đảng bộ tỉnh hà tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1991 2006 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN VĂN TRIỆU

ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ (1991 - 2006)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2009


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN VĂN TRIỆU

ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ (1991 - 2006)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng CSVN
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Thế Hanh

HÀ NỘI – 2009

nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, Hà Tây cũng còn nhiều
hạn chế và đứng trước nhiều vấn đề nảy sinh: phát triển kinh tế chưa cao,
chưa khai thác hết tiềm năng, cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu; chưa phát
1


triển bền vững và đi vào chiều sâu; thu nhập bình quân đầu người thấp hơn
bình quân chung cả nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và trong nội bộ
từng ngành kinh tế còn nhiều hạn chế: vấn đề chuyển dịch đất nông nghiệp,
phát triển các khu công nghiệp, thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ, giải quyết
việc làm cho người lao động… đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Hà Tây phải tiếp
tục nghiên cứu và giải quyết trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Vì vậy, nghiên cứu quá trình Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ 1991 - 2006, từ đó rút ra những kinh nghiệm trong lãnh đạo, tổ
chức thực hiện có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng không chỉ đối với
địa phương mà còn có giá trị tham khảo trên phạm vi cả nước.
Trong khi triển khai đề tài "Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế (1991 - 2006)" cho luận văn thạc sỹ của mình thì tỉnh Hà Tây còn
là đơn vị hành chính độc lập, đến năm 2008, Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội.
Việc Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh thực hiện quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế - xã hội (1991 - 2006) là một thực tế với những chủ
trương, kế hoạch, giải pháp và hiệu quả cụ thể. Nay Hà Tây không còn là đơn
vị hành chính độc lập, một Đảng bộ riêng nhưng vấn đề trên đã trở thành một
phần lịch sử của Đảng bộ và nhân dân Hà Tây trong sự nghiệp đổi mới.
Xuất phát từ nhận thức đó, tác giả kiên định chọn vấn đề “Đảng bộ Hà
Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1991 - 2006” làm đề tài luận văn
thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

công trình nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trên phạm vi cả nước hoặc các vùng kinh tế. Có rất ít các công trình
nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một địa phương, nhất là về quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa bàn tỉnh Hà Tây dưới góc độ lịch sử.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ quá trình Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo và tổ chức thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1991 - 2006.
- Đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hà Tây giai đoạn 1991 - 2006.
- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của Đảng bộ Hà Tây.
Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận
văn là:

3


Thứ nhất, Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Hà
Tây vận dụng đường lối của Đảng vào lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của tỉnh từ 1991 – 2006.
Thứ hai, Nêu bật những thành tựu chủ yếu cũng như hạn chế của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Tây.
Thứ ba, Tổng kết và rút ra những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ Hà Tây trong giai đoạn 1991 - 2006.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh
đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1991 đến năm 2006 trên cơ sở đường
lối đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng tại địa phương.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn nghiên cứu của luận văn là:

riêng cho đến khi sáp nhập vào Thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài
liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Đảng bộ Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991
– 1995)
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ 1996 đến 2006
Chương 3. Kết quả và kinh nghiệm

5


Chương 1
ĐẢNG BỘ HÀ TÂY LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
(1991 – 1995)
1.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế
Khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và
mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ thống. Sau một thời gian
biến đổi, các quan hệ giữa các bộ phận sẽ làm cho cơ cấu của hệ thống thay
đổi, nó chuyển sang một trạng thái khác về chất hay trở thành một cơ cấu
khác. CCKT (của một quốc gia) có thể được hiểu là tập hợp các yếu tố kinh
tế cấu thành nền kinh tế quốc dân, phản ánh mối quan hệ hữu cơ, những tác
động qua lại giữa các yếu tố kinh tế đó, được thể hiện ra cả về số lượng và
chất lượng, trong những không gian, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể và vận
động hướng vào các mục tiêu nhất định của nền kinh tế.
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003 thì Cơ cấu kinh
tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương
đối ổn định hợp thành. Các bộ phận của nền kinh tế có vị trí, tỷ trọng và
quan hệ tương tác ràng buộc lẫn nhau, luôn luôn vận động hướng vào mục

