ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------
CAO THỊ HUỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………………………
CAO THỊ HUỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
2.2.1. Chủ trương chung của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ Nam
Định ..................................................................................................... 70
2.2.2. Quá trình tổ chức thực hiện ......................................................... 77
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ......................... 95
3.1. Một số nhận xét ................................................................................ 95
3.1.1. Ưu điểm ...................................................................................... 95
3.1.2. Hạn chế..................................................................................... 102
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ......................................................... 106
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 114
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 125
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
: Ban chấp hành
CC
: Cơ cấu
CNX
: Chủ nghĩa xã hội
CNH,
H
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với xuất phát điểm thấp nhưng ngành
nông nghiệp lại chính là thế mạnh của đất nước nếu được đi đúng hướng. Trong
bối cảnh hiện nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức, xu thế
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến mọi dân tộc, quốc gia. Để
nhanh chóng hội nhập với xu hướng phát triển của thế giới, Đại hội VI (1986)
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới, mở ra bước ngoặt quan
trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo đất nước thực hiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phấn đấu đến năm 2020
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Vì thế, thực
hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn luôn
là nhiệm vụ trọng tâm, được Đảng, nhà nước đặc biệt quan tâm và đã dành
nhiều công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo. Đảng cũng chỉ rõ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH là vấn đề trọng điểm trong
quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước, nhằm đưa đất nước đi lên, rút
ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới.
Tỉnh Nam Định từng là trung tâm kinh tế của khu vực đồng bằng Bắc bộ
đầu thế kỷ XX. Trước đây tỉnh được sát nhập với Hà Nam và Ninh Bình
thành tỉnh Hà Nam Ninh và được tái lập năm 1997. Nam Định là tỉnh có vị trí
địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh,
toàn diện.
ặc dù quyết tâm bứt phá bằng công nghiệp và dịch vụ nhưng
nông nghiệp của tỉnh vẫn có vị trí chiến lược quan trọng và là ngành cần được
ặt khác, hệ thống dịch vụ công, hệ thống
kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu, thiếu đồng bộ chưa phục vụ đắc lực cho
sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Vì những thành tựu cũng như bất cập trên mà sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp hiện nay đang là đề tài thu hút sự quan tâm của giới
nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho sự phát
triển đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu quá trình
Nam Định thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước
để phát triển nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh từ năm 1997 đến 2010, trở thành
là một yêu cầu cấp thiết nhằm lý giải những thành công cũng như hạn chế của
2
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh thời gian qua. Từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần đ y mạnh phát triển nông
nghiệp của tỉnh, với ý nghĩa đó nên tôi đã chọn vấn đề: "Đảng bộ tỉnh Nam
Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến 2010"
làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình cách mạng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) cũng như trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Chính vì vậy
đường lối, chủ trương của Đảng trên mặt trận nông nghiệp được các nhà lý
luận, các nhà lãnh đạo quan tâm nghiên cứu. Ngoài ra, trên phạm vi cả nước
đề tài nông nghiệp, nông thôn cũng thu hút giới nghiên cứu khoa học, các nhà
hoạt động thực tiễn. Trong công cuộc đổi mới đất nước, nhất là những năm
gần đây đã có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở
những góc độ khác nhau đã được công bố qua các cuộc hội thảo, sách chuyên
Hồng Vinh, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1998; Cuốn Huy động và sử
dụng các nguồn lực trong phát triển kinh tế nông thôn. Thực trạng và giải
pháp của tác giả Chu Tiến Quang, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội năm
2005; Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế của nông nghiệp
Việt Nam theo hướng CNH - HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “thời
đại kinh tế tri thức” của tác giả Lê Quốc Sử, NXB Thống kê, TP.Hồ Chí
inh năm 2001…Những cuốn sách chuyên khảo này là nguồn tư liệu không
thể thiếu cho các thế hệ sau tiếp tục nghiên cứu và học tập để làm sáng tỏ các
vấn đề về nông nghiệp, nông thôn.
