đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nam 1996 den nam 2005 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------***--------

VŨ VĂN ĐIỀM

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------***--------

VŨ VĂN ĐIỀM

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Mã số
: Nam
60 22 56


11
20

1.2. Đảng bộ chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ......................

27

1.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành .............................................

27

1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phần và cơ cấu kinh tế vùng ............ 39
Tiểu kết ................................................................................................................

50

Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG
NĂM 2001 - 2005 .............................................................................................

52

2.1. Đƣờng lối của Đảng và chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Yên Bái

52

2.1.1. Đường lối của Đảng ............................................................

52



3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ .......................................................

91

3.1.1. Ưu điểm ....................................................................................................

91

3.1.2. Hạn chế.....................................................................................................

98

3.2. Một số kinh nghiệm ...................................................................................

103

3.2.1. Căn cứ vào đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, Đảng bộ tỉnh chủ
động đề ra đường lối, chương trình hành động phù hợp với thực tiễn; phát huy tốt
nhất thế mạnh, tiềm năng của tỉnh, tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ..........................

103

3.2.2. Đảng bộ tỉnh đã tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, tạo động
lực đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp..........................

104

3.2.3. Nâng cao tinh thần làm chủ để phát huy trí lực, sức lực của người dân vào quá

36

Bảng 1.3. Diện tích và cơ cấu diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 1998 ...............

39

Bảng 2.1. Diện tích, sản lượng và bình quân lương thực có hạt của
Yên Bái thời kỳ 2000 – 2005 ..............................................................................
Bảng 2.2. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành của ngành nông nghiệp
từ năm 2001- 2005 ........................................................................................................
Biểu đồ 2.3. Số lƣợng trâu, bò, lợn, ngựa, dê tỉnh Yên Bái .....................................
Bảng 2.4. Sản lƣợng và giá trị sản xuất thủy sản theo giá hiện hành (2000 - 2005)
Bảng 2.5. Số lƣợng các HTX và HTX nông nghiệp trên địa bàn
tỉnh Yên Bái (2003 - 2005) ................................................................................
Bảng 2.6. Số lƣợng trang trại phân theo loại hình năm 2005 ...............................
Bảng 3.1. Cơ cấu vốn đầu tƣ nhà nƣớc cho các hạng mục ....................................

60

5

70
70
72
73
82
98


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


XHCN

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau 25 năm đổi mới, quá trình đẩy mạnh CDCCKT nông nghiệp của cả nước
nói chung và ở mỗi địa phương nói riêng đã diễn ra khá nhanh, đem lại hiệu quả cao
về năng suất, chất lượng so với thời kỳ trước đổi mới. Nông nghiệp vươn lên trở
thành ngành kinh tế chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân.
Không chỉ đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên vật liệu cho
sản xuất công nghiệp trong nước, nông nghiệp còn trở thành mặt hàng xuất khẩu
quan trọng và là thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp.
Phát triển kinh tế nông nghiệp để tạo dựng một nền nông nghiệp hiện đại, có cơ
cấu hợp lý trong nền kinh tế, phát huy cao nhất tiềm năng hiện có đang là vấn đề được
Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải
thiện mức sống cho người dân và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.
Tuy nhiên, từ năm 1986 trở về trước, cũng như một số tỉnh miền núi khác,
Yên Bái có nền kinh tế chậm phát triển, chủ yếu là tự cung tự cấp... đời sống người
dân trong tỉnh còn rất nhiều khó khăn. Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh, kinh tế nông nghiệp giai đoạn (1986 - 1995) đã từng bước chuyển biến
tích cực. Quan hệ sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý được điều chỉnh đã
bước đầu phát góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Ở giai
đoạn sau (1996 - 2005), trên cơ sở những thành tựu đạt được và những hạn chế của
giai đoạn trước, đồng thời căn cứ vào những điều kiện thuận lợi và khó khăn về tự
nhiên, xã hội của tỉnh, Đảng bộ tỉnh Yên Bái đã chủ động đưa ra chủ trương đẩy
mạnh quá trình CDCCKT. Đảng bộ chỉ đạo các sở, ban, ngành ưu tiên thực hiện các
chính sách khuyến khích CDCCKT nông nghiệp phát triển theo hướng CNH, HĐH,

nghiệp ở vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (qua khảo sát một số làng
xã) của Nguyễn Văn Khánh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Việt Nam trên
chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế, của Nguyễn Minh Tú (Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002); Kinh tế Việt Nam đổi mới - những phân tích và đánh giá
quan trọng, do Nguyễn Văn Chỉnh (Chủ biên), (Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2002);
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, do TS.
Nguyễn Trần Quế (chủ biên), (Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004); Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn, Khoa học công nghệ nông nghiệp và phát triển
nông thôn 20 năm đổi mới (tập 7, Kinh tế - Chính sách nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005); Gắn bó cùng nông nghiệp, nông

