Đảng bộ tỉnh hà nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tu nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ NGUYỆT

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM LÃNH ĐẠO
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành:Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2011


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn. ................................................................. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................... 6
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn. ..................................................... 7
7. Kết cấu luận văn: ........................................................................................... 7
Chƣơng 1: BƢỚC ĐẦU LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1997 – 2000 ................................................. 8
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng kinh tế nông nghiệp tỉnh
Hà Nam trước năm 1997 ................................................................................... 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội .................................................... 8
1.1.2. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Hà Nam và nhu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp .................................................................................. 13



MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh nông nghiệp luôn đóng vai trò to
lớn đối với sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước bởi sản xuất nông nghiệp
tạo ra lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo
nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển. Sinh thời Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng chỉ dạy: vì nước ta là một nước nông nghiệp, mọi việc
đều dựa vào nông nghiệp cho nên các cơ quan Nhà nước phải quan tâm hơn
nữa, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của ngành mình trong sản xuất nông
nghiệp.Thực hiện lời di huấn của Người, trong quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, Đảng luôn quan tâm tới sự phát triển của ngành nông nghiệp,
khẳng định vai trò nền tảng của kinh tế nông nghiệp và mối quan hệ biện
chứng giữa phát triển nông nghiệp với sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản.
Đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản, cung cấp nhiều loại sản phẩm thiết yếu
cho đời sống xã hội, là thị trường rộng lớn của ngành công nghiệp, cung cấp
nguồn nhân lực và tạo nên tích lũy ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Phát triển kinh tế nông nghiệp trong tình hình hiện nay
là nhằm tạo dựng một nền nông nghiệp có cơ cấu kinh tế hợp lý, phát huy mọi
tiềm năng sản xuất, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, giải
quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho đông đảo nông
dân.
Hà Nam cũng như các tỉnh ở đồng bằng Sông Hồng, là nơi các hoạt
động nông nghiệp xuất hiện và phát triển từ rất sớm. Theo kết quả của Tổng
điều tra dân số và nhà ở năm 2009: gần 90% dân số và hộ gia đình ở Hà Nam

1

2


Nam. Tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Hà Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu
mà Đảng đã đề ra là: tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì thế, đề tài về nông nghiệp,
nông thôn đã và đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu không riêng giới khoa
học mà cả những nhà hoạt động thực tiễn. Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều
sách, luận án, bài viết được công bố.
Cuốn sách “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn Việt Nam” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
(2002) trình bày rất hệ thống quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn
của Đảng từ Đại hội III đến Đại hội IX, đồng thời đưa ra một số mô hình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của các nước như Đài Loan,
Hàn Quốc…để tham khảo. Cuốn sách “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc”, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Hà Nội (2009) đã chỉ rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đang
đặt ra trong quá trình đổi mới, thưc hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn; đồng thời khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn
liên hệ không tách rời nhau trong sự phát triển. Cùng với cuốn “Đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam” của tác giả Trương Thị Tiến,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (1998) là cuốn “Nhân tố mới trong
sự nghiệp đổi mới” (1999) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Ban

những công trình quan trọng được công bố như “Những sự kiện Lịch sử Đảng

4


bộ tỉnh Hà Nam 1975-2000” xuất bản năm 2004; “Địa chí Hà Nam” xuất
bản năm 2004 ; “Hà Nam thế và lực mới trong thế kỷ XXI” xuất bản năm
2005; “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam(1927-1975)” xuất bản năm 2004;
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam (1975-2005) xuất bản năm 2010. Về kinh tế
nông nghiệp, hàng năm có đánh giá của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và báo
cáo tổng kết của các ban, ngành có liên quan như Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn; Hội nông dân. Tuy vậy, trong 13 năm này, chưa có công trình
được công bố nào nghiên cứu riêng và toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh đối với nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; trong
khi, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Hà Nam đã đạt nhiều kết quả trong
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đúc rút được nhiều kinh nghiệm
quý. Song tất cả những nghiên cứu kể trên, dưới các góc độ tiếp cận khác
nhau đã tạo thuận lợi cho tác giả luận văn tham khảo giải quyết các nhiệm vụ
mà luận văn đề ra.
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn.
Mục đích: Tổng kết thực tiễn địa phương, đánh giá thành tựu, hạn chế
trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Hà
Nam. Qua đây, rút ra những kinh nghiệm góp phần hoàn chỉnh chủ trương,
đường lối, giải pháp tổ chức thực hiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để đạt được mục đích, luận văn xác định nhiệm vụ sau:
- Đánh giá thực trạng nông nghiệp của Hà Nam trước ngày tái lập tỉnh
để thấy được nhu cầu phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
- Trình bày hệ thống các chủ trương, chính sách của Đảng và Đảng bộ
tỉnh Hà Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và quá trình tổ chức

- Các công trình chuyên khảo, các bài nghiên cứu về đề tài nông nghiệp
được đăng tải trên báo chí.