kinh tế chỉ rõ những lực lượng quan trọng trong việc thực hiện cơ cấu kinh tế
ngành, theo hướng của cơ cấu ngành, các thành phần kinh tế được tổ chức
thực hiện. Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển
dịch đúng đắn trên từng lãnh thổ. Cho nên, việc phân bố lãnh thổ một cách
hợp lý để phát triển ngành và thành phần kinh tế có ý nghĩa hết sức quan
trọng.
Xây dựng được CCKT hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng, thúc đẩy sự
kinh tế phát triển, ổn định tình hình chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi địa
phương. Đó cũng là sự đòi hỏi khách quan của tái sản xuất và tăng trưởng
kinh tế. Nó phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố và lợi thế kinh tế,
xã hội, kỹ thuật cụ thể ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức
sản xuất và quản lý kinh tế. Trên cơ sở đó, khai thác và sử dụng có hiệu quả
nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tiềm năng để phát
triển các vùng, nâng cao đời sống nhân dân, khắc phục tình trạng phát triển
không đều giữa các vùng, các tầng lớp dân cư. Với ý nghĩa đó, sự lãnh đạo,
điều hành kinh tế năng động, nhạy bén của các quốc gia và lãnh đạo các địa
phương có vai trò vô cùng quan trọng nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh
của mình để phát triển kinh tế theo một CCKT hợp lý.
7


Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải thoả mãn được năm yêu cầu cơ bản như
sau:
Thứ nhất, phải phù hợp với các quy luật khách quan mà trước hết là các
quy luật kinh tế cơ bản. Thứ hai, khai thác hợp lý và phát huy được nguồn
lực và tiềm năng của đất nước, từng vùng, từng địa phương, vận dụng khoa
học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Thứ ba, tạo nên sự phát triển cân đối,
phát huy được lợi thế của các vùng, các ngành kinh tế. Thứ tư, tạo nên sự gắn
kết giữa các loại thị trường trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ hợp tác
kinh tế quốc tế. Thứ năm, tạo được tích lũy ngày càng tăng cho nền kinh tế

Sự chuyển dịch CCKT là nội dung cơ bản của tiến trình CNH, là sự
thay đổi vai trò, vị trí công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế
quốc dân, tức là sự thay đổi từ cơ cấu lấy giá trị nông nghiệp truyền thống
làm chủ yếu sang cơ cấu lấy giá trị công nghiệp làm chủ yếu, rồi chuyển sang
cơ cấu lấy giá trị của ngành dịch vụ là chính. Nhờ đó làm chuyển đổi hẳn cơ
chế tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Quá trình thay đổi cấu trúc
về mối quan hệ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo một quy luật nhất
định. Sự thay đổi cơ cấu giá trị từ trạng thái này sang trạng thái khác gọi là
chuyển dịch CCKT. Đây không chỉ đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là thay
đổi về chất trong cơ cấu. Sự chuyển dịch CCKT liên quan đến thay đổi vai
trò của nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong một thời gian tương đối
dài. Những thay đổi này được đánh giá bằng sự thay đổi tỷ trọng GDP hoặc
giá trị sản xuất của các ngành và mức độ huy động lao động. Cùng với sự
phát triển của LLSX và QHSX, CCKT ngày càng biến đổi. Sự chuyển dịch
ấy mang tính quy luật qua các quá trình sau:
Thứ nhất, là sự biến đổi từ cơ cấu kinh tế tự nhiên sang cơ cấu kinh tế
nông nghiệp hàng hóa, rồi sang công nông nghiệp, dịch vụ. Đặc điểm cơ bản
của quá trình này là trình độ phân công lao động xã hội chưa phát triển, nông
nghiệp là ngành chủ yếu trong CCKT. Bộ mặt dân cư tiêu biểu bao gồm nông
dân, công nhân, thương nhân và tư sản, trong đó lực lượng nông dân là chủ
yếu và giảm dần trong quá trình phát triển. Tuyệt đại đa số nhân khẩu tập
trung ở nông thôn. Các hình thức sản xuất, kinh doanh mang tính cá thể, hộ
kinh tế hàng hoá nhỏ và phường hội. Kinh tế hàng hoá chưa phát triển. Kỹ
thuật thủ công, lạc hậu. Năng suất lao động và thu nhập của dân cư thấp.
Thứ hai, là sự biến đổi từ CCKT nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ
sang CCKT công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Đặc điểm cơ bản của quá
trình này là LLSX phát triển mạnh mẽ; khoa học kỹ thuật, kinh tế hàng hoá
và phân công lao động xã hội phát triển; công nghiệp chiếm tỷ trọng tuyệt đối
9