Những bài viết xoay quanh vấn đề nông nghiệp nói chung và vấn đề cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng đăng trên các tạp chí như: Quan điểm của
Đảng về phát triển nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới của Đặng Kim Oanh
4
đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8/2009; Tiếp tục thực hiện mục tiêu CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị quyết đại hội IX của Hà
Hùng đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng số 11 năm 2002; Vấn đề nông dân,
nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay của Đỗ Kim Chung đăng trên Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số1 năm 2010;
Hội nghị TW7 khóa X- Bước phát triển đường lối của Đảng về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn của Trần Anh Phương đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 11/2008; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu trong tiến trình CNH, HĐH đất nước của Nguyễn Tấn
Dũng đăng trên Báo Nhân dân, số ra ngày 20/3/2002; Nông nghiệp Việt Nam
nửa đầu kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 của PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc, đăng
trên Tạp chí Cộng sản số 6 năm 2004; Nông nghiệp trong phát triển bền vững
ở nước ta của Trần Văn Chử, đăng trên Tạp chí Lý luận Chính trị, năm
2003... Dễ thấy các bài đăng trên tạp chí rất phong phú đa dạng về cách tiếp
những thành công cũng như những hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp trong địa bàn tỉnh Nam Định, để từ đó rút ra được những
bài học kinh nghiệm. Đó cũng là lý do để tác giả luận văn chọn đề tài “Đảng
bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1997 2010)” làm luận văn thạc sĩ sử học, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng Sản
Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích:
Góp phần làm rõ đường lối, quan điểm của Đảng về nông nghiệp và quá
trình Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh. Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm, nhằm phát huy tốt
hơn nữa việc chuyển dịch đúng hướng cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh
Nam Định.
6
- Nhiệm vụ:
+ Tập hợp nguồn tài liệu liên quan đến đề tài.
+ Trình bày hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng quan
điểm, đường lối của Đảng để lãnh đạo thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến 2010.
+ Phân tích, làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, kết quả
của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1997 đến 2010 ở
Nam Định.
+ Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm, đề xuất một số kiến nghị, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định trong
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo đường lối của Đảng trong
những năm tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn lấy Chủ nghĩa
ác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
inh và các quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn là
phương pháp luận để tác giả nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp
Logic là hai phương pháp chính mà tác giả luôn vận dụng. Qua kết hợp hai
phương pháp này, vấn đề phát triển nông nghiệp ở Nam Định trong bối cảnh
phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh được xem xét trên các giai đoạn phát
triển kế tiếp nhau với những tính chất, trạng thái cụ thể. Nhờ so sánh trạng
thái phát triển về chất ở mỗi giai đoạn mà tác giả thấy được những thay đổi
nội tại của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh theo dòng chảy thời gian, từ
đó làm rõ được sự phát triển của nó.
8
Phương pháp Phân tích và Tổng hợp cũng được vận dụng trong đề tài.
Qua phân tích để thấy được cái đặc thù, thuận lợi, khó khăn của tỉnh, những
nguyên nhân của mặt được và chưa được của sự phát triển nông nghiệp ở
Nam Định. Qua tổng hợp để thấy cái toàn cục, sự nổi trội như điểm sáng của
Nam Định về tốc độ tăng trưởng kinh tế- xã hội nói chung, về nông nghiệp
nói riêng.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp khảo sát thực tế, phương
pháp so sánh, thống kê, đánh giá...
Định trải rộng từ Vĩ độ: 19°54′ đến 20°40′ độ vĩ Bắc, Kinh độ: 105°55′ đến
106°45′ độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp tỉnh Thái
Bình, phía Đông Nam và Nam giáp với biển Đông và phía Tây giáp tỉnh Ninh
Bình. Tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố, 230 xã, phường, thị trấn, thành phố
Nam Định là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh, cách thủ đô Hà
Nội 90 km về phía Nam, Cảng Hải Phòng 100 Km về phía Đông.
Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của Tam giác tăng
trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và tuyến hành lang kinh tế Côn
Minh – Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hành lang Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà
Nội - Hải Phòng và Vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ, có mạng lưới giao
thông thuận lợi tạo điều kiện cho Nam Định phát triển sản xuất hàng hoá quy
mô lớn và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong vùng, cả nước
và quốc tế. Song mặt khác cũng là một thách thức lớn đối với Nam Định
trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Là mảnh đất nằm giữa hai con sông lớn: sông Hồng và sông Đáy tạo nên
địa giới tự nhiên giữa Nam Định với hai tỉnh Thái Bình, Ninh Bình. Sông Đào
phân chia Nam Định thành hai vùng Nam - Bắc. Sông Ninh Cơ, sông Sò là
giới hạn các huyện trong tỉnh. Nam Định có bờ biển dài 72 km, vùng kinh tế
10
giàu tiềm năng có khả năng triển khai, thực hiện nhiều đề án phát huy thế
mạnh kinh tế biển của tỉnh.
Địa hình: Địa hình chủ yếu là đồng bằng – ven biển và thấp dần từ Tây
Bắc xuống Đông Nam, Nam Định nằm giữa hai đứt gãy sâu là đứt gãy sông
Hồng chạy theo sông Đáy và đứt gãy sông Chảy đi xuống theo dòng sông
Hồng ra cửa Ba Lạt, dọc theo đó châu thổ bị sụt lún, khiến cho bề dày trầm
tích Đệ tam và Đệ tứ bên trên nền móng Nguyên sinh có chỗ dày đến 300m.
