị 100 (1981) của Ban
Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong nông nghiệp. Chỉ thị 100 tạo ra sự thay đổi bước đầu nhận thức về hợp tác xã (HTX),
hộ xã viên, tác động làm thay đổi cơ chế quản lý HTX, xác định vai trò, vị trí của người
lao động.
Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (1981) là chính sách lớn
của Đảng đối với nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1981 - 1987. Chỉ thị đặt ra mục tiêu:
Đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế; củng cố và tăng
cường quan hệ sản xuất XHCN ở nông thôn; nâng cao thu nhập và đời sống của xã viên,
tăng tích lũy HTX; làm tròn nghĩa vụ và tăng khối lượng nông sản cung cấp cho Nhà nước.
Điểm mấu chốt của Chỉ thị 100 là thực hiện khoán sản phẩm với việc:

- Xác định lại về tổ chức quản lý và phân công lại lao động trong HTX.
- Xóa bỏ phân phối theo ngày công thả nổi, chuyển sang phân phối theo ngày
công kế hoạch trên cơ sở định mức kinh tế, kỹ thuật. Thu nhập của xã viên bao gồm phần
thu trong khoán và toàn bộ phần thu vượt khoán.
Chỉ thị 100 ra đời đã tạo ra động lực mới khuyến khích lợi ích vật chất đối với
người nhận khoán. Do vậy, chỉ sau 1 năm, hầu hết các HTX, tập đoàn sản xuất trong cả
nước đã triển khai thực hiện. Nông dân phấn khởi đầu tư thêm công sức, tiền vốn, vật tư,

Xuất phát từ cái sẵn có tự khả năng có thể huy động được ngay để tạo ra nguồn vốn tích
lũy ban đầu cho công nghiệp hóa XHCN, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu cấp
bách về đời sống nhân dân và an ninh - quốc phòng.
Với chủ trương đúng đắn của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến
và tiến bộ quan trọng, nhất là trong nông, lâm, thủy sản, đã đạt được tiến bộ rõ rệt. Trong
thời kỳ 1981 - 1985 nông nghiệp tăng bình quân hằng năm 4,9% so với 1,9% hằng năm
của thời kỳ 1976 - 1980, sản lượng lương thực tăng bình quân 17 triệu tấn/năm so với
13,4 triệu tấn/năm. Thu nhập quốc dân tăng bình quân hằng năm 6,4% so với 0,4%. Tuy
vậy, trên thực tế những năm sau đó nông nghiệp vẫn chưa thực sự được coi là mặt trận
hàng đầu, không được đảm bảo những điều kiện cần thiết để phát triển, nhất là vật tư, tiền
vốn và chính sách khuyến khích. Vẫn bị coi nhẹ về tổ chức, đầu tư, chính sách. Chính vì
vậy mà nhiều khó khăn, mất cân đối trong nền kinh tế đã không giải quyết được, thậm chí
còn trầm trọng thêm. Do bao cấp nặng nề, sản xuất có tăng nhưng hàng hóa vẫn thiếu
nghiêm trọng, ngân sách thiếu hụt lớn, tỷ lệ lạm phát cao nếu lấy năm 1976 là 100% thì
năm 1989 là 313,7% và năm 1986 là 774,7%. Đứng trước những khó khăn, thách thức
của cách mạng, Đảng ta đã quyết định tiến hành công cuộc đổi mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 là bước ngoặt trong
đổi mới tư duy của Đảng ta về CNXH nói chung và về phát triển nông nghiệp nói riêng.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã
khẳng định những thành tựu đã đạt được trên các mặt, nêu rõ những mặt yếu kém, khó

khăn gay gắt. Đại hội đã tổng kết bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học
"Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách
quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng" [22, tr. 30]. Đại hội VI đã đề ra những quan điểm và chính sách đổi
mới, trước hết là đổi mới kinh tế; thực hiện ba chương trình kinh tế lớn, nhấn mạnh vai
trò hàng đầu của nông nghiệp trong việc đáp ứng những yêu cầu cấp bách về lương thực,
thực phẩm, nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Phấn đấu đưa nông
nghiệp trở thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa XHCN; thừa nhận cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần; xác định đẩy mạnh cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status