TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
********* NGUYỄN HỒNG HẠNH
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NỀN VĂN HÓA TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ
BẢN SẮC DÂN TỘC TỪ NĂM 1986
ĐẾN NĂM 2001
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
PGS. TS. VŨ QUANG VINH
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, các nguồn tài liệu trích dẫn
có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng. Khóa luận được hoàn thành dựa trên sự kế
thừa, bổ sung từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Em xin cam đoan những điều
trên là đúng sự thật.
Hà Nội, ngày 4 tháng 5 năm 2014
Tác giả khóa luận
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 3
5. Đóng góp của khóa luận 3
6. Về kết cấu khóa luận 4
Chƣơng 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996 5
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG
2.2.3. Xây dựng và phát triển văn học - nghệ thuật, thông tin đại chúng
theo tiêu chí tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 50
2.2.4. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa” 52
Chƣơng 3: MỘT SỐ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KINH
NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA (1986 - 2001) 57
3.1. MỘT SỐ THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CƠ BẢN 57
3.1.1. Thành tựu 57
3.1.2. Hạn chế 60
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 64 3.2.1. Đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, kịp thời hoạch
định đường lối văn hóa, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới là yếu
tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển 64
3.2.2. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đi đôi với không
ngừng tiếp biến văn hóa toàn nhân loại là vấn đề cốt lõi để xây dựng và
phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới 65
3.2.3. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa là động lực quan
trọng thúc đẩy văn hóa phát triển mạnh mẽ và toàn diện 69
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 1
MỞ ĐẦU
đến năm 2001” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng văn hóa là nội dung quan trọng trong công cuộc đổi mới đất
nước và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước hiện nay. Vì vậy
vấn đề này đã được đề cập trong nhiều công trình với các góc độ khác nhau:
Về sách có: Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới (Hồ Sĩ Vịnh,
1999); Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc (Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, 2001); Nhận diện văn hóa Việt Nam
và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX (Đỗ Huy Công, 2002); Quá trình hình
thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (Đào Duy Tùng, 2004);
Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (Phạm Minh Mạc, Nguyễn Khoa Điềm chủ biên, 2003); Văn hóa và
đổi mới (Phạm Văn Đồng, 1994)…
Về các bài trong tạp chí: “Giữ gìn bản sắc dân tộc – một vấn đề của
toàn xã hội” (Nguyễn Khắc Khánh – Tạp chí Lịch sử Đảng số 9 – 2996);
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, những nhận thức mới về quan điểm chỉ đạo và giải pháp thực hiện
(Hoàng Chí Bảo – Tạp chí Lịch sử Đảng số 9 – 2013);…
Các tài liệu ít nhiều đề cập đến vấn đề xây dựng đời sống văn hóa nước
ta trong thời kỳ 1986 – 2001, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình
nào trình bày một cách có hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về xây
dựng văn hóa một cách toàn diện, cả những thành công và những tồn tại, cũng
như các kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
xây dựng văn hóa thời kỳ này.
3
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Làm rõ quá trình lãnh đạo, xây dựng văn hóa của Đảng từ năm 1986
đến 2001.
Trình bày các phong trào xây dựng đời sống văn hóa của nhân dân dưới
khóa luận được chia làm ba chương:
Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa từ năm 1986
đến năm 1996
Chương 2: Đảng lãnh đạo Xây dựng và phát triển văn hóa thời kỳ đầu
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 –
2001)
Chương 3: Một số thành tựu, hạn chế và kinh nghiêm trong quá trình
Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển nền văn hóa trong
thời kỳ đổi mới (1986 – 2001)
5
Chƣơng 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HÓA TRƢỚC ĐỔI MỚI
Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam về văn hóa được hình thành trên cơ sở các quan điểm văn hóa mác-xít
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khởi nguồn quan niệm mác-xít về văn hóa là
những quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen xem văn hóa như là hình thức
biểu hiện và là kết quả của hoạt động lao động của con người. Theo quan
niệm của C. Mác, văn hóa là toàn bộ những thành tựu được tạo ra nhờ hoạt
cộng sản phải hoạt động” [16, tr.316].