Tuy nhiên mức độ sụt võng và tuổi sụt võng cũng khác nhau giữa phần phía
ngành nghề truyền thống, các phố nghề… cùng với các ngành dịch vụ tổng
hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu.
Khí hậu: Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định
mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng m. Hướng gió chính là Đông Nam và
Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 25 – 26 °C. Tháng lạnh nhất là
các tháng 12 và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17 °C. Tháng 7 nóng nhất,
nhiệt độ khoảng trên 30 °C.
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 – 1.800 mm, chia làm 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2
năm sau. Số giờ nắng trong năm: 1.650 – 1.700 giờ. Độ m tương đối trung
bình: 80 – 85 .
ặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm
Nam Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân
từ 4 – 6 cơn/năm. [116, tr.18]
Vị trí Đông Nam và giáp biển của Nam Định trong đồng bằng sông
Hồng còn giải thích sự giảm bớt tính khô lạnh của khí hậu trong tỉnh về mùa
đông và sự gia tăng ảnh hưởng của gió bão, sóng bão và mưa bão trong mùa
hè. Khí hậu của Nam Định còn chịu ảnh hưởng của dải đồi núi chạy theo rìa
Tây Bắc – Đông Nam của đồng bằng sông Hồng, đó là bức chắn đối với gió
mùa Tây Nam, làm tăng thời tiết mưa - m vào mùa đông và thời tiết nóng
khô vào mùa hè, nhất là mạn ven biển.
12
Khí hậu Nam Định nhìn chung rất thuận lợi cho môi trường sống con
người, sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và du lịch, mùa đông cho
phép phát triển nhiều loại rau màu có giá trị kinh tế cao.
13
kim loại: có các vành phân tán Inmenit, Ziarcon, mônazit, tại Hải Hậu và
Nghĩa Hưng, có quy mô nhỏ. Ngoài ra, còn có quặng titan, zicôn với trữ
lượng ít. Các nguyên liệu sét: bao gồm sét làm gốm sứ ở núi Phương Nhi đã
được khai thác phục vụ xí nghiệp gốm sứ Bảo Đài; sét gạch ngói nằm rải rác
ở các bãi ven sông như Đồng Côi (Nam Trực), trữ lượng 2 triệu tấn; Sa Cao
(Xuân Trường) trữ lượng 5 – 10 triệu tấn; Hoành Lâm (Giao Thuỷ)…, sét làm
bột màu có ở Nam Hồng (Nam Trực). [116, tr.29]
Tài nguyên rừng của tỉnh năm 2000 có diện tích 4.723 ha, chủ yếu là
trồng rừng phòng hộ ở các huyện ven biển để chắn sóng bảo vệ đê biển, ở các
đồi trọc thuộc huyện Ý Yên, Vụ Bản và các bãi bồi ven biển. [13]
Tài nguyên nước và nguồn thủy hải sản:
Nam Định nằm giữa hai con sông lớn của đồng bằng Bắc bộ là sông
Hồng và sông Đáy cùng với nhiều sông nhỏ khác giúp cho giao thông đường
thuỷ thuận lợi và bồi đắp phù sa, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hệ
thống sông ngòi dày giúp Nam Định có lợi thế về nước tưới và hàng năm phù
sa được bồi đắp thêm đất đai, nhất là các huyện phía Nam tỉnh. Cạnh đó là hệ
thống thuỷ nông được đầu tư nhiều năm đã và đang phát huy tác dụng. Nước
ngầm vùng ven biển có trữ lượng và chất lượng tốt, đặc biệt là nguồn nước
chứa trong các sông, hồ, ao rất lớn, nước các sông có trữ lượng phù sa nhiều
phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Bên cạnh tài nguyên nước, nguồn lợi thuỷ hải sản ở Nam Định cũng rất
phong phú và đa dạng (gồm thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn). Vùng
cửa sông còn có nhiều tảo và thực vật thuỷ sinh là thức ăn cho cá, ốc, tôm,
cua... Tổng diện tích mặt nước có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản có khoảng
22.000 ha, trong đó vùng mặn lợ khoảng 8.500 ha, vùng nước ngọt có khoảng
13.500 ha.
khai thác tiềm năng các vùng kinh tế.
Nguồn nhân lực: Nam Định là tỉnh có dân số đông và lực lượng lao động
khá lớn, đứng thứ 6 trong toàn quốc. Năm 2006 dân số là 1.975.181 người,
trong đó dân số nông thôn chiếm 83,9 , thành thị chiếm 16,1 ; mật độ dân
15
số bình quân gần 1.197 người/km2, cao hơn mật độ bình quân của cả nước và
vùng đồng bằng sông Hồng. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên của tỉnh là
1,41 , và đến năm 2010 tỉnh có khoảng 2,3 triệu dân. [15] Quy mô dân số
thành thị những năm gần đây tăng nhanh hơn dân số vùng nông thôn. Đây là
chiều hướng phù hợp với quá trình đô thị hoá đang phát triển.