8


thôn, nông dân trong đổi mới, của Nguyễn Văn Tiêm, (Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội,
2005); Việt Nam thành tựu 20 năm đổi mới (1986- 2006), của Đoàn Mạnh Phương
(chủ biên) (Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
ở Việt Nam, của Bùi Tất Thắng (Nxb. Khoa học - Xã hội, Hà Nội, 2006).
Trong đó, một số công trình khoa học đã trực tiếp mang lại những kinh
nghiệm, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu tham khảo quý báu, giúp tôi
trong quá trình triển khai đề tài như:
Cuốn sách: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ
XXI, do TS. Nguyễn Trần Quế chủ biên, cùng các tác giả Uông Trần Quang, NVC.
Kiều Văn Trung, Ths. Nguyễn Mạnh Hùng (Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004).
Trong đó, cùng với việc đưa ra các khái niệm, tác giả đã nghiên cứu thực trạng, đánh
giá tổng quát sự chuyển dịch cấu kinh tế Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp thúc
đẩy CDCCKT làm sao cho phù hợp với quá trình CNH, HĐH của Việt Nam trong các
lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và nông thôn; kinh tế ngành công nghiệp; kinh tế ngành
dịch vụ; kinh tế thành phần và kinh tế vùng trong giai đoạn tiếp theo.
Cuốn sách: Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta, của TS.

nhà khoa học nghiên cứu về nông nghiệp ở những lĩnh vực khác nhau.
Đồng tác giả: TS. Nguyễn Văn Chỉnh, TS.Vũ Quang Việt... trong Cuốn sách:
Kinh tế Việt Nam đổi mới- những phân tích và đánh giá quan trọng (Nxb. Thông
kê, Hà Nội, 2002), đã khái quát những nét lớn về thực trạng kinh tế Việt Nam đã và
đang được đổi mới đến đầu thế kỷ XXI. Bên cạnh những khái niệm cơ bản, phương
pháp tính các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, các tác giả đã tổng hợp, phân tích, hệ thống
hóa số liệu từng vùng, trên phạm vi cả nước để tính được tốc độ tăng trưởng,
CDCCKT theo ngành, thành phần kinh tế, khu vực thể chế, vùng lãnh thổ. Những
số liệu được phân tích, so sánh đến chi tiết sẽ là nguồn số liệu phong phú để các nhà
nghiên cứu tham khảo, kế thừa sử dụng cho các công trình nghiên cứu khác.
Cuốn sách: Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng châu
thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (qua khảo sát một số làng xã), tác giả PGS,TS.
Nguyễn Văn Khánh (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001), đã trên cơ sở phân tích,
so sánh sự phát triển chung của kinh tế nông nghiệp vùng châu thổ sông Hồng với một
số vùng khác, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm. Cuốn sách đã góp phần làm
rõ về tình hình kinh tế nông nghiệp và nông thôn vùng châu thổ sông Hồng trong sự
nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đồng thời cung cấp nguồn tư liệu và cơ sở thực

10


tiễn cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về nông nghiệp và nông
thôn tham khảo, kế thừa vào các công trình nghiên cứu của mình.
Cuốn sách: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam của PGS, TS. Bùi
Tất Thắng (Nxb. Khoa học - Xã hội, Hà Nội, 2006), đã nêu tổng quát những vấn đề
lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH. Trên cơ sở những
nhân tố ảnh hưởng của thế giới và Việt Nam vào quá trình CDCCKT, tác giả đã
đánh giá quá trình CDCCKT ngành của Việt Nam trong những chính sách đổi mới.
Ngoài ra, cuốn sách đã luận giải về cơ sở tiếp cận các vấn đề CDCCKT ngành của
Việt Nam trong điều kiện mới.