Cùng với cách nhìn rộng mở về văn hóa như Đề cương về văn hóa Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã nêu lên một khái niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn”[30, tr.438].
Cùng với việc chỉ rõ nội hàm của văn hóa, Người phân tích và luôn
nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội.
7
Nếu trước năm 1945, Người nói về văn hóa theo nghĩa rộng thì sau Cách
mạng tháng Tám thành công, đất nước ta bước vào xây dựng chế độ mới và
cuộc sống mới, văn hóa được Người xác định là đời sống tinh thần của xã hội,
thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội. Văn hóa được đặt ngang hàng với
chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành những vấn đề chủ yếu của cách mạng.
Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Người lãnh đạo
nhân dân xác lập cơ sở hạ tầng mới để thực hiện mục tiêu mà cách mạng văn
hóa Đông Dương phải thực hiện là văn hóa xã hội chủ nghĩa. Năm 1957,
Người xác định: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó
khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới
xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để
những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn
năm Chúng ta phải biến một xã hội dốt nát, cực khổ thành một nước văn
hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” [31, tr.493-494].
Trong công cuộc xây dựng xã hội mới, Người chỉ rõ: “Để phục vụ sự
nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội
dung và dân tộc về hình thức” [32, tr.60]. Nội dung xã hội chủ nghĩa của văn
hoảng kinh tế - xã hội, sản xuất tăng chậm, kinh tế mất cân đối nghiêm trọng,
lưu thông phân phối rối ren, chủ nghĩa bình quân xác lập các chuẩn mực giá
trị văn hóa. Các hiện tượng tiêu cực phát triển, văn hóa đạo đức sa sút, văn
hóa pháp luật yếu kém, kỷ cương không nghiêm, công bằng xã hội bị vi
phạm. Trước tình hình đó, đổi mới trở thành yêu cầu bức thiết và là vấn đề có
tầm quan trọng sống còn của cách mạng nước ta.
9
Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng chủ trương đổi mới tư duy lý luận về văn
hóa khi xác định: “Mỗi hoạt động văn hóa văn nghệ đều phải tính đến hiệu
quả xã hội, tác động tốt đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ
thẩm mỹ của nhân dân” [7, tr.91]. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chỉ rõ
nhiệm vụ của cách mạng văn hóa những năm đổi mới là: xây dựng một nền
văn hóa, văn nghệ xã hội chủ nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ trương tính
đến hiệu quả xã hội trong mỗi hoạt động văn hóa và quan điểm xây dựng nền
văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc là quá trình bổ sung và không ngừng phát
triển đường lối văn hóa. Đó là sự đổi mới bước đầu trong đường lối văn hóa
của Đảng.
Ngày 28-11-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 05/NQ-TW Về đổi
mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa,
phát huy khả năng sáng tạo đưa văn hóa, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên
một bước mới.
Nghị quyết khẳng định: Văn hóa là bộ phận trọng yếu của cuộc cách
mạng tư tưởng văn hóa, là một lực lượng mạnh mẽ, đồng thời là mục tiêu lớn
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Văn hóa là nhu cầu thiết yếu
trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một
đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo ra những giá trị văn
hóa, những công trình nghệ thuật được lưu truyền từ đời này sang đời khác,
làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” [3, tr.47]. Từ nhận thức đó, Đảng
chỉ rõ: “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn hóa, văn nghệ là
yếu tố có ý nghĩa quyết định để khai thác mọi tiềm năng sáng tạo, phát triển
chống tiêu cực.
11
Công tác sưu tầm, tôn tạo các di sản văn hóa được chú ý. Bộ Văn hóa -
Thông tin đã tiến hành lập hồ sơ, xếp hạng các di tích lịch sử, văn hóa, cách
mạng và danh thắng tại nhiều địa phương trong cả nước. Nhiều đền chùa,
miếu phủ được sửa chữa, tôn tạo do sự đóng góp của nhân dân. Tuy nhiên,
một số nơi có tình trạng lợi dụng lễ hội để buôn thần bán thánh và khôi phục
tệ mê tín, dị đoan.