Các nhân tố kinh tế đối ngoại và phân công lao động quốc tế. Trong
môi trường toàn cầu hoá, một nền kinh tế mở sẽ chịu nhiều tác động của các
yếu tố ngoài nước (sự biến động của giá cả thị trường thế giới, sự thay đổi
10


nhu cầu, yếu tố pháp luật, rào cản thương mại…). Sự thay đổi của các yếu tố
này tác động đến việc tiêu thụ sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp đến quy
mô sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các ngành kinh tế và
CCKT.
Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị
trường hiện đại hiện nay, Nhà nước thường trực tiếp tham gia vào điều tiết
nền kinh tế đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Sự quản lý,
điều tiết của Nhà nước được thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế
vĩ mô. Các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố đầu vào và
đầu ra của quá trình sản xuất, do vậy sẽ tác động đến tốc độ phát triển của các
ngành, làm cho CCKT thay đổi.
Tóm lại, sự chuyển dịch CCKT có thể do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan. Trong quá trình phát triển, nếu như không có tác động chủ
quan của con người, của nhà nước thì CCKT vẫn chuyển dịch. Tuy nhiên,
nhà nước có thể chủ động tác động vào CCKT, làm thay đổi cho phù hợp với
những mục tiêu nhất định. Sự tác động của nhà nước nhằm chuyển dịch
CCKT theo định hướng là để đạt được một mô hình cơ cấu có lợi thế so sánh
nhằm nâng cao hiệu quả sự dụng các nguồn lực.
1.2. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong thời kỳ đổi mới
Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng
và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin về CNXH
và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công
nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế, cho nên công nghiệp,

Tư tưởng chủ đạo của các chính sách kinh tế của Đảng tại Đại hội VI là
giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi tiềm năng của đất
nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế để phát triển mạnh mẽ
LLSX. “Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt nền kinh tế - xã hội, tiếp tục xây
dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường tiếp theo”. [18, tr.42]
Một trong những mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội của chặng đường
đầu tiên là tạo ra một CCKT hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông
nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
“Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế
hoạch 5 năm 1985 – 1990, phải thực sự tập trung sức người, sức của vào việc
12


thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu”. [18, tr.47]
Đại hội VI chỉ rõ toàn bộ quá trình xây dựng CNXH, kể cả trong chặng
đường hiện nay không được tách rời công nghiệp với nông nghiệp, không chỉ
coi trọng nông nghiệp hoặc công nghiệp, nhưng ở mỗi giai đoạn, trong từng
chặng đường, vị trí của nông nghiệp và công nghiệp có khác nhau. Trong
chặng đường hiện nay phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp lên một bước sản xuất lớn
XHCN. Đây là cụ thể hoá nội dung chính của CNH xã hội chủ nghĩa trong
chặng đường đầu tiến lên chủ CNXH ở nước ta, là bước đột phá trong tư duy
và nhận thức về chuyển dịch CCKT trong thời kỳ mới của Đảng.
Tiếp tục bước chuyển đó, Hội nghị Trung ương 3, Khoá VI (8/1987) đã
thông qua Nghị quyết “Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc
doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, đổi mới quản lý nhà nước về kinh
tế ”. Ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 NQ10/NQ – TW “Về

Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế xã hội nông thôn,
Hội nghị Trung ương 5, Khoá VII (6/1993) đã ra Nghị quyết “Về tiếp tục đổi
mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” đánh giá thực trạng nông nghiệp,
nông thôn nước ta qua những năm đầu đổi mới và khẳng định: “Trải qua các
thời kỳ cách mạng từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm
quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Công cuộc đổi
mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo những năm qua cũng lấy nông
nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá. Chỉ thị 100 của Ban Bí thư
(Khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng
với các chỉ thị, nghị quyết khác của các đại hội và hội nghị Trung ương các
khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông
thôn nước ta”. [21, tr.53]
Hội nghị Trung ương 7 (Khoá VII) (11/1994) ra Nghị quyết về “Phát
triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng CNH, HĐH đất nước
và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” xác định rõ: “CNH,
HĐH đất nước là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ
công lạc hậu sang lao động sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao
động cao”. [22, tr.65] “Mục tiêu lâu dài của CNH, HĐH là phải biến nước ta
thành một nước có cơ sở vật chất – kĩ thuật hiện đại, có CCKT hợp lý, QHSX
14


tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, mức sống vật chất và tinh
thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã hội công
bằng văn minh”. [22, tr.70]
Nghị quyết đề ra 3 chủ trương lớn phát triển công nghiệp và chuyển dịch
CCKT trong thời gian tới là: CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn,

cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng
ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại… chủ động tham gia cộng
đồng thương mại thế giới…” [23, tr.90-91]
Hội nghị Trung ương 4, khoá VIII ra nghị quyết “Về tiếp tục đẩy mạnh
công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần
kiệm để CNH, HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội đến
năm 2000” đã chỉ rõ những việc cần tập trung thực hiện CNH, HĐH là: Đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch CCKT gắn với phân công lao động ở nông thôn,
giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức
kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của các cơ sở quốc doanh trong nông
nghiệp và nông thôn.
Ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị ra nghị quyết 06-NQ/TW “Về một số vấn
đề phát triển nông nghiệp, nông thôn” khẳng định 4 quan điểm phát triển
nông nghiệp, nông thôn:
“Thứ nhất, Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp
(gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp…) và xây dựng nông thôn, đưa nông nghiệp
và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là cực kỳ quan trọng cả trước mắt và
lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Thứ hai, Đẩy mạnh chuyển dịch CCKT, gắn phát triển nông nghiệp với
công nghiệp chế biến, ngành nghề, gắn sản xuất với thị trường để hình thành
sự liên kết nông - công nghiệp - dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông
thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông
thôn mới; gắn CNH với thực hiện dân chủ hoá và nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực ở nông thôn; tạo ra sự phân công lao động mới, giải quyết việc làm,
nâng cao đời sống, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về mức
sống giữa thành thị và nông thôn.
Thứ ba, Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh các
tiến bộ khoa học, công nghệ để phát triển nông nghiệp hàng hoá đa dạng, đáp

CCKT, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so
sánh của đất nước, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước; nhu cầu
đời sống nhân dân và quốc phòng an ninh, tạo thêm sức mua của thị trường
trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu”.
[25, .tr26]
Đại hội IX chủ trương phải ưu tiên phát triển LLSX đồng thời xây
dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN, phát triển kinh tế đi đôi với
17


với phát triển văn hoá – xã hội, tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn
lực cần thiết để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; đồng thời
chỉ rõ những định hướng lớn về chính sách để thực hiện nhiệm vụ này đến
năm 2010. “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, ổn định và cải thiện đời
sống nhân dân. Chuyển dịch mạnh CCKT, cơ cấu lao động theo hướng CNH.
Nâng cao rõ rệt kết quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. [25, tr.90]
Hội nghị Trung ương 5 khoá IX (18/3/2002) đã ra Nghị quyết “Về đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 2010” đã chỉ rõ nội dung tổng quát CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn:
“CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường,
thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa
học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công
nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường.
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng
tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ,
giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ
tầng, kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh
thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng QHSX phù hợp; xây dựng nông thôn
dân chủ, công bằng, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và

Chương Mỹ, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thanh Trì). Toàn tỉnh có 105 tổng và
820 xã.
Năm 1965, theo Nghị quyết số 103NQ-TVQH ngày 21/4/1965, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành đơn
vị hành chính mới là Hà Tây, gồm 16 huyện, 2 thị xã, 311 xã, thị trấn. Diện
tích toàn tỉnh là 2.196,3 km2, dân số 1.298.537 người.
Năm 1976, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá VI, quyết định sáp nhập hai
tỉnh Hà Tây và Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình gồm 24 huyện, 3 thị xã,
519 xã, phường thị trấn. Diện tích toàn tỉnh là 6.726,8 km2, dân số 2.005.700
người. Năm 1979, chuyển 5 huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan
Phượng, Hoài Đức, và thị xã Sơn Tây sáp nhập vào Hà Nội.
Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá VIII quyết định chia
tách tỉnh Hà Sơn Bình thành hai đơn vị hành chính là tỉnh Hà Tây và Hoà
Bình, định lại ranh giới của Hà Nội. Hà Nội chuyển trả lại cho Hà Tây các
huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn
Tây.
19


Theo Quyết định của Chính phủ thì đơn vị hành chính tỉnh Hà Tây gồm
có 2 thành phố Hà Đông và Sơn Tây; 12 huyện là Ba Vì, Phúc Thọ, Đan
Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường
Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà, Mỹ Đức; gồm 295 xã, 27 phường, thị trấn.
Đến ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết số 15/2008/QH12 Về việc điều
chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một số tỉnh liên quan đã hợp
nhất toàn bộ diện tích tự nhiên là 219.341,11 ha với dân số là 2.568.007
người của tỉnh Hà Tây vào thành phố Hà Nội.
Trong phạm vi gianh giới của tỉnh cho đến nay đã có nhiều lần thay đổi
về địa lý hành chính các huyện, thị xã, thị trấn, xã phường theo thời gian để