6


- Các số liệu điều tra, thống kê, khảo sát từ thực tiễn phát triển kinh tế
nông nghiệp Hà Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông
thôn là phương pháp luận để luận văn xem xét các vấn đề nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng phương pháp lịch sử và
lôgíc, đây là hai phương pháp chính. Với từng vấn đề cụ thể, luận văn sẽ sử dụng
các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh... một cách phù hợp.
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn.
Luận văn góp phần tổng kết quá trình thực hiện chủ trương chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng tại một địa phương thuộc Đồng bằng
Sông Hồng trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn.
Luận văn góp phần vào việc tổng kết lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam
trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Luận văn có thể sử dụng để làm tư liệu tham khảo cho: công tác tham
mưu, bài giảng giáo dục chính trị, các cấp ủy Đảng, Sở nông nghiệp và phát
triển nông thôn tỉnh Hà Nam...
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, luận chia làm 3 chương.

7


khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và tranh thủ các nguồn lực từ bên
ngoài phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đất đai và địa hình Hà Nam tương đối đa dạng, vừa có thuận lợi vừa
có khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Tổng diện tích là 851,5km2 (năm
2002) với hai loại địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Phía tây là vùng núi
bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất và đồi rừng. Xuôi về phía đông là
vùng đồng bằng được bồi tụ bởi sông Hồng, sông Đáy, sông Châu. Đất ở đây
có độ phì trung bình, thuận lợi cho canh tác các loại cây trồng thuộc nhóm cây
lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và mở rộng diện tích
đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng với các hệ thống canh tác, tưới nước
hoặc không tưới nước. Tuy nhiên, do quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi
khí hậu trong vùng nên Hà Nam có nhiều vùng đất trũng, thường xuyên ngập
úng và bị phèn chua.
Với đặc trưng vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung
bình năm là 23,40C. Lượng mưa trung bình là 1.900mm/ năm, phân bố không
đều, khoảng 70% tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 9. Độ ẩm trung
bình năm là 85%. Với hệ thống sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Đáy,
sông Nhuệ, sông Châu…cùng một số hồ, đập, đảm bảo cung cấp nước cho
hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Với điều kiện nêu trên, Hà
Nam có nhiều thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa dạng với
nhiều loại động, thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Hạn chế lớn nhất
của khí hậu, thuỷ văn Hà Nam là mùa khô thiếu nước và mùa mưa thường bị
bão gây ngập úng.
Về tài nguyên: Ngoài tài nguyên đất, Hà Nam còn có nguồn tài nguyên
khoáng sản phong phú, trữ lượng không nhỏ, chủ yếu là các loại đá vôi dùng
làm nguyên liệu cho sản xuất ximăng, vôi, sản xuất bột nhẹ và sản xuất vật
liệu xây dựng. Cùng tài nguyên khoáng sản, địa hình và điều kiện tự nhiên đa

9

10


bằng sông Hồng, Hà Nam có dân số không đông, lực lượng lao động không
lớn song điểm nổi trội của cư dân và lao động Hà Nam là truyền thống lao
động cần cù, có khả năng tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật,
công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống [5, tr.67].
Hà Nam còn là một vùng đất vốn có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa.
Nơi đây là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” được nhiều người biết đến với di sản
“văn hóa Liễu Đôi” nổi tiếng, vùng “thánh địa Tiền Lê Bảo Thái” đã được
Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; vùng đất của
những võ tướng, danh nhân như Cao Thị Liên, Lê Hoàn, Trần Trọng Bình,
Đinh Công Tráng, Phó bảng Trương Công Giai, Hoàng giáp Lê Tung, thám
hoa Nguyễn Quốc Hiệu, tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, Nam Cao,
Nguyễn Hữu Tiến...Những truyền thống đó lại được phát huy mạnh mẽ khi
Đảng ra đời lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc, thực dân, phong kiến
giành độc lập cho dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân. Đảng bộ Hà Nam
tự hào là một trong những Đảng bộ được thành lập rất sớm, ngay sau khi
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Liền sau đó Đảng bộ Hà Nam đã lãnh đạo
quần chúng nhân dân, nhất là nông dân đứng lên: “nổi trống Bồ Đề” ngày
20.10.1930 lịch sử. Trong thư gửi Quốc tế nông dân ngày 5.11.1930, đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: Hà Nam là một trong những tỉnh có phong trào
nông dân phát triển qua cao trào cách mạng 1930-1931. Với truyền thống vẻ
vang đó, Đảng bộ và nhân Hà Nam đã nhiều lần vinh dự tự hào đón Chủ tịch
Hồ Chí Minh về thăm. Trong khí thế vui mừng phấn khởi của cuộc bầu cử
quốc hội khóa I thành công, ngày 11.1.1946 Bác Hồ kính yêu về thăm và căn
dặn Đảng bộ cùng nhân dân Hà Nam rằng: Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ phải
nêu cao tinh thần đoàn kết, chống ngoại xâm, trừ nạn đói, bảo vệ nền độc lập
tự do. Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã phấn đấu
giành nhiều thành tựu cả về kinh tế - chính trị - xã hội-văn hóa góp phần vào