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 19972003 của Đào Thị Vân (Trung Tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2004); Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ năm 1997 đến năm 2003 của Đặng Kim Oanh (Trung Tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng
viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005). Luận án Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006 của Đào Thị Bích Hồng
(Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011) ...
2.3. Những công trình nghiên cứu trực tiếp về tỉnh Yên Bái
Cuốn sách: Kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh miền núi Yên Bái của Vũ Ngọc Kỹ
(chủ biên), (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996); Trang trại thanh niên mô hình lập
thân, lập nghiệp của thế hệ trẻ Yên Bái, của Nguyễn Văn Tuyết, (Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997); Kinh tế trang trại Yên Bái trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn (Kỷ yếu khoa học của Tỉnh ủy Yên Bái 1999); Tỉnh Yên Bái một thế kỷ 1900- 2000,
Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (Nxb. Đại học Sư phạm, Đại học quốc
gia, Hà Nội, 2000); Nông nghiệp nông thôn Yên Bái trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa của Vũ Sửu (Nxb. Thông kê, Hà Nội, 2002); Yên Bái đất và người trên
hành trình phát triển, thuộc dự án Gương mặt Việt Nam (Nxb. Văn hóa Thông tin và
Công ty Văn hóa trí tuệ Việt, Hà Nội, 2006). Trong đó:
Kinh tế trang trại Yên Bái trong công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
(Kỷ yếu khoa học của Tỉnh ủy Yên Bái 1999), là những bài nghiên cứu của lãnh
đạo tỉnh, các nhà khoa học trong và ngoài tỉnh với 16 bài tham luận, nghiên cứu về
các khía cạnh khác nhau về kinh tế trang trại nói chung và kinh tế trang trại Yên Bái
nói riêng. Kỷ yếu đã làm sáng tỏ phần nào những lý luận và thực tiễn về sự hình
thành, thực trạng, quá trình và xu thế phát triển của kinh tế trang trên cả nước trong

12


quá trình tìm tòi, phát triển để phù hợp với nền sản xuất hàng hóa. Thông qua hội
thảo, phát triển kinh tế trang trại ở Yên Bái sau 10 năm đã được tổng kết. Trên cơ
sở những thành tựu, hạn chế và những dự báo phát triển về kinh tế trang trại Yên

đánh giá được chứng minh bằng những số liệu thuyết phục đã nêu lên thế
mạnh tiềm năng của tỉnh.
Những công trình nghiên cứu về Yên Bái nói chung, về kinh tế nói
riêng chưa thật phong phú về số lượng và còn hạn chế về nội dung, nhưng
đã cung cấp những nguồn tư liệu quý, trong đó còn những khoảng trống
chưa được nghiên cứu một cách hệ thống về kinh tế nông nghiệp (1996 2005) là những gợi ý quan trọng để tác giả mạnh dạn lựa chọn và triển
khai đề tài của mình.
Như vậy, những công trình nghiên cứu, chuyên luận, kết quả hội thảo,
luận văn, luận án nêu trên cho thấy, dù xuất phát nghiên cứu từ góc độ kinh
tế, hay dưới góc độ lịch sử, và ở những lĩnh vực, thời gian và không gian khác
nhau, song các công trình đó đã cung cấp cơ sở cần thiết về lý luận, thực tiễn
và phương pháp để giúp tôi đi sâu giải quyết nội dung luận văn của mình.
Dưới góc độ Lịch sử Đảng, có thể khẳng định, hiện chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống nào về “Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh
đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2005” như
đề tài tôi chọn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Yên Bái từ năm 1996-2005; quá trình thực hiện sự lãnh đạo và những
kết quả của sự CDCCKT nông nghiệp ở Yên Bái; bước đầu rút ra một số kinh
nghiệm lịch sử từ sự lãnh đạo của Đảng bộ Yên Bái về quá trình CDCCKT
nông nghiệp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái
trên lĩnh vực CDCCKT nông nghiệp theo hai giai đoạn (1996 - 2000) và
(2001- 2005); làm rõ bước phát triển trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua
hai giai đoạn.