ở các vùng trũng trong đê.
Về tài nguyên đất: Vùng đồng bằng có các loại đất: đất phù sa được bồi:
17.030 ha (8%), đất phù sa không được bồi: 51.392 ha (24%), đất phù sa
Gley: 51.551 ha (24%). Vùng đồi núi gồm các loại đất chủ yếu: đất nâu vàng
trên phù sa cổ 20.603 ha (10%), đất đỏ vàng trên đá phiến sét 10.783 ha, đất
nâu đỏ và mùn đỏ vàng trên đá macma bazơ và đất nâu đỏ trên đá vôi. Nhìn
chung đất có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên có thể bố trí được nhiều
loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, cây công nghiệp, đồng cỏ
chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng với các hệ thống canh tác có tưới hoặc không
tưới.
Về tài nguyên nước: Được sông Hồng bọc ở phía đông, sông Đà ở phía
bắc và các sông nội địa khác phân bố đều trong lãnh thổ với mật độ khá cao.
Với lượng nước sơ bộ hàng năm khoảng 180 – 200 tỷ m³. Theo đó là tài
nguyên phù sa sông Hồng và sông Đà khoảng 170 triệu tấn/năm. [87, tr.8]
Nhìn chung, tài nguyên nước dồi dào cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh
hoạt, nếu xây dựng được hệ thống cấp thoát nước hoàn chỉnh để lấy nước
sông và giữ nước mùa mưa, cấp nước mùa khô. Phù sa sông là nguồn dinh
dưỡng quan trọng để cải tạo đất và tăng năng suất cây trồng.
Tài nguyên khoáng sản: Hà Tây có một số khoáng sản chính sau: đá vôi
(Mỹ Đức, Chương Mỹ), đá granit (Chương Mỹ), sét (Chương Mỹ, Thạch
Thất, Quốc Oai), cao lanh (Ba Vì, Quốc Oai), vàng gốc và sa khoáng (Quốc
Oai, Chương Mỹ), đồng (Ba Vì), abet (Ba Vì), đôlômít (Quốc Oai), nước
khoáng (Ba Vì) với chất lượng và trữ lượng cho phép khai thác và chế biến ở
quy mô công nghiệp vừa và lớn.
Về tài nguyên cảnh quan, lịch sử, du lịch:

21


Theo thống kê của Bộ văn hoá thì Hà Tây (cũ) là tỉnh đứng thứ 3 trong

HĐH.
22


Hà Tây có điều kiện trao đổi lưu thông hàng hoá với các tỉnh trung du,
miền núi phía bắc, các tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng và các tỉnh phía nam.
Đồng thời, Hà Tây có tuyến phòng thủ phía đông nên có vị trí đặc biệt quan
trọng đối với an ninh quốc phòng.
Khó khăn thách thức của Hà Tây trong thời kỳ đổi mới, CNH, HĐH là
sự cạnh tranh mạnh mẽ về kinh tế của các trung tâm công nghiệp lớn như Hà
Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh; các trung tâm mới nổi như Vĩnh Phúc, Hưng
Yên, Hải Dương, Bắc Ninh. Cơ sở hạ tầng thấp kém, 90% doanh nghiệp
trung ương, địa phương có trình độ kỹ thuật trung bình và lạc hậu, năng suất
và hiệu quả thấp. Đất chật, người đông, tốc độ tăng dân số còn cao gây sức ép
lớn về việc làm, thu nhập và các vấn đề xã hội. GDP đầu người thấp, là tỉnh
chưa cân bằng được ngân sách. Du lịch là thế mạnh của Hà Tây song, cần
phải đầu tư lớn vào cơ sở vật chất, cảnh quan, môi trường sinh thái, cần phải
xây dựng các tour du lịch với các hình thức, nội dung hấp dẫn trong khi rất
thiếu vốn…
1.3.2. Những chủ trương, giải pháp chính lãnh đạo chuyển dịch cơ
cấu kinh tế (1991 – 1995)
Thực hiện chủ trương của Bộ chính trị, Hà Tây được phân định lại địa
giới hành chính từ 1/10/1991, toàn tỉnh có 12 huyện, 2 thị xã với tổng diện
tích là 214300 ha, dân số 2,1 triệu người.
Đánh giá về thực trạng kinh tế - xã hội thời kỳ 1986 - 1991, Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII nhận định: Tình hình địa phương có những
chuyển biến đáng kể trên các mặt, lương thực, thực phẩm tăng khá, hàng tiêu
dùng phong phú, đa dạng hơn trước. Cơ sở vật chất phục vụ nông thôn, nông
nghiệp được tăng cường. Thực hiện đổi mới quản lý kinh tế, phát triển kinh tế
nhiều thành phần đạt được một số kết quả bước đầu. Thực hiện các chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status