12


1.1.2. Thực trạng nông nghiệp tỉnh Hà Nam và nhu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp
Thực trạng nông nghiệp tỉnh Hà Nam
Ngày 13-01-1992, thực hiê ̣n chủ trương của Bô ̣ Chiń h tri ̣Ban chấ p
hành Trung ương Đảng (Khoá VII ), Ban chấ p hành Đảng bô ̣ tin̉ h Hà Nam
Ninh ra Nghi ̣quyế t số 32-NQ/TU về việc lañ h đa ̣o, chỉ đạo tổ chức thực hiện
viê ̣c chia tách tin
̉ h Hà Nam Ninh, thành lập lại hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình.
Tỉnh Nam Hà gồm Nam Định và Hà Nam.
Thực hiện chương trình lương thực - thực phẩm của tỉnh . Các cấp uỷ
đảng tăng cường lãnh đạo sản xuất nông nghiệp . Sau 7 năm thực hiê ̣n Nghi ̣
Quyế t 10 của Bộ Chính trị về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp

; sau 4

năm thực hiê ̣n Quyế t đinh
̣ số 115/QĐ-UB ngày 15-02-1992 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh về việc ban hành quy định những nội dung đổi mới tổ chức quản lý
hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh. Rút kinh nghiệm thí điểm tại hợp tác xã
Khả Phong (huyện Kim Bảng ), các địa phương thuộc khu vực Hà Nam tập
trung điề u chỉnh đấ t đai, giao quyề n sử du ̣ng ruô ̣ng đấ t lâu dài cho hô ̣ xã viên;
đổ i mới nô ̣i dung, phương thức hoạt động của các ban quản lý hợp tác xã. Các
hơ ̣p tác xã sau khi sắ p xế p la ̣i , bô ̣ máy ban quản lý đã đươ ̣c bố trí go ̣n nhe ̣ , tổ
chức dich
̣ vu ̣ được nhiề u khâu , bước đầ u có hiê ̣u quả . Vố n, quỹ, tài sản hợp
tác xã được k iể m kê xác đinh

vào sản xuất , thực hiê ̣n chương triǹ h cấ p I hoá giố ng lúa , giố ng ngô ở các
vùng trọng điểm lương thực . Thay đổ i cơ cấ u mùa vu ̣, bố trí cơ cấ u cây trồ ng
hơ ̣p lý , phá thế độc canh cây lúa . Thực hiê ̣n tố t các biện pháp thâm canh tăng
năng suấ t . Sớm phát hiê ̣n và chuẩ n bi pho
̣ ̀ ng trừ sâu bê ̣nh . Tiế p tu ̣c làm thuỷ
lơ ̣i, hoàn thành kế hoạch đắp và bồi trúc đê. Thường xuyên kiể m tra, phát hiện
những đoạn đê xung yế u , có biện pháp xử lý kịp thời, giữ vững đê trong mùa
mưa lũ . Đẩy mạnh công tác khuyến nông , và công tác thuỷ lợi . Khẩ n trương
thực hiê ̣n giao đấ t , giao rừng cho nông dân. Từng bước công nghiê ̣p hoá , hiê ̣n
đa ̣i hoá nông nghiê ̣p , nông thôn. Chuyể n di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông thôn theo
hướng phát triể n công nghiê ̣p - dịch vụ ở nông thôn , mở rô ̣ng ngành nghề ,
thực hiê ̣n xoá đói giảm nghèo.
Nhờ vậy, từ 1992-1996, mặc dù năm nào nông nghiệp cũng chịu thiệt
hại do thiên tai, nhất là trận lũ lụt năm 1996 nhưng bình quân lương thực đầ u
người trong toàn tỉnh Nam Hà vẫn đa ̣t