14


15


- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII; các báo cáo,
thống kê của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh; các công trình nghiên cứu phát
triển kinh tế về Tỉnh của các nhà khoa học, các đồng chí lãnh đạo tỉnh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp lịch sử
kết hợp với phương pháp logic. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: phân tích, so sánh
kết hợp với thống kê trên cơ sở tài liệu sưu tầm và thực địa để đánh giá trung thực và
khách quan nội dung, số liệu trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày hệ thống để làm rõ quá trình lãnh đạo, thành tựu và hạn chế CDCCKT
nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2005 của Đảng bộ tỉnh Yên Bái.
- Thông qua quá trình CDCCKT nông nghiệp Yên Bái giai đoạn 1996- 2005, rút ra
những kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn, để có thể vận dụng phát triển kinh tế nông nghiệp
ở Yên Bái trong giai đoạn tiếp theo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được chia thành ba chương:
Chương 1: Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1996 - 2000
Chương 2: Đảng bộ Yên Bái lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp trong những năm 2001 – 2005
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

16



17


dạng, có 257 điểm mỏ khoảng sản với các nhóm khoáng sản năng lượng, khoáng
sản vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp, khoáng sản kim loại.
Tài nguyên nước: Ngoài 2 dòng sông lớn là sông Hồng và sông Chảy Yên
Bái còn 76 khe suối, 134 hồ. Sông suối có độ dốc cao mang lại tiềm năng lớn về
thủy điện, trong đó Hồ Thác Bà với diện tích 19.050 ha là 1 trong 3 hồ lớn nhất Việt
Nam. Không chỉ là một hồ nước thủy điện khổng lồ, hồ Thác Bà còn mang lại
nguồn cung cấp thủy sản to lớn, một địa điểm du lịch đầy tiềm năng, với hơn 1300
hòn đảo hồ được ví “Hạ Long trên cạn”
Bên cạnh những khó khăn về địa hình, thì nguồn tài nguyên đất, nước, khí
hậu cũng đã mang lại cho Yên Bái những thuận lợi về phát triển kinh tế nông
nghiệp với thế mạnh là các vùng chuyên canh cây công nghiệp, lâm nghiệp và chăn
nuôi đại gia súc.
Về kinh tế: Sau 5 năm tái lập tỉnh (1991- 1995), bộ máy hành chính và cơ
chế quản lý của tỉnh được củng cố và ngày càng hoàn thiện. Đảng bộ Yên Bái đã
khắc phục khó khăn, phát huy những lợi thế tạo ra những chuyển biến tích cực
trong những năm đầu tái lập tỉnh. Đảng bộ đã thực hiện chủ trương khuyến khích
phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đến năm 1995, toàn tỉnh có 2 doanh nghiệp tư
nhân, 6 công ty trách nhiệm hữu hạn, 7.300 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp,
5.900 hộ gia đình kinh doanh dịch vụ thương mại, hơn 3.000 hộ làm kinh tế trang
trại, cơ cấu kinh tế nông- lâm nghiệp chiến 55,5%, công nghiệp- dịch vụ chiếm
44,5%. Thu nhập bình quân theo đầu người năm 1995 đạt 170 USD/năm, tỷ lệ hộ
nghèo còn 18%; 72,4 % có đường ô tô đến trung tâm xã [4, tr.153].
Về xã hội: Năm 2010, dân số Yên Bái là 752.922 người, với 30 tộc người cư
trú, trong đó 12 tộc người có số dân trên 500 người là các dân tộc Kinh, Tày, Thái,
Nùng, Mường, Mông, Dao, Giáy, Sán Chay (Cao Lan), Khơ Mú, Phù Lá (Xa Phó),
Hoa. Mật độ dân số 109 người/ km2; số người trong độ tuổi lao động là 400.643 người
chiếm 53, 21% dân số, trong đó lao động ở thành thị là 68.754 người, ở nông thôn là

mạnh trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, khẳng định vai trò kinh tế hộ gia
đình; xác định lại vị trí của hợp tác xã và quốc doanh; thừa nhận sự tồn tại lâu dài
và khuyến khích kinh tế cá thể và tư nhân trong nông nghiệp, tạo động lực giải
phóng lực lượng sản xuất, chuyển nông nghiệp sang giai đoạn mới gắn với nền sản
xuất hàng hóa. Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, họp
tháng 3/1989 đã khẳng định: Những chuyển biến rõ rệt trong chuyển dịch cơ cấu