Bên cạnh những tìm tòi, trăn trở, hoạt động văn hóa - nghệ thuật những
năm đầu đổi mới vẫn còn nhiều hạn chế bất cập. Đó là sự thiếu quan tâm của
không ít các ngành, các địa phương đối với việc tôn tạo, giữ gìn các di sản
văn hóa dân tộc. Tình trạng mê tín, dị đoan trong nhân dân vẫn phát triển.
Nhiều phong tục, tập quán lạc hậu ở các địa phương, nhất là vùng đồng bào
các dân tộc thiểu số như: cúng ma, tảo hôn chưa bị bị đẩy lùi. Hoạt động văn
hóa, văn nghệ chưa hướng nhiều đến cơ sở, nhất là ở nông thôn, miền núi, hải
đảo và vùng căn cứ cách mạng.
Trong sáng tác văn học, nghệ thuật và trong một số bài phát biểu của văn
nghệ sĩ đã xuất hiện một số quan điểm mơ hồ, lệch lạc về chính trị và đường
lối. Trong hoạt động văn hóa và biểu diễn nghệ thuật xuất hiện xu hướng
thương mại hóa. Một số nhà xuất bản, tờ báo vì lợi nhuận đã chạy theo thị hiếu
tầm thường của một bộ phận công chúng để cho ra đời những ấn phẩm chất
lượng kém. Tình trạng đầu nậu sách khả phổ biến. Kinh doanh văn hóa phẩm
nhiễu loạn. Văn hóa phẩm phản động, đồi trụy lan tràn trên thị trường.
Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do sự lãnh đạo, quản lý văn
hóa - nghệ thuật còn nhiều lúng túng, sơ hở, thiếu bao quát. Cơ chế lãnh đạo,
quản lý chậm đổi mới, thiếu đồng bộ và chưa theo kịp yêu cầu phát triển của
văn hóa - văn nghệ trong tình hình mới. Trong lãnh đạo, quản lý còn tình
trạng buông lỏng, cấm đoán tùy tiện, đồng thời chưa nắm chắc mối quan hệ
12
biện chứng giữa định hướng và tạo điều kiện cho sự sáng tạo, phổ biến tác
đối với ý thức, tinh thần và bản sắc văn hóa dân tộc. Trên lĩnh vực văn hóa,
xuất hiện những khuynh hướng không lành mạnh, những phản văn hóa, phản
giá trị, tác động xấu đến con người và văn hóa dân tộc, làm nảy sinh nguy cơ
phá hoại những giá trị nhân bản, những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân
tộc. Thực trạng đó là những thách thức to lớn đối với Đảng và nhà nước trong
việc xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới.
Tiếp nối tư duy đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết số
05 của Bộ Chính trị, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII của Đảng (1991), xác
định: kinh tế và văn hóa là hai mặt tác động qua lại lẫn nhau nhằm "xây dựng
một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người"
[10: tr.10], từng bước vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh. Từ nhận thức đó, Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản
Việt Nam chỉ rõ: Tiếp tục xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt
Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại.
Chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc là kết quả của quá trình bổ sung và không ngừng hoàn chỉnh đường
lối văn hóa của Đảng qua các kỳ Đại hội III, IV, V, VI. Trong đường lối văn
hóa, văn nghệ được xác định tại Đại hội lần thứ VII của Đảng, vấn đề trung tâm
của nền văn hóa mới là chú trọng phát triển mọi mặt: trí, đức, thể, mỹ, tình cảm,
thị hiếu của nhân cách hướng tới hình thành một môi trường văn hóa lành mạnh
nhằm góp phần “Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, xây dựng
nền văn hóa mới, lối sống mới, con người mới” [9, tr.36].
14
Những chủ trương, đường lối văn hóa được xác định trong Nghị quyết
Đại hội VI, VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho văn hóa,
văn nghệ phát triển. Tuy nhiên, trong những năm đầu thập kỷ 90, tình hình
văn hóa, văn nghệ có nhiều diễn biến phức tạp: lối sống chạy theo đồng tiền,
thị hiếu không lành mạnh và những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan tăng nhanh;
Những nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng về vấn đề văn hóa
trong những năm 1991-1996, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với
việc phát triển nền văn hóa dân tộc. Cùng với những đổi mới trên lĩnh vực
kinh tế, xã hội, quân sự, ngoại giao… tư duy lý luận về văn hóa của Đảng
cũng từng bước được đổi mới nhằm định hướng cho các hoạt động văn hóa
phát triển lành mạnh, phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc và từng
bước làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.