374kg; sản lượng lương thực của 6,

huyện, thị xã thuộc khu vực Hà Nam đạt bình quân đạt 43.372 tấn/năm. Trong
đó, cao nhất là huyện Bình Lục đạt 85.300 tấn/năm, tăng 37,15% so với 5

14


năm 1986 – 1990, thấp nhất là thị xã Hà Nam đạt 2.165 tấn/năm.
Chăn nuôi phát triể n đa da ̣ng. Tỉ tro ̣ng chăn nuôi đa ̣t từ 26-28% tổ ng giá
trị sản lượng nông nghiệp. Nuôi trồ ng và chế biế n thuỷ sản có chuyển biến rõ
rê ̣t. Các hộ gia đình nhận đấu thầu , nhâ ̣n khoán ao hồ , đầ m nuôi thả cá , tôm,
đã chủ đô ̣ng đầ u tư cải ta ̣o la ̣i ao hồ , tổ chức sản xuấ t kinh doanh ổ n đinh
̣ lâu

bình dưới 10m, được chia làm 6 loại gồm: (1) đất phù xa được bồi hàng năm
ven sông (sông Hồng, sông Châu, sông Đáy, thuận lợi cho trồng mía, đay, lạc,
ngô khoai, lúa....); (2) Đất phù xa không được bồi, ít chua trong đê (thuận lợi
cho trồng lúa, nơi đất trũng kết hợp canh tác lúa cá); (3) Đất phù xa không
được bồi, có glây chua (đất trũng tiêu nước kém, chỉ dùng cấy lúa 2 vụ); (4)
Đất phù xa không được bồi trung tính (được sử dụng để cấy lúa 2 vụ cho năng
suất cao); (5) Đất phù xa không được bồi đọng nước (loại đất này ở địa hình
thấp nhất của đồng bằng, phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi, cũng chỉ dùng cấy
lúa và kết hợp lúa cá); (6) Đất than bùn (đất này canh tác khó khăn, trồng lúa
năng xuất thấp và chủ yếu để nuôi trồng thủy sản.). Nhóm ( 2) và(3) là đất
đồi, núi thấp, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên thích hợp trồng cây lâm nghiệp,
một số cây công nghiệp và cây ăn quả, ít thích hợp để trồng lúa). Thời điểm
năm 1997, tỉnh có 6 đơn vi ̣hành chính cấ p huyê ̣n , thị xã là các huyện Duy
Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, Thanh Liêm, Kim Bảng và thi ̣ xã Phủ Lý; 114 đơn
vị cấp cơ sở gồm

104 xã, 4 phường, 6 thị trấn (từ năm 2008 có 116 xã,

phường). Dân số của tỉnh trên 81 vạn, mâ ̣t đô ̣ dân số 950 người/km2. Toàn
tỉnh có 384,3 nghìn lao động, trong đó 89,3 % lao đô ̣ng nông nghiê ̣p , dân số
nông thôn chiế m chủ yế u số dân trong tin̉ h [5, tr.6; 45, tr.122].
Tài nguyên đất tuy phong phú nhưng không nhiều thuận lợi để trồng
lúa cho năng suất cao. Trồng rừng và cây ăn quả còn hạn chế, chưa khai thác
triệt để nguồn tài nguyên, trong khi việc phát triển nông nghiệp lại phụ thuộc
rất nhiều vào hệ thống thủy lợi. Dưới tác động của khí hậu và thời tiết, cơ sở
hạ tầng đầu tư cho nông nghiệp còn lạc hậu, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp
dụng còn hạn chế. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp dần do yêu
cầu quá trình đô thị hóa. Nguồn lực lao động nông nghiệp khá đông nhưng
còn hạn chế về kỹ thuật, trình độ thâm canh, khả năng phát triển thủy sản còn



1.2. Đảng bộ Hà Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
từ năm 1997 - 2000
1.2.1. Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ
Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa phát triển nông nghiệp và công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng luôn quan tâm đầu tư cho nông
nghiệp phát triển. Những nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách quan
trọng của Đảng về lĩnh vực này từ sau Đại hội VI (1986) nhất là từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1998) đến nay như những luồng gió mới, trực
tiếp khơi dạy các tiềm năng phát triển nông nghiệp.
Nghị quyết Đại hội VIII (12/1996) của Đảng chỉ rõ nội dung cơ bản của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp những năm còn lại của thập kỷ 90 là:
“- Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp, hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, có sản phẩm hàng
hóa nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực
trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường
trong, ngoài nước.
- Thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa...
- Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với công nghệ
ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị...”
[8, tr.87].
Tháng 11 năm 1997, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII họp
Hội nghị lần thứ 4 bàn nhiều vấn đề, trong đó nhấn mạnh việc cần tập trung
thực hiện đến 2000 là: Đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn
với phân công lao động ở nông thôn; giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ
nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động
của các cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và nông thôn.