19


kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã có một số
tiến bộ về tăng vụ và chuyển vụ, trồng cây công nghiệp dài ngày. Nhiều hợp tác xã
nông nghiệp và một số cơ sở kinh tế quốc doanh khi chuyển sang cơ chế mới, đã
chủ động sắp xếp lại sản xuất và lao động trong đơn vị mình [21, tr. 865].
Hội nghị đã phát triển quan điểm và bổ sung chính sách của Đại hội VI của
Đảng về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó nhấn mạnh việc cần phải đổi mới
nhận thức về HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng theo tinh thần:
1- Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh được hình thành trên cơ sở tự nguyện
góp vốn, góp sức và quản lý dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật,
mức độ tập thể hóa tư liệu sản xuất, đều là hợp tác xã; 2- hợp tác xã và tập đoàn sản
xuất nông nghiệp là các đơn vị kinh tế hợp tác ở các trình độ phát triển khác nhau,
vừa có sở hữu toàn dân về ruộng đất, vừa có sở hữu tập thể về vốn và quỹ không
chia, vừa có sở hữu của xã viên về một số loại tư liệu sản xuất; 3- Trong cơ chế mới,
gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ, nhận khoán sử dụng ruộng đất
theo hợp đồng với hợp tác xã và chủ động phát triển sản xuất, kinh doanh dưới nhiều
hình thức [21, tr. 873-874].
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả bước đầu đạt được trong công
cuộc đổi mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000. Đối với nông
nghiệp, xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu hợp lý về

trọng đúng mức sản xuất lương thực; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản phẩm
nông nghiệp; thâm canh mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng phát
triển cây ăn quả và xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn; thực hiện nhất
quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và kinh tế
nông thôn; gắn sản xuất với thị trường, mở rộng sản xuất đi đôi với mở rộng thị
trường tiêu thụ nông sản; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân tài; đổi mới hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1/1994) đã
khẳng định phải hết sức quan tâm đến CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; phát
triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Hội nghị lần thứ bảy,
Ban chấp hành Trung ương khóa VII (7/1994) đã xác định rõ vị trí của CNH, HĐH
nông nghiệp và nông thôn, trong đó nhấn mạnh việc quy vùng tập trung chuyên
canh, đưa công nghệ mới, đặc biệt công nghệ sinh học vào sản xuất, tạo ra nguồn

21


nguyên liệu lớn, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến hiện
đại, tiến tới một nền nông nghiệp sạch, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Những quan điểm chỉ đạo về kinh tế nông nghiệp của Đảng nêu trên là cơ sở
cho các Đảng bộ địa phương lãnh đạo CDCCKT nông nghiệp trong những năm đầu
thực hiện đường lối đổi mới.
Trong 5 năm (1986 - 1991), Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn (bao gồm 2 tỉnh Yên
Bái và Lào Cai) đã lãnh đạo nhân dân giữ ổn định tình hình chính trị, bước đầu phát triển
kinh tế và đạt được những thành tựu nhất định. Quán triệt và vận dụng đường lối đổi mới
của Đảng, Đại hội lần thứ IV Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn (10/1986) xác định phương
hướng trong 5 năm (1986 - 1991) coi “Nông - lâm nghiệp là mặt trận hàng đầu, trọng
tâm là sản xuất lương thực - thực phẩm, đồng thời phát triển sản xuất hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu”[4; tr. 79].