Số người trong độ tuổi lao động chiếm 50
nghìn người. Có 84,7
2,26
dân số, năm 2006 là 984,4
lao động làm việc trong các ngành kinh tế và khoảng
số lao động chưa có việc làm. Cùng với quá trình tăng trưởng dân số,
hàng năm dân số lao động được bổ sung vào lực lượng lao động xã hội, chủ
yếu là lao động trẻ khá cao. Trong cơ cấu lao động, lao động trong ngành
nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ lớn gần 80
[13]. Việc sử dụng lao động còn
một khoảng cách khá lớn so với tiềm năng sẵn có, đặc biệt là nguồn lực lao
bình so với mức bình quân trong cả nước, nhưng lại có chỉ số phát triển con
người cao. Nam Định là tỉnh đã có đầu tư ngân sách cao so với GDP trong các
lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và là một trong những
tỉnh có an ninh lương thực cao ở đồng bằng Bắc Bộ, luôn có mức tăng trưởng
mạnh từ 447 kg/người năm 1995 lên 506 kg /người năm 1999 [13]. Về cơ
bản nhu cầu lương thực được thoả mãn, mức sống của cư dân được cải thiện
không ngừng. Số hộ có nhà ở chiếm tỷ lệ cao và nhu cầu về nhà ở của người
dân Nam Định về cơ bản đã được đáp ứng. Năm 1999 có trên 99,6
số hộ gia
đình ở khu vực nông thôn có nhà ở riêng bao gồm nhà kiên cố và nhà bán
kiên cố, nhà khung gỗ và nhà đơn sơ, trong đó, nhà kiên cố và bán kiên cố
chiếm 89,2
tổng số nhà ở. Tỷ lệ dân số được tiếp cận nước sạch là 91,6
cao hơn nhiều tỉnh trong khu vực; điện thắp sáng đã về tới tất cả các thôn xã;
hệ thống giao thông nông thôn được củng cố và phát triển góp phần tích cực
cho phát triển sản xuất và nhu cầu đi lại của nhân dân; hệ thống y tế có ở tất
cả các xã, các huyện đều có trung tâm y tế và bệnh viện đa khoa. Số bác sĩ
trên 100.000 người dân là 41 người (1998), số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm
chủng là 99,4
(BCG-1998) và 96,4
(sởi 1998) [13].
Như vậy, Nam Định có điều kiện tự nhiên – xã hội hết sức thuận lợi cho
phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, bền vững. Là vùng đất có 2 cửa sông
25 tấn qua chế biến. [78]
Nhằm khắc phục các nhược điểm, sai lầm trong quản lý nông nghiệp, và
để cụ thể hóa nội dung đổi mới trong nông nghiệp, ngày 05 - 4 -1988 Bộ
chính trị (khoá VI) ra Nghị quyết 10 - NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế
19
nông nghiệp. Quan điểm cơ bản của Đảng về quản lý nông nghiệp là coi HTX
như đơn vị kinh tế tự quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, nhận
khoán với HTX.
Khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có thông báo số 62, chỉ đạo cơ bản về tinh
thần Nghị quyết 10. Tiếp đó Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết 18 về “Đổi mới quản lý
kinh tế trong nông nghiệp”, tỉnh đã nhạy bén tiếp thu, vận dụng sáng tạo và
kh n trương triển khai tiến hành nhiều việc: Từ tổ chức lại sản xuất đến việc
đổi mới cơ chế quản lý trong các HTX, đến đổi mới quản lý ở các xí nghiệp
kinh doanh, các thành phần kinh tế khác trong nông thôn. Đồng thời Nghị
quyết cũng nêu lên một số vấn đề định hướng cho công tác đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp về: Quy mô HTX nông nghiệp, vấn đề giao ruộng cho xã
viên, về dịch vụ phục vụ sản xuất, và về chính sách xã hội ở nông thôn. [75]
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991), Đại hội
vẫn tiếp tục xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Trong “Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” của Đại hội nêu rõ:
Phát triển nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tếxã hội [19, tr.12]. Quán triệt Nghị quyết Đại hội VII, Đại hội Đảng bộ lần thứ
V đã đề ra mục tiêu là tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực
nhất là trong nông nghiệp. Năm 1992, UBND Tỉnh đã ra Quyết định số 115QĐ/UB thực hiện giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân. Công
tác thuỷ lợi được đặc biệt coi trọng, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất - kỹ
thuật cho nông nghiệp, nông thôn. Đảng bộ cũng đặc biệt coi trọng chỉ đạo