18




hoạt động kinh tế nhà nước trong nông nghiệp hướng vào dịch vụ đầu vào,
đầu ra, đầu tư vào các địa bàn mà các thành phần khác không đủ sức hoặc
không muốn đầu tư, hoặc để hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát
triển, trước hết là các lĩnh vực thủy lợi, cơ khí, điện, xây dựng cơ sở hạ tầng,
khoa học- công nghệ, công nghiệp chế biến và kinh doanh xuất nhập khẩu các
mặt hàng nông, lâm, hải sản có ý nghĩa lớn về kinh tế- xã hội và đảm bảo an
ninh quốc phòng; khuyến khích đầu tư hoặc liên kết, liên doanh các thành
phần kinh tế khác dưới mọi hình thức; từng bước xây dựng các hợp tác xã
nông nghiệp theo luật hợp tác xã, chú trọng liên kết kinh tế nhà nước với các
thành phần kinh tế khác. Tạo điều kiện và khuyến khích mạnh mẽ hộ nông
dân và những người có khả năng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông
nghiệp, công nghiệp dịch vụ ở nông thôn [1, tr.26].
Quán triệt chủ trương chung của Đảng. Nhận thức rõ xuất phát điểm
kinh tế nông nghiệp của tỉnh thấp trong khi sự cạnh tranh trong khu vực ngày
càng gay gắt. Ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh Hà Nam, Đảng bộ tỉnh lâm
thời đã tập trung chỉ đạo triển khai tốt chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về phát triển nông nghiệp nhằm phát huy lợi thế của tỉnh thuần
nông, tạo đà cho công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển. Thực sự coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, ưu tiên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp “trong một số năm tới, Hà Nam vẫn phải coi sản xuất nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, cần tiếp tục tập trung đẩy mạnh phát triển nông
nghiệp toàn diện, tăng nhanh nông sản hàng hóa, đảm bảo vững chắc về
lương thực cho người và các nhu cầu khác, đồng thời cần lựa chọn phương
án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp để tạo được giá trị thu nhập
cao nhất trên một đơn vị diện tích” [41, tr.10].
Ngày 12- 01-1997, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh đã ra Nghị
quyết số 01-NQ/TU về “Những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt”. Nghị quyết


21


Để quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả hơn. Ngày 07- 051998, Ban Thường Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 10-CT/TU về “Tăng
cường quản lý sử dụng đất đai”. Trên cơ sở đó hoàn chỉnh việc giao đất lâu
dài cho nông dân sản xuất. Chỉ thị yêu cầu:
“- Các đơn vị chỉ đạo làm tốt việc kiểm kê tài sản cố định là đất theo sự
chỉ đạo của Trung ương; triển khai việc làm thủ tục về hợp đồng cho thuê đất
đối với doanh nghiệp; làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
thu hồi đất đai sử dụng sai mục đích, lãng phí hoặc sử dụng không hiệu quả.
- Các ngành các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của ngành
mình, địa phương mình đến năm 2010.
- Đẩy nhanh tiến độ đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho hộ nông dân nhằm tạo ra động lực phát triển sản xuất nông nghiệp, nông
thôn và tạo điều kiện quản lý đất đai tốt hơn.
- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất trên địa
bàn, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý sử dụng
đất...”[62, tr.426].
Trong quá trình tổ chức thực hiện giao ruộng đất giao cho hộ nông dân
đã xuất hiện tình trạng manh mún và phân tán, ảnh hưởng không nhỏ đến quá
trình cơ giới hóa, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Để khắc phục
tình trạng này, ngày 4-5-2000 Ban Thường vụ tỉnh ủy ra Chỉ thị số 15CT/TU về “Chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, nhằm khắc phục tình trạng
manh mún, phân tán ruộng đất”. Chỉ thị nêu rõ: Cấp ủy, ủy ban nhân dân các
cấp, Ban cán sự đảng, đảng đoàn, các sở, ngành, đoàn thể có liên quan làm tốt
những nhiệm vụ sau:
“- Tuyên truyền rõ lợi ích của việc chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp,
khuyến khích các hộ nông dân bàn bạc dân chủ: tự nguyện, tự giác thực hiện
chuyển đổi, phấn đấu mỗi hộ không nên quá 5 thửa đất nông nghiệp, những

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status