1.3. QUÁ TRÌNH ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
NỀN VĂN HÓA TRONG NHỮNG NĂM 1991 - 1996
Quán triệt nội dung các văn kiện được thông qua tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã cụ thể hóa đường lối văn hóa của Đảng thành
những nội dung cụ thể:
1. Khẳng định và đề cao vai trò, vị trí của văn hóa. Văn hóa có chức
năng góp phần bồi dưỡng nhân cách và tinh thần cao đẹp của con người Việt
Nam, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế
chân chính, hữu nghị và hợp tác, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia
đình văn hóa, hạnh phúc.
2. Nhà nước chủ trương bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam, các di
sản văn hóa dân tộc, những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư
tưởng đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
16
cấm truyền bá tư tưởng văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín và các hủ
tục lạc hậu.
3. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm các
hoạt động văn hóa làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo
đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.
Ngày 19-1-1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về
Một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật.
Quyết định nêu rõ: Từ năm 1993 về sau, Nhà nước dùng kinh phí đầu tư cho
đặc biệt là sự chống phá quyết liệt trên mặt trận tư tưởng của các thế lực thù
địch cùng những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội trong nước, một số
cán bộ, đảng viên dao động, giảm sút niềm tin. Trong xã hội, tư tưởng thực
dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân
dân xa rời lý tưởng, sa sút phẩm chất, đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu,
làm giàu bất chính và nhiều tệ nạn xã hội phát triển mạnh. Trong khi đó, công
tác tư tưởng chưa kịp thời phê phán những quan điểm sai trái và uốn nắn
những lệch lạc, chưa tạo ra được một phong trào quần chúng hành động cách
mạng sôi nổi. Việc lý giải nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn thiếu thuyết phục.
Ngày 18-2-1995, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 09-NQ/TW Về một số
định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay. Nghị quyết nêu 6 định
hướng về công tác tư tưởng, trong đó có định hướng: “Phát triển văn hóa; giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại”. Những định hướng về công tác tư tưởng là những nguyên tắc cơ
bản chỉ đạo công cuộc đổi mới theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với việc chú trọng xây dựng tư tưởng, Đảng đặc biệt quan tâm
đến xây dựng đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh trong Đảng và trong xã
18
hội. Việc chú trọng xây dựng đạo đức, lối sống là sự tiếp nối tư tưởng của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng đạo đức,
lối sống mới.
Sau 10 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội
chủ nghĩa đã tạo nên những chuyển biến tích cực đến tư tưởng, chính trị, đạo
đức và lối sống của xã hội ta: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
được vận dụng và phát triển sáng tạo ngày càng tỏ rõ giá trị bền vững làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng
nước ta. Qua thực tiễn công cuộc đổi mới, đa số cán bộ, đảng viên và nhân
dân hiểu biết sâu sắc hơn những vấn đề cơ bản của đường lối đổi mới. Vì
vậy, niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào công cuộc đổi mới, vào
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được
nước, trong đó có Chương trình chống xuống cấp di tích. Mục tiêu của
chương trình là tôn tạo, tu sửa, nâng cấp di tích, trong đó chủ yếu là di tích
lịch sử và cách mạng. Năm 1994, Nhà nước cấp 23,650 tỷ đồng, năm 1995
28,278 tỷ đồng. [1: tr.49].
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tích cực, chủ động của các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nên trong những năm 1991-1996 nhiều
di tích được bảo tồn như: Chùa Một Cột (Hà Nội), Chùa Keo (Thái Bình),
Đền Hùng (Phú Thọ), Cố đô Huế, các Tháp Chàm miền Trung, địa đạo Vĩnh
Mốc (Quảng Trị),
Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước chủ trương phục hồi, phát triển các lễ
hội truyền thống. Những lễ hội ở mọi vùng miền của đất nước là sinh hoạt
văn hóa đặc sắc của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong những năm