Nội dung của các chương trình kinh tế nông nghiệp đã cụ thể hóa chủ trương
của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp, nhằm đẩy
mạnh các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, đồng thời tiến hành giao quyền sử
dụng đất lâu dài cho hộ nông dân. Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện
CDCCKT nông nghiệp trong những năm 1991 - 1995.
Nhằm đẩy nhanh hơn nữa nền kinh tế của tỉnh, Hội nghị đại biểu Đảng bộ
tỉnh Yên Bái giữa nhiệm kỳ khóa 13 (03/1994) đã đánh giá việc thực hiện các Nghị
quyết của Đảng, đặc biệt là thực hiện những mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIII
của Đảng bộ tỉnh đề ra. Từ đó xác định nhiệm vụ: Cần thúc đẩy nhanh chóng sự
CDCCKT nông – lâm – ngư nghiệp sang công nghiệp chế biến, dịch vụ và xuất
khẩu; tập trung vào 6 chương trình kinh tế - xã hội đã được chính phủ phê duyệt
tiến tới CNH, HĐH. Về nông – lâm nghiệp: Đảng bộ xác định cần tiến hành đầu tư
theo chiều sâu để chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành, trợ giá cho việc áp dụng
giống lúa mới, giống ngô mới và vận chuyển phân bón, tiến tới hoàn thành việc
giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình.
Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng bộ tỉnh Yên Bái là một mốc đánh dấu
sự đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Tỉnh ủy, phù hợp với hoàn cảnh,
yêu cầu thực tế của địa phương. Nội dung quan trọng của Hội nghị là sự vận
dụng đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, nhằm đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh đối với việc CDCCKT, bước đầu tạo ra sự chuyển biến về cơ
cấu ngành kinh tế nông nghiệp.

23


Qua 5 năm (1991 - 1995) thực hiện, sản xuất nông- lâm nghiệp của Yên Bái
bước đầu có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực: Kinh tế tự cung tự
cấp đã chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, sản xuất nông- lâm
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt

Về lâm nghiệp: Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, sản xuất lâm nghiệp đã tập trung
vào khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ rừng kết hợp trồng mới, tăng nhanh vốn rừng. Việc
tiến hành giao đất, giao rừng cho hộ gia đình quản lý, bảo vệ chăm sóc và trồng rừng
gắn với đầu tư vốn theo các chương trình dự án và công tác khuyến lâm được đẩy
mạnh. Trong 5 năm (1991 - 1995), mỗi năm bình quân trồng mới 800ha rừng, đưa tổng
diện tích rừng trồng lên 47.000 ha. Diện tích rừng tự nhiên được giao để bảo vệ là
123.138 ha, diện tích khoanh nuôi rừng tái sinh, phục hồi là 39.100ha. Tổng diện tích
rừng năm 1995 đạt 209.980ha đưa tỷ lệ che phủ tăng 17% năm 1991 lên 30,5% năm
1995 [4, tr. 153].
Về cơ cấu kinh tế thành phần: Bước đầu được hình thành và phát triển, quan
hệ sản xuất được điều chỉnh về quan hệ sở hữu, chế độ phân phối và cơ chế quản lý.
Kinh tế nhà nước đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý đã tạo ra hiệu quả cao hơn
trong sản xuất kinh doanh. Trong kinh tế hợp tác, cùng với việc tiến hành đổi mới
các cơ sở kinh tế, một số mô hình mới xuất hiện như kinh tế trang trại. Mô hình này
đã tăng nhanh về số lượng, đến cuối năm 1995, đã có 3.250 hộ làm kinh tế trang
trại, với mô hình sản xuất kinh doanh tổng hợp diện tích đất sử dụng từ 3ha đến
300ha; 9.500 hộ làm nông trại chiếm 9% số hộ làm nông nghiệp [30, tr. 21].
Về cơ cấu kinh tế vùng: Bước đầu hình thành những vùng phát triển một loại
cây công nghiệp để phát huy tối đa sự thuận lợi về khí hậu đất đai, đó là chè ở Văn
Chấn, Chè Shan ở Mù Cang Chải, vùng quế ở Văn Yên, vùng mía ở Văn Yên...
Song song phát triển những vùng trồng cây công nghiệp, thì đầu tư công nghệ xây
dựng nhà máy chế biến để tạo đầu ra cho sản phẩm đang là vấn đề cần được giải
quyết kịp thời, để thúc đẩy quá trình thâm canh, chuyên canh trong chiến lược
CDCCKT tạo ra hiệu quả năng suất cao.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, CDCCKT nông nghiệp trong những
năm 1991 - 1995 còn bộc lộ nhiều hạn chế như: Phát triển chưa toàn diện,
CDCCKT còn chậm, chưa rõ nét; khai thác tiềm năng thế mạnh từ điều kiện tự
nhiên đem lại vẫn chưa được phát huy (ngành thủy sản); việc quy hoạch các vùng
kinh tế đã có trong chủ trương chưa được xây dựng thành những dự án trọng điểm;
chưa huy động được vốn đầu tư